| ||||
|
Bốn vị này biết ḿnh sắp bị quỉ vô thường đến bắt đi, nên mỗi người t́m cách để trốn thoát thần chết. Vị thứ nhất dùng thần thông bay lên hư không núp trong đám mây xanh. Vị thứ hai vận thần thông lặn xuống đáy biển. Vị thứ ba dùng thần thông chui vô ḷng núi. Vị thứ tư th́ chui trốn ở trong ḷng đất. Tất cả bốn vị đều nghĩ rằng chỗ ḿnh trốn, quỉ vô thường không thể t́m được. Nhưng đến giờ thần chết đến th́ vị thứ nhất ở trên mây hết thần thông rớt xuống nát thây. Vị thứ hai ở dưới đáy biển hết thần thông ngộp chết nổi lên. Vị thứ ba ở trong ḷng núi hết thần thông đá nứt đè chết. Vị thứ tư ở trong ḷng đất hết thần thông bị đất sụp chôn thây luôn. Để thấy, tu chứng được thần thông muốn thoát chết vẫn không thoát được. Tu mà chứng được ngũ thông là đă trải qua quá tŕnh tu tập không phải ngắn và dễ dàng, thế mà muốn thoát chết cũng không thoát được. Lại một trường hợp nữa: Có một vị tu sĩ đạt đạo chứng được ngũ thông, thuyết giảng giáo lư rất hay cho đến trời Đế Thích cũng đến nghe. Một hôm, trời Đế Thích nghe giảng xong ra ngồi gốc cây khóc. Vị tu sĩ ấy lấy làm lạ hỏi: -Tại sao nghe giảng xong ông lại khóc, tôi giảng có chỗ nào ông không đồng ư? Đế Thích đáp: -Không, Ngài giảng rất hay, v́ tôi thấy ngài sắp chết nên tôi thương khóc. Tu sĩ hỏi: -Vậy phải làm sao cho tôi khỏi chết? Đế Thích đáp: -Nếu Ngài muốn khỏi chết, hăy đến cầu cứu với Đức Phật Thích Ca. Tu sĩ hỏi: -Đức Phật Thích Ca là ai Đang ở đâu? Đế Thích đáp: -Ngài là một vị giác ngộ hoàn toàn sạch hết vô minh lậu hoặc, đang ở tịnh xá Trúc Lâm gần thành vương xá. Vị tu sĩ bèn vận thần thông bay đi t́m Phật. Đi dọc đường, ông nghĩ rằng đi cầu Phật dạy nên có lễ vật để cúng dường Ngài. Ông thấy bên đường có những cây ngô đồng đang trổ hoa thật đẹp, bèn nhổ và cầm đến cúng Phật. Khi tới tịnh xá Trúc Lâm, thấy Phật đang ngồi thuyết pháp cho chúng tỳ kheo nghe, ông vào qú xuống dâng hai cây ngô đồng lên Phật và thưa: -Thưa Thế Tôn, con xin cúng dường Ngài hai cây ngô đồng và cầu xin Ngài dạy cho con phương pháp tu để khỏi chết. Lúc đó Phật không dạy ǵ hết, chỉ bảo: -Buông ! Tu sĩ buông tay thứ nhất, ngă cây ngô đồng thứ nhất. Phật lại bảo: -Buông ! Tu sĩ buông tay thứ hai, ngă cây ngô đồng thứ hai. Phật nói tiếp: -Buông ! Tu sĩ sửng sốt thưa: -Hai tay con cầm hai cây ngô đồng, lần thứ nhất Phật bảo buông, lần thứ hai Phật bảo buông, con buông cây thứ hai là hết. Phật bảo con buông nữa con không biết buông cái ǵ? Phật nói: -Ta đâu có bảo ông buông hai cây ngô đồng. Lần thứ nhất ta bảo ông buông là đừng chạy theo ngoại cảnh. Lần thứ hai ta bảo ông buông là đừng chấp sáu căn là ngă. Lần thứ ba ta bảo ông buông là không chấp sáu thức là ngă. Nếu ông buông hết ba cái đó th́ ông hết chết. Nghe Phật nói, tu sĩ nhận ra yếu chỉ, tu một thời gian chứng A La Hán. Hết chết là không c̣n nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, chứ không phải thân tứ đại hiện đời không hoại, không chết, phải hiểu rơ chỗ này. Để thấy, dù có tu có luyện thần thông đến đâu, mà chưa buông xả được cảnh, thân và tâm thức th́ cũng chưa thoát khỏi sanh tử luân hồi. Lại một Đạo sĩ và một Thiền sư, hai vị cùng đi chung một con đường. Đạo sĩ hỏi Thiền sư: -Thầy tu lâu chưa? -Lâu rồi. -Thầy chứng thần thông chưa? -Tôi tu không có thần thông. Vậy đạo sĩ có thần thông không? - Có. Hai vị cùng đi tới một bến đ̣, Đạo sĩ muốn thi thố thần thông cho Thiền sư thấy bèn rủ: -Thôi chúng ta đi qua. Đạo sĩ qua sông mà không đi đ̣. Thiền sư nói: -Thôi, Đạo sĩ cứ qua đi. Đạo sĩ liền vén áo đi trên mặt nước qua bên kia bờ. C̣n Thiền sư th́ đến bến đ̣ mua vé lên đ̣, qua sông. Khi qua bờ bên kia, Đạo sĩ gặp lại Thiền sư ra vẻ tự hào, nói: -Thầy thấy tôi không? -Đạo sĩ tập luyện thuật đi trên nước mất bao nhiêu năm? -Hết hai mươi năm. Thiền sư cười nói: -Công phu luyện tập 20 năm của Đạo sĩ đáng giá bằng hai xu tôi qua đ̣ ! Tốn hai xu cũng đi qua sông được mà phải luyện tập hai mươi năm được thần thông cũng để qua sông, th́ có giá trị ǵ??? Thiền Tông không trọng thần thông, coi đó chỉ là tṛ biểu diễn vui chơi, không giải cứu được khổ đau của con người. Thế mà người đời không biết, rất hâm mộ nể phục thần thông. Trở về nguồn, khi Thái tử Sĩ Đạt Ta tu sắp thành đạo dưới cội cây bồ đề, ma Ba Tuần biết Ngài sắp chứng đạo nên cùng nhau đến phá Ngài. Quân ma có tới 18 ức bao vây Ngài dưới cội bồ đề. Ma bảo: -Sa Môn mau đứng đậy. Thái tử lặng thinh không đáp, như thế đến ba lần. Ma hỏi: -Sa Môn sợ ta chăng? Thái tử đáp: -Ta không kinh sợ. Ma hỏi: -Sa Môn thấy bốn chúng binh của ta chăng? Ông chỉ một ḿnh, không binh khí, đầu cạo, mặc y bày thân, lại nói không sợ? Thái tử đáp bằng bài kệ: "Giáp nhơn, cung tam muội Tay cầm tên trí tuệ Phước nghiệp làm binh khí Nay sẽ phá quân ngươi" Ma bảo: -Nếu không nghe theo lời ta, ta sẽ làm cho thân h́nh ông tan thành tro bụi. Thái tử nói: -Ta tự xem xét trên cơi người ma và thiên ma, nhơn và phi nhơn cùng bốn bộ chúng của ngươi không thể **ng được một mảy lông của ta. Ma nói: -Sa môn, nay muốn cùng ta giao chiến chăng? Thái tử đáp: -Muốn được giao chiến. Bấy giờ Thái tử mặc áo giáp nhơn từ, Ngài dùng cung tam muội, tên trí tuệ, và binh khí phước nghiệp để giao chiến với ma quân. Ngày nay, chúng ta tu một ḿnh ở nơi vắng vẻ có nhiều ma, th́ quư thầy dạy nên học thuộc các câu chú, về những là bùa để trừ tà ma, hoặc để con dao hay cái rựa bên cạnh pḥng khi đối trị ma quái. Xưa Phật chiến đấu với ma quân Ngài mặc áo giáp từ bi, cầm cung thiền định, bắn tên trí tuệ và dùng phước đức làm binh khí để chiến đấu với quân ma. Chúng ta thấy Đức Phật đơn độc một ḿnh chỉ và sử dụng có bốn loại khí giới là từ bi, thiền định, trí tuệ, và phước đức mà chiến thắng được ma quân một cách vẻ vang. Sở dĩ Phật chiến thắng đựơc ma quân là v́ Ngài có tâm từ bi vô lượng vô biên không oán không thù ai, nên ma không hại được. C̣n chúng ta th́ ḷng từ chưa bủa khắp, xử kỷ tiếp vật c̣n thân c̣n sơ nên ma tham ma sân có chỗ vào, v́ vậy mà cứ măi thua ma (dài dài); Đó là yếu tố thứ nhất. Yếu tố thứ hai là tâm Phật luôn luôn an định, dù ma có hiện h́nh tướng kỳ quái thô bạo dữ dằn đến đâu, Ngài vẫn mặc nhiên không run không sợ nên ma không hại được. Bây giờ nếu chúng ta tu nếu gặp ma hiện vằn mặt đỏ trong đêm tối, th́ hoảng hốt chạy ra, không giữ được b́nh tĩnh đó là do tâm không an định, v́ tâm không an định nên sợ và thua ma. Yếu tố thứ ba là với trí tuệ sáng suốt. Phật thấy rơ thân này không thật th́ các tướng mạo của ma quỉ nào có thật! Nên không bị chi phối bởi ma, chúng ta v́ trí tuệ chưa sáng, thấy thân này thật, ma cũng thật, sanh tâm kinh sợ nên bị ma hại. Yếu tố thứ tư là phước nghiệp, Đức Phật do công phu tu tập, làm lợi ích chúng sanh, phước đức kết nhóm nhiều đời nhiều kiếp nên ma không hại được. Chúng ta tu sở dĩ thường gặp chướng nạn ma nạn là v́ phước đức mỏng, sức tu tập yếu nên bị ma nhiếp được dễ dàng. Tôi thường nói chúng ta tu đừng ỷ ḿnh thông minh, đừng ỷ ḿnh tài giỏi, cũng đừng ỷ ḿnh khôn lanh là có thể hanh thông trên đường tu tiến, mà phải xét nét công hanh tu tập của ḿnh. Nếu thấy phước đức ḿnh cạn mỏng th́ lo vun bồi cho được sâu dầy hầu giúp ḿnh vượt qua mọi chướng nạn và tiến đến chỗ cứu cánh viên măn. V́ có rất nhiều người khôn lanh thông minh tài giỏi mà không tránh được chướng nạn khổ đau. Ngược lại, người có nhiều phước đức th́ vượt qua tất cả mọi chướng ngại, sự tu tập dễ dàng tiến mau nên được kết quả tốt. Chúng ta thấy, Đức Phật khi chiến đấu với ma quân, chỉ dùng có bốn loại binh khí: Nhân từ là do tự tâm phát khởi ḷng thương yêu tất cả mọi loài. Chánh định là do lóng lặng tâm tư mà được thanh tịnh, nhờ tâm thanh tịnh nên trí tuệ phát sáng. C̣n phước nghiệp là do công hạnh làm lợi ích cho mọi loài. Chính bốn đức ấy hóa giải sự nhiễu hại của ma quân ở chính ḿnh. Như vậy, chúng ta vào đạo là phải giữ tâm không oán không thù lần lần để tâm lóng lặng cho trí tuệ phát sáng, và hành ngày làm việc thiện lành lợi ích cho mọi người. Đó là những điều căn bản không một người tu nào có thể thiếu được. Tóm lại, tu theo đạo Phật chủ yếu là tránh ba nghiệp ác của thân miệng ư và tạo ba nghiệp lành. V́ nghiệp có sức mạnh đưa người tới chỗ khổ hay vui. Nếu tu mà nghiệp thức c̣n th́ dù có chứng thần thông siêu việt đến đâu cũng không giải cứu được khi nghiệp báo đến. V́ thế đạo Phật không trọng thần thông, mà sợ gây nghiệp ác, khuyên tạo nghiệp lành. Thế nên mọi hiện tượng huyền bí lạ lùng không phải là cái đích cho người tu Phật hướng đến. Người tu Phật chân chính là tự trau sửa ḿnh để trở thành người tốt, nhân từ đức hạnh, tâm b́nh an, trí tuệ sáng suốt, hằng ngày làm lợi ích cho mọi người, đó là điều cơ bản, không hiếu kỳ, không lười biếng, không ỷ vào thần quyền ma lực, tu như thế mới đúng với tinh thần của đạo Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật |