| Randall Collins: xă hội học về đấng tối cao
Bùi Thế Cường
Tạp chí Khoa học xă hội
Tôn giáo là một hiện tượng xă hội đầy bí ẩn, đồng hành với các xă hội người suốt từ buổi ban đầu đến thời hiện đại hôm nay. Đă có vô số cách lư giải về tôn giáo, nhưng người ta vẫn không thôi đặt ra câu hỏi tôn giáo là ǵ. Trong cuốn sách Sociological Insight. An Introduction to Non- Obvious Sociology xuất bản năm 1992, Randall Collins tóm tắt rất súc tích một cách hiểu xă hội học về tôn giáo. Đước đây là lược thuật và biên dịch một đoạn ngấn trong cuốn sách nói trên. Bài biên dịch lược thuật này là sản phẩm của đề tài KX.02.l0 '"Các vấn đề xă hội và môi trường của quá tŕnh công nghiệp hóa hiện đại hóa" (2001-2005). Nó cũng đă được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho môn học "Triết học và phương pháp luận nghiên cứu xă hội" (PMSR) thuộc chương tŕnh cao học Viện Xă hội học năm 2003 - 2005, và môn học "Lịch sử xă hội học" (HoS) thuộc Chương tŕnh cao học Khoa Xă hội học, Trường Đại học Khoa học Xă hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006. Tên các tiểu mục là do người biên dịch đặt để bạn đọc dễ theo dơi. Dĩ nhiên phải ghi nhận rằng đây chỉ là một trong nhiều cách cắt nghĩa về tôn giáo, dùng để tham khảo và đối chiếu với nhau.
Con đường t́m hiểu tôn giáo của xă hội học
Vốn có hai quan điểm về tôn giáo, bất kể ta có tin vào tôn giáo hay không. Một, tôn giáo là hiện thực tối cao vượt lên mọi khách thể nghiên cứu của xă hội học. Hai, tôn giáo là một sự mê tín phi lư về những sự việc không tồn tại. Phần lớn các nhà tư tưởng xă hội có quan điểm thứ hai. Các nhà vị lợi và cải cách hợp lư có xu hường xem tôn giáo là một động lực phi lư, lạc hậu. Nó là nguồn gốc của mê tín, niềm tin vào một thế giới vô h́nh của các hồn ma. Các nhà làm luật nói đến tôn giáo như là một thiết chế của Ṭa án tôn giáo và những kẻ săn t́m người dị giáo, thiếu người trên dàn lửa do niềm tin tôn giáo của họ hoặc do bị coi là phù thủy. Những người cấp tiến th́ xem tôn giáo là kẻ duy tŕ hiện trạng, một loại môi giới của giai cấp thống trị có chức năng làm cho người dân chấp nhận t́nh trạng bất công về kinh tế và chính trị để đổi lấy một cuộc sống hứa hẹn trên thiên đường sau khi chết. Các nhà trí thức duy lư cho rằng chẳng có căn cứ ǵ, tôn giáo chỉ là một tàn tích của thời Trung cổ, rồi sẽ mất hẳn khi xă hội hiện đại hóa. Có một thời điều tin tưởng này có vẻ đúng, nhưng rồi người ta lại chứng kiến sự hồi sinh mạnh mẽ của tôn giáo, ngay cả ở những xă hội công nghiệp phát triển cao.
Nhà xă hội học không chấp nhận cả hai quan điểm trên về tôn giáo, mà đưa ra cách quan niệm và lư giải khác hẳn. Emile Durkheim xây dựng một lư thuyết về tôn giáo, theo đó điểm then chết của tôn giáo không phải là niềm tin của nó mà là những nghi lễ xă hội mà các tín đồ thực hiện. Tôn giáo là ch́a khóa của sự đoàn kết xă hội, các niềm tin tôn giáo là quan trọng nhưng không phải ở chính bản thân chúng mà ở chỗ chúng là biểu trưng của các nhóm xă hội.
Về mặt xă hội học, tôn giáo có ư nghĩa ở chỗ nó là ví dụ tuyệt vời về việc một hiện tượng phi hợp lư nhưng lại đóng một vai tṛ căn bản trong đời sống xă hội. Lư thuyết xă hội học về tôn giáo cho phép ta hiểu nghi lễ xă hội và cái cách thức mà nghi lễ xă hội tạo ra t́nh cảm đạo đức cũng như các ư tưởng mang tính biểu trưng, vượt ra khỏi phạm vi hiểu về tôn giáo, lư thuyết xă hội học về tôn giáo c̣n giúp ta hiểu về chính trị và hệ tư tướng, về tiến tŕnh đoàn kết mà lại tạo ra xung đột giữa các nhóm. Thậm chí nó c̣n giúp ta hiểu về những cơ sở của sự thế tục riêng tư trong đời sống hiện đại. Nghi lễ xă hội là cái ǵ đó phổ quát, thấm trong mọi ngóc ngách của đời sống hiện đại, hệt như nó đă từng là như vậy trong mọi thời, chỉ có các h́nh thái và sự sấp xếp của các nghi lễ là thay đổi mà thôi.
Cơ sở chung của các tôn giáo
Giả thuyết cơ bản của Durkheim là tôn giáo biểu hiện cho một cái ǵ đó có thực. Không có lư ǵ để tin rằng có tồn tại một Đấng tối cao siêu tự nhiên, siêu việt. Thế nhưng làm sao mà con người trong suốt chiều dài lịch sử lại rơi vào một sai lầm như vậy? Một cái ǵ đó mà con người đă tin một cách mạnh mẽ như thế th́ không thể nào lại dựa trên một lập luận sai lầm. Phải có một cái ǵ đó tương ứng với những niềm tin tôn giáo, một cái ǵ đó có thực mà con người t́m thấy một cách biểu trưng dưới cái vỏ của Đấng tối cao. Con người bao giờ cũng xem Đấng tối cao là đầy sức mạnh hơn mọi người b́nh thường. Vậy, cái mà tôn giáo phản ánh phải là một cái ǵ đó mạnh hơn các cá nhân.
Để có thể hiểu được tôn giáo phản ánh cái ǵ, trước hết người ta có thể sử dụng phương pháp so sánh: cái ǵ là chung ở mọi tôn giáo? Các tôn giáo đều rất khác nhau về vấn đề Đấng tối cao: (những) người ấy là ai, tên là ǵ, như thế nào. Thế nhưng mọi tôn giáo có hai điểm chung. Một, những niềm tin chủ yếu mà mọi tín đồ cùng chia sẻ. Hai, những nghi lễ cơ bản mà các tín đồ cùng tiến hành một cách tập thể.
Niềm lin tôn giáo cơ bản là ở chỗ cho rằng thế giới này chia thành hai mảng (phạm trù): cái thiêng và cái thông (trần) tục. Những sự vật thiêng th́ có thể là bất kỳ cái ǵ, tùy thuộc vào mỗi tôn giáo cụ thể: linh hồn, đấng lối cao vô h́nh, những con thú hoặc cây cối, cây thập tự, cuốn sách thiêng,... Đặc trưng của những vật thể hiện cái thiêng là ở chỗ chúng là cực kỳ quan trọng, đáng sợ: người ta phải tiếp cận với chúng một cách đầy nghiêm cẩn, kính sợ, có sự chuẩn bị. Ngược lại, những vật trần tục tạo nên toàn bộ phần c̣n lại của thế giới. Như vậy, niềm tin tôn giáo cơ bản là ở tính nhị nguyên của cái thiêng và cái trần tục.
Song song với niềm tin tôn giáo cơ bản là hành động tôn giáo cơ bản, đó là nghi lễ. Một nghi lễ là cái ǵ đó rất khác với hành vi thông thường. Một hành động thực tế thông thường có thể làm theo nhiều cách. Nhưng nghi lễ th́ lại là hành vi được quy định rất chặt chẽ. Nghi lễ không phải là phương tiện để đạt được một mục tiêu trong tương lai, h́nh thức của nghi lễ là chính mục tiêu của nó. Nó sẽ là đầy ư nghĩa nếu được làm một cách đúng đắn. sẽ chẳng có nghĩa ǵ nếu bị làm sai.
Như vậy, tôn giáo được tạo thành từ niềm tin và nghi lễ, cả hai liên quan với nhau. Các nghi lễ là những thủ tục mà con người phải tự thực hiện với sự có mặt của những vật mà họ tin là thiêng. Ngược lại, hành vi thông thường. không có tính nghi lễ được làm với sự có mặt của những cái được xem là trần tục. Xă hội học của Durkheim đặt ưu tiên chú ư vào nghi lễ chứ không phải vào niềm tin. Việc tiến hành đúng đến nghi lễ là điều sẽ tạo ra niềm tin vào cái thiêng.
Cái thiêng là xă hội
Một câu hỏi lư thú là làm thế nào mà con người lại phát hiện (hay phát minh) ra được sự khác biệt giữa cái thiêng và cái trần tục? Và v́ sao mà lại có một xu hướng gần như là phổ quát ở mọi tộc người trong việc chia thế giới ra thành hai phần như thế?
Không có một cơ sở nào trong thế giới tự nhiên tạo điều kiện cho việc đó, mọi vật trong thế giới vật lư đều cùng ở một cấp độ. Nhưng có một hiện thực mà nó có mọi đặc trưng mà con người gắn vào với cái thiêng liêng: đó không phải là tự nhiên, cũng chẳng phải là cái siêu h́nh, đó chính là bản thân xă hội. Xă hội là một động lực lớn hơn mọi cá thể. Nó ban cho ta sự sống, nhưng cũng chính nó có thể khiến ta chết. Nó có quyền lực vô biên trên chúng ta. Mọi người đều phụ thuộc vào nó theo vô số cách thức. Toàn bộ thế giới vật chất và biểu trưng là do xă hội đem lại cho ta. Mọi thiết chế mà ta sống trong đó là của xă hội. Đây chính là cái chân lư căn bản mà tôn giáo thể hiện. Đấng tối cao là biểu tượng về xă hội.
Xă hội bên ngoài ta mà cũng ở bên trong ta
Như vậy, cảm nhận rằng có một cái ǵ đó tồn tại bên ngoài ta, đầy quyền năng. nhưng lại không phải là một phần của cái thế giới vật thể thông thường mà ta có thể thấy bằng mắt thường, cảm nhận ấy không phải là một ảo tưởng. Thêm nữa, cái ǵ đó như thế cảm nhận về sự phụ thuộc của ta vào xă hội, tồn tại đồng thời cả bên ngoài và bên trong ta. Trong mọi tôn giáo bao giờ cũng có một sự kết nối giữa thế giới thiêng bên ngoài ta với cái ǵ đó thiêng bên trong ta. Đấng tối cao vừa ở bên ngoài đồng thời vừa ở bên trong. Những tôn giáo phát triển có khái niệm linh hồn của con người thuộc về Đấng tối cao. Trong mọi tôn giáo ở các bộ lạc nguyên thủy cũng có một sự kết nối tương tự: mọi thành viên bộ lạc đều được đồng nhất với totem. Nếu con vật thiêng của một thị tộc Úc là kangar, th́ mọi thành viên của thị tộc đó, bằng cách này hay cách khác, đều cảm thấy họ cũng là những con kangaroo. Niềm tin ấy cũng tương thích với cái ǵ đă có thực: mọi chúng ta đều là một phần của xă hội, xă hội chỉ có thể tồn tại trong khối tập hợp bởi chúng ta.
|