| ||||
| Chúng ta cũng không nên chỉ trích những truyền thống khác khi những truyền thống đó xữ dụng những từ ngữ không giống với từ ngữ mà chúng ta xữ dụng. Một từ ngữ có thể có những hàm nghĩa khác nhau trong những truyền thống khác nhau. Nếu chúng ta không nhớ điều thực tế nầy th́ chúng ta có thể đọc một quyển kinh sách của một truyền thống khác rồi nhận thức một từ vựng nào đó theo truyền thống của chúng ta. Làm như vậy chúng ta sẽ làm sai lạc ư nghĩa thực sự của từ ngữ đó. Làm như vậy th́ tất nhiên là những giáo lư chứa trong quyển sách mà ta đọc không thể hiển lộ ra một nghĩa lư ǵ cả. Ngược lại, nếu chúng ta chịu khó t́m học để có một kiến thức rộng răi th́ chúng ta sẽ hiễu được ư nghĩa đích thực của từ ngữ đó trong văn cảnh đặc biệt của riêng nó và nhận ra rằng những truyền thống tuy khác nhau nhưng cùng hướng đến một chổ giống nhau. Đề cập đến sự khác biệt của từ vựng được dùng trong 4 giáo phái Phật Giáo Tây-tạng (Nyingma, Kargyu, Gelu and Sakya) để diễn đạt trạng thái tối hậu trên con đường tu tiến, Đức Đạt-lai Lạt-ma trong tác phẩm Ḷng Từ, Sự Sáng Suốt và Trí Tue䠦#273;ă viết, "Khi đă vượt thoát được ngục tù của đầu óc cục bộ rồi th́ chúng ta sẽ nhận ra rất nhiều điều mới lạ, thú vị và làm thức dậy trí năng vô tận đang tiềm tàng trong bản thân của chúng ta. Chúng ta sẽ thấy được những bộ phái khác nhau đều được xây dựng trên một nền tảng tư tưởng căn bản như nhau." Những lời thệ nguyện của một vị Bồ-tát và những lời thệ nguyện theo truyền thống Kinh Cang Thừa đều chứa đựng những lời ngăn cấm không cho hành giả khinh thị bất cứ một lời dạy nào của Đức Phật. Kinh Tổng Nhiếp có dạy: "Nầy Văn-thù-sư-lợi, người nào xem một số lời dạy nầy của Như Lai là tốt đẹp và xem một số lời dạy khác của Như Lai là không tốt đẹp thời người đó đă hủy báng Chánh Pháp. Người nào nói rằng lời dạy nầy là hợp lư, lời dạy kia là phi lư... hoặc lời dạy nầy dành cho bậc Bồ-tát mà thôi, lời dạy kia mới dành cho thính chúng... hoặc lời dạy nầy là lời dạy mà vị Bồ-tát không cần phải tu tập theo thời người đó đă hủy báng Chánh Pháp." Phật Giáo và Những Tôn Giáo Khác Những vị lănh đạo những tôn giáo vĩ đại trên thế giới đă và đang t́m kiếm những phương cách để làm lợi lạc cho nhau qua việc trao đổi những kinh nghiệm tâm linh với nhau. Tuy nhiên những tín đồ có đầu óc hẹp ḥi th́ lại chấp chặt những danh hiệu của những kinh nghiệm tâm linh và những triết thuyết rồi tranh chấp với người không đồng t́nh với ḿnh hoặc tranh chấp với những người có tín ngưỡng khác danh xưng với tín ngưỡng của ḿnh. Trong lịch sử nhân loại, số lượng những người bị giết v́ không đồng tín ngưỡng thật là kinh hồn. Không có vị giáo chủ nào của những tôn giáo trên thế giới lại vui ḷng khi thấy rằng v́ nhân danh của ḿnh, nhân danh tôn giáo của ḿnh mà con người đă phải chịu cảnh chém giết chết chóc, máu đổ thịt rơi. Tâm hồn của bậc thánh th́ không vướng mắc vào những danh hiệu hay mỹ hiệu. V́ sao? V́ cái mà vị ấy t́m cầu là nội dung và ư nghĩa, là sự ḥa hợp và ḷng thương yêu. Vị ấy không cần phải chứng tỏ rằng chỉ có ḿnh là chân chánh và giáo lư của ḿnh là phương cách duy nhất. Hầu hết những vị lănh đạo tôn giáo lớn trên thế giới đều sống một đời sống giản dị và t́m thấy niềm an lạc trong tự thân. Những vị ấy không trông mong những lời ca tụng hay tài sản, thế lực hay sự vinh quang. Những thánh nhân như vậy không bao giờ có đầu óc thù nghịch và cục bộ, không bao giờ có thành kiến tôn giáo. Những thánh nhân đó cùng có chung một hoài bảo là tín đồ của ḿnh được sống hạnh phúc trong một bầu không khí ḥa b́nh với vạn loại sinh linh. Tất cả tôn giáo đều có chung những điểm chủ yếu sau đây: (1) Tất cả tôn giáo đều nhận thức rằng chỉ tạo ra sự phồn thịnh về mặt vật chất mà thôi th́ không phải là con đường đưa đến an vui. (2) Có một trạng thái an lạc thuộc tâm linh cao cấp hơn so với những trạng thái khoái lạc có được ngang qua các giác quan (ngang qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) của con người. (3) Tất cả tôn giáo đều ra sức khuyến khích và giúp đở con người hoàn thiện bản thân qua việc tu dưỡng sức kiên nhẫn, ḷng thương yêu và tánh tôn trọng mọi người. (4) Mọi tôn giáo đều muốn con người tăng cường thiện cảm với con người và biểu hiện thiện cảm đó bằng cách phục vụ cho tha nhân. (5) Để đạt được mục đích nầy tất cả tôn giáo và tín ngưỡng đều nêu cao những giá trị đạo đức để giúp con người chế ngự hành vi của ḿnh. Trong tác phẩm Ḷng Từ, Sự Sáng Suốt và Trí Tuệ Đức Đạt-lai Lạt-ma đă nói: Mục tiêu của tất cả sự tu tập tôn giáo đều giống nhau là thương yêu, chân thành và tôn trọng sự thật. Phong cách sống của tất cả những người có tu tập thật sự là an vui và tự tại. Những lời dạy về đức tính bao dung và tấm ḷng từ ái đều giống nhau. Tất cả tôn giáo đều có mục đích cơ bản là lợi lạc nhân sinh, tuy là làm theo phương thức riêng, khác biệt nhau nhưng mỗi tôn giáo đều ra sức giáo hóa con người để cho con người trở nên tốt hơn và thánh thiện hơn. Nếu chúng ta quá trọng thị và quá chấp chặt vào nền triết học, tôn giáo, hay học thuyết của riêng chúng ta; rồi t́m cách áp đặt nền triết học, tôn giáo hay học thuyết của riêng chúng ta lên thân phận của tha nhân th́ hậu quả sẽ là bất an và rối khổ. Về căn bản mà nói th́ tất cả những bậc giáo chủ vĩ đại như Thích-ca, Jê-su, Mô-ha-mét... những vị giáo chủ đó đă sáng lập ra những giáo thuyết tôn giáo với mục đích là giúp ích cho mọi người. Thích-ca, Jê-su, Mô-ha-mét... không hề hướng đến mục đích lợi lạc cho bản thân và cũng không hề nghĩ đến việc tạo ra thêm những rối khổ và bất an cho cuộc đời đă có khá nhiều rối khổ và bất an nầy. Cốt lơi của Phật Giáo là sự sáng suốt và ḷng thương yêu. [2] Cốt lơi của giáo lư Thiên Chúa Giáo, Ấn-độ Giáo, Do-thái Giáo, Hồi Giáo cũng là đạo đức và ḷng thương yêu. Sự sáng suốt, đạo đức và ḷng thương yêu là những phẩm chất có giá trị phổ quát, trùm khắp tất cả không gian và thời gian trong vũ trụ nầy. Về phương diện triết lư th́ có những khác biệt – tôn giáo nầy th́ tin có một đấng sáng tạo ra vũ trụ và thế gian nầy, trong khi tôn giáo khác như Phật Giáo th́ lại không tin như thế. V́ vậy làm một kẻ ngây thơ mới nói rằng triết lư của tất cả tôn giáo đều giống nhau. Có lẽ chỉ có những người đă đắc đạo th́ mới có thể thấy là chúng giống nhau. Những người b́nh thường như chúng ta (xin lỗi chư tôn đức) chỉ có thể nghĩ rằng những sở đắc tâm linh mầu nhiệm của những bậc thánh trong tất cả các tôn giáo đều giống nhau, nhưng khi diễn đạt lại cho tín đồ nghe th́ những bậc thánh ấy lại vận dụng những hệ thống thuật ngữ và những hệ thống khái niệm khác nhau. Chữ nghĩa và lời nói đă không đủ sức tŕnh bày rốt ráo hết được những sự thật tâm linh mầu nhiệm đó. Khi đă hiện thân thành những chữ nghĩa và lời nói th́ chúng chỉ là một phiên bản phục chế từ những sự thật tâm linh mầu nhiệm đó. Do vậy những kinh nghiệm tâm linh mầu nhiệm có thể là giống nhau nhưng chữ nghĩa, khái niệm và cách nói để diễn đạt chúng th́ lại khác nhau. |
| ||||
| Tuy nhiên đối với những người căn cơ b́nh thường như chúng ta (xin lỗi chư tôn đức) th́ chữ nghĩa và khái niệm vẫn có vai tṛ quan trọng trong việc hướng dẫn cho chúng ta trên con đường đi đến chổ đạt được kinh nghiệm tâm linh. Do vậy, chúng ta phải học hỏi, phân tích nhiều triết thuyết khác nhau để có thể quyết định một triết thuyết cụ thể nào có thể giúp cho chúng ta một cách tốt đẹp nhất trong việc thanh lọc thân tâm và phát triển những phẩm chất cao quư đang tiềm tàng trong bản thân của chúng ta. Chúng ta không cần phải chỉ trích người khác v́ triết thuyết mà họ ham thích không giống với triết thuyết mà chúng ta đang ham thích. Mặc dù chúng ta có thể thảo luận và thậm trí tranh luận về mặt triết học với nhau để chỉ ra những điểm không nhất quán của triết thuyết nầy và nêu ra những phẩm chất tốt đẹp của triết thuyết kia. Nhưng làm như vậy không có nghĩa là chúng ta khinh thị những người tin vào triết thuyết nầy hay triết thuyết kia. Theo quan điểm Phật Giáo th́ sự đa dạng phong phú của triết thuyết là có lợi lạc. V́ sao? V́ không phải ai cũng thấy sự vật một cách giống nhau. Con người ta có tŕnh độ khác nhau, cảm thức khác nhau, tánh khí khác nhau nên nếu có nhiều dạng nhiều loại tôn giáo khác nhau cùng hiện diện th́ thật là lợi lạc. Nhờ vậy người ta có thể chọn lựa tôn giáo nào thích hợp với cá nhân ḿnh nhất mà tin theo và hành tŕ. Thật là khủng khiếp nến tưởng tượng ra t́nh trạng mà tất cả mọi người trên thế giới nầy đều phải chấp nhận một khuôn mẩu tôn giáo nhất định nào đó và tất cả mọi người đều phải suy nghĩ giống y nhau theo khuôn mẩu của một triết thuyết nào đó. Thật ra, điều tưởng tượng trên là không thể có. Đức Đạt-lai Lạt-ma có nói: Tôi nghĩ rằng có nhiều dạng tín ngưỡng khác nhau là hữu ích. Đó là một sự sung túc và giàu có, con người có nhiều h́nh thức thể hiện, nhiều cách thức tŕnh bày khác nhau về luân lư đạo đức. Cứ nhớ trong đầu rằng con người trên thế gian thật là đông đảo, thật là nhiều dạng, nhiều hạng, nhiều tâm tư, nhiều tính cách khác nhau, nhiều cảm thức khác nhau th́ chúng ta sẽ thấy rằng có nhiều dạng tín ngưỡng khác nhau nhiều dạng tôn giáo khác nhau là hữu ích. Đối Thoại Giữa Các Tôn Giáo Ở Âu Châu, Bắc Mỹ và Úc Châu những con số những cuộc đối thoại giữa các tôn giáo đang có chiều hướng gia tăng. Khi Đức Đạt-lai Lạt-ma đă đi Âu Châu th́ Ngài đă làm thượng khách được ṭa thánh Vatican mời đến thăm viếng. Một giám mục Tin Lành (Episcopalian) cao cấp đă giới thiệu Đức Đạt-lai Lạt-ma cho thính giả của ông ta tại Đại Giáo Đường Westminster vào năm 1985. Những nhà sư Tây-tạng và ni cô Tây-tạng đă đến viếng thăm những tu viện Gia-tô Giáo ở Hoa-kỳ; những tu sĩ và nữ tu sĩ thuộc giáo hội Gia-tô Giáo Hoa-kỳ ngược lại đă đến và đang tu học tại những tu viện Phật Giáo Nhật-bản. Trong nội bộ Phật Giáo hiện nay cũng đă có những cuộc hội nghị và hội thảo mang tầm vóc quốc tế. Những cuộc hội họp nầy được đại diện của tất cả các truyền thống, các tông phái, các sơn môn Phật Giáo trên thế giới tham dự. Trên đây chỉ nêu ra một vài sự kiện điển h́nh chứ thật ra c̣n nhiều sự kiện mang tính chất toàn cầu như thế đă diễn ra (mà người viết không được thông tin). Mặc dầu ngày nay sự kiện các nhà lănh đạo của những tôn giáo lớn trên thế giới họp mặt và học hỏi lẫn nhau là một sự kiện góp phần cực kỳ quan trọng vào nền ḥa b́nh của thế giới. Chúng ta cũng nên ư thức rằng đối với những người tu học b́nh thường như chúng ta (xin lỗi chư tôn đức) th́ việc gặp gỡ và học hỏi với những người đang tu theo tôn giáo khác cũng quan trọng không kém. Những cuộc hội thoại giữa các tôn giáo không những giúp cho chúng ta có thể cùng nhau cầu nguyện, thiền quán và chia xẽ kinh nghiệm về sự an lạc nội tâm; những cuộc hội thoại giữa các tôn giáo c̣n giúp cho chúng ta tránh được sự mê tín, hóa giải những sự hiễu lầm nhau và làm tan đi sự sợ sệt đối với nhau.[3] Khi chúng ta tiếp xúc nhiều, bàn luận nhiều với những người thuộc tôn giáo khác th́ chúng ta sẽ có được sự hiễu biết tốt hơn về cơ chế hoạt động của tâm hồn con người, chúng ta sẽ có được sự hiễu biết tốt hơn về phương thức để truyền đạt cho người nghe thuộc một hệ thống tâm thức tôn giáo khác sao cho trùng với phương thức mà chính người đó dùng để nắm bắt vấn đề. Tâm hồn của chúng ta trở nên linh hoạt hơn và chúng ta có thể vượt qua những lời mà người khác dùng để diễn đạt để nắm bắt được những ư nghĩ mà người đó muốn diễn đạt. Nếu chúng ta nghe một tu sĩ của Gia-tô Giáo đă tu trên 50 năm kể cho nghe về những tầng bậc khác nhau trên con đường tu tiến và những chướng ngại khó khăn mà bản thân vị ấy đă vượt qua th́ chúng ta sẽ thấy rằng câu chuyện của vị tu sĩ ấy có nhiều điểm tương đồng song song với quá tŕnh tu tập thuộc Phật Giáo của chúng ta. Điều nầy rất có thể sẽ khiến cho chúng ta có thêm sức tinh tấn để vượt qua những thời kỳ khó khăn của chính chúng ta trong quá tŕnh tu tập. Nếu chúng ta có điều kiện nói chuyện với một giáo sĩ Do-thái Giáo, th́ chúng ta sẽ vô cùng kinh ngạc khi biết được rằng một số phương thức lễ nghi của Do-thái Giáo cổ đại lại rất giống với những phương thức lễ nghi của Phật Giáo. Nếu chúng ta đọc một số sách về phương pháp quán chiếu của Thiên Chúa Giáo th́ chúng ta có thể nhận ra nhiều điểm tương tự với ‘tổ sư thiền’ của Phật Giáo Tây-tạng. Những điều như thế sẽ giúp cho chúng ta nhận chân được cả sự đa dạng và sự nhất thể trong tư tưởng mang tính chất tôn giáo của loài người. Nhận chân được tôn giáo và tín ngưỡng của người ngoại đạo không hề làm bất ổn và nguy hiểm cho việc tinh tấn hành tŕ những pháp môn của người theo Phật Giáo. Ngược lại, khi mà chúng ta có thể nh́n xuyên qua ngôn ngữ và khái niệm để nắm bắt được điều mà ngôn ngữ và khái niệm muốn diễn đạt, khi mà chúng ta có thể vượt qua được những sự khác biệt hời hợt bên ngoài để nắm bắt được một mục đích tối hậu sâu xa bên trong th́ khă năng trí tuệ và tâm lượng từ bi của chúng ta sẽ phát triển. Khi ấy, niềm tin của chúng ta đối với ngôi Tam Bảo càng ngày càng tăng trưởng.[4] *** (Phóng dịch từ nguyên tác tiếng Anh "Taming the Monkey Mind" của Thubten Chodron) *** GHI CHÚ [1] Đă cắt đoạn sau đây ra: Những lời dạy mà tôi đă được nghe trong khóa thiền đầu tiên đă làm thay đổi cuộc đời tôi rất sâu sắc. Những lời dạy đó gây ấn tượng mạnh trong ḷng tôi không phải là v́ đó là những lời Đức Phật dạy mà v́ đó là những lời dạy có ư nghĩa lớn. Tôi chẳng để tâm đến việc người nào đă dạy như vậy, tôi cũng chẳng để tâm tới việc lời dạy đó thuộc về tôn giáo nào, tôn giáo đó tên ǵ. Tại sao vậy? Tại v́ điều mà tôi cảm kích thật sự là nghĩa lư tốt đẹp của lời dạy đó và giá trị to lớn của lời dạy đó trong đời sống hằng ngày của tôi. Cái thuở đầu tiên đó, tôi không hề biết những danh từ to lớn, những tên gọi ấn tượng như Đại Thừa, Nguyên Thủy... Thật ra, tôi chẳng màng đến danh từ nào cả. Cái thuở đầu tiên đó tôi cũng chẳng hiễu những danh từ chỉ cho các giáo phái của Phật Giáo Tây Tạng như Nyingma, Kargyu, Gelu and Sakya. Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, Kim Cang Thừa đối với tôi lúc ấy chỉ là những danh từ, những tên gọi. Đến ngày hôm nay tôi cảm thấy không dễ chịu khi bị người ta hỏi, "Chị đi theo thừa nào vậy?". Tôi cũng cảm thấy không dễ chịu khi có người hỏi tôi "Chị đi theo tông nào vậy?". Tại sao tôi không cảm thấy dễ chịu? Tại sao tôi cảm thấy khó chịu khi có ai đó hỏi những câu hỏi đại loại như thế? Tại v́ trong ḷng của tôi th́ tôi chỉ là một con người chỉ thuần túy là một con người trong muôn vạn con người đang t́m cầu hạnh phúc và t́m cách để cho đời sống của tôi có ư nghĩa và có lợi lạc cho những người khác. Như thế là đủ. {2} Đă cắt đoạn sau đây ra: Chúng ta có thể diễn đạt hay biểu lộ và thực hiện sự sáng suốt và ḷng thương yêu nầy mà không cần phải vận dụng đến những từ ngữ cao siêu trong nền triết học Phật Giáo. {3} Đă cắt đoạn sau đây ra: "Chính bản thân tôi đă có được nhiều lợi ích qua những cuộc bàn luận với những người thuộc tôn giáo khác. Tôi đă có được sự hiễu biết tốt hơn về cơ chế hoạt động của tâm hồn con người, tôi đă có được sự hiễu biết tốt hơn về phương thức để truyền đạt cho người nghe sao cho trùng với phương thức mà chính người nghe dùng để nắm bắt vấn đề. Tâm hồn của tôi trở nên linh hoạt hơn và tôi có thể vượt qua những lời mà người khác dùng để diễn đạt để nắm bắt được những ư nghĩ mà người đó muốn diễn đạt. Tôi cũng đă tiếp thu được một số hướng dẫn tuyệt diệu. Khi đó một nữ tu sĩ bề trên của Gia-tô Giáo đă tu trên 50 năm kể cho tôi nghe về những tầng bậc khác nhau trên con đường tu tiến mà bản thân bà ta đă trải qua và những chướng ngại khó khăn mà bản thân bà ta đă vượt qua. Tôi khám phá ra rằng trong câu chuyện của bà có nhiều điểm tương đồng song song với quá tŕnh tu tập thuộc Phật Giáo. Điều nầy khiến cho tôi, một nữ tu sĩ trẻ tuổi hơn, có thêm đởm lực để vượt qua những thời kỳ khó khăn của quá tŕnh tu tập." Một lần khác tôi đối thoại với một nữ giám mục ḍng Bap-tít và chúng tôi đă so sánh những kinh nghiệm v́ chúng tôi đều là nữ tu trong tôn giáo. Lần đối thoại nầy thật là lợi lạc và đầy phấn khởi. Khi nói chuyện với một nữ giáo sĩ của Do-thái Giáo, tôi vô cùng kinh ngạc khi biết được rằng một số phương thức lễ nghi của Do-thái Giáo cổ đại lại giống nhau với những phương thức lễ nghi của Phật Giáo. Khi đọc một quyển sách về phương pháp quán chiếu của Thiên Chúa Giáo tôi lại nhận ra nhiều điểm tương tự với ‘tổ sư thiền’ của Phật Giáo Tây-tạng. Trải qua những điều như thế giúp cho tôi nhận chân được cả sự đa dạng và sự nhất thể trong tư tưởng mang tính tôn giáo của loài người. Nhận chân được tôn giáo và tín ngưỡng của người khác không hề làm bất ổn cho việc tinh tấn hành tŕ Phật Giáo của chúng ta. Ngược lại, khi mà chúng ta có thể nh́n xuyên qua ngôn ngữ và khái niệm để nắm bắt được điều mà ngôn ngữ và khái niệm muốn diễn đạt, khi mà chúng ta có thể vượt qua được những sự khác biệt hời hợt bên ngoài để nắm bắt được một mục đích chung sâu xa bên trong th́ khă năng trí tuệ và ḷng từ bi của chúng ta sẽ phát triển và niềm tin của chúng ta đối với ngôi Tam Bảo trở thành niềm tin bất động. {4} Theo đoạn chót của quyển Taming the Monkey Mind của Thupten Chodron 015-haihoa |