Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Nghiên Cứu và Thảo luận

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 10-27-2009, 10:01 PM
KhaiNgo's Avatar
KhaiNgo KhaiNgo is offline
Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 101
Thần Thông và Nghiệp Lực

Thích Thanh Từ

Đa số Phật tử tu theo đạo Phật không nhiều th́ ít đều có liên tưởng đến những hiện tượng huyền bí, đó là thần thông. Vậy thần thông có phải là cái chúng ta nương tựa, để cho chúng ta tin cậy, để cho chúng ta học hỏi luyện tập không?

Khi Phật cón tại thế, Tôn Giả Mục Kiền Liên sau khi chứng quả A La Hán, Ngài có đủ lục thông. Song, đối với những vị chứng A La Hán như Ngài, Ngài là người ưu việt hơn cả. Nên Phật nói Tôn Giả Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử lớn của Phật. V́ thần thông siêu việt nên Tôn Giả có thể dùng thần thông đi từ thế giới này đến thế giới nọ trong chớp mắt, hoặc dùng thần thông hóa hiện tùy ư. Khi ấy Phật ngự trên một từng lầu, dưới tầng trệt các tỳ kheo nói chuyện ồn ào. Phật bảo Tôn Giả Mục Kiền Liên làm cho các tỳ kheo đó đừng làm ồn nữa. Tôn Giả liền duỗi chân ra th́ cái nhà xoay tṛn, chư tỳ kheo hoảng hốt không dám nói chuyện nữa.

Với sức thần thông siêu việt như thế, v́ ḷng hiếu thảo Ngài dùng thiên nhăn thông t́m trong lục đạo coi mẹ Ngài sinh ở đâu, Ngài thấy bà đang mang thân ngạ quỉ khổ vô cùng. Ngài thương xót mẹ, nên đi khất thực được một bát cơm liền vận thần thông đem đến dâng cho mẹ. Khi được cơm, tay trái bà bưng bát cơm, tay mặt bốc cơm để vào miệng, cơm vừa tới miệng liền hóa thành lửa. Tôn Giả Mục Kiền Liên thấy mẹ ăn cơm không được khổ sở vô cùng, Tôn Giả rơi nước mắt.

Chúng ta đặt lại vấn đề, nếu thần thông của Tôn Giả Mục Kiền Liên siêu việt th́ khi mẹ Ngài ăn cơm, cơm hóa thành lửa, tại sao Ngài không dùng thần thông thổi tắt lửa để mẹ Ngài dùng cho no ḷng, mà lại đứng khóc? Vậy, quư vị nghĩ sao về thần thông của Ngài và nghiệp ác mà mẹ Ngài gây ra? Để thấy, thần thông không cứu được nghiệp ác của người thân. Nếu tu để có thần thông, mà không cứu được ai hết th́ có thần thông làm ǵ? Toàn chúng đệ tử Phật đều tôn xưng Ngài là người thần thông bậc nhất. Vậy mà trước cảnh khổ đau bi đát của mẹ, Ngài không có một phương tiện giải cứu, mà chỉ đứng khóc. Như vậy mới thấy thần thông không chi phối được nghiệp lực. Hai cái khác biệt nhau rơ ràng. Thần thông không đưa người đến sự an lạc vĩnh viễn mà cũng không giải cứu được ác nghiệp cho người đau khổ. Vậy, tu thiết tha mong cầu chứng đắc thần thông? hay tu cốt để đoạn các nghiệp ác, để tránh khỏi khổ đau đang chi phối cả kiếp người?

Sau đó, Tôn Giả Mục Kiền Liên trở về thuật lại cảnh khổ của mẹ Ngài và cầu xin Phật dùng phương tiện giải cứu. Phật dạy:

-Mẹ người nghiệp ác quá nặng, sức người không thể cứu được. Người phải làm lễ Vu Lan thiết đăi chư Tăng.

Sơn lâm thiền định

Thọ hạ kinh hành

Lục thông La Hán

Nhờ oai lực của các vị này cầu nguyện, th́ mẹ ngươi mới thoát được kiếp ngạ quỉ.

Khi đó, Tôn Giả Mục Kiền Liên vâng theo lời Phật sắm sửa trai diên, thỉnh chư Tăng đang thiền tịnh ở núi rừng, đang kinh hành dưới cội cây, là những bậc đă chứng lục thông A La Hán cùng trợ lực cầu nguyện th́ mẹ Ngài thoát kiếp nga quỉ. V́ lư do Tôn Giả Mục Kiền Liên không đủ sức cứu mẹ, nên phải nhờ số đông chư Tăng đă chứng A La Hán trợ lực mới cứu được mẹ Ngài.

Chính sự kiện này mà về sau hàng Phật tử noi theo gương hiếu thảo của Tôn Giả Mục Kiền Liên, là một bậc xuất gia tu hành chứng A La Hán, không quên công ơn cha mẹ, vẫn nhớ và muốn đền đáp. Nên hàng Phật tử sau mùa an cư tự tứ của chúng Tăng, đều làm lễ Vu Lan thỉnh chư Tăng cúng dường cầu siêu. Đó là việc làm đạo đức căn bản.

Tuy nhiên chư Tăng hiện thời không phài là những bậc thiền định chứng lục thông A La Hán như Phật đă dạy Tôn Giả Mục Kiền Liên thỉnh cúng dường, cầu nguyện cho Ngài. Nên sự cầu nguyện của chư Tăng hiện thời không bảo đảm được như ư nguyện của Phật tử. Nhưng tại sao mỗi năm vào rằm tháng bảy Phật tử tụ hội về chùa làm lễ Vu Lan để làm ǵ? Điều này Phật tử nên hiểu cho tường tận.

Với tấm ḷng hiếu thảo của người Phật tử, mỗi khi nhớ lại gương sáng của đức Mục Kiền Liên, là người đă cắt ái ĺa thân xuất gia hành đạo, quyên hết chuyện nhà mà vẫn không quyên ơn sanh dưỡng của cha mẹ, biết mẹ bị quả báo làm ngạ quỉ, t́m mọi phương tiện cứu mẹ thoát khổ của kiếp ngạ quỉ. Theo gương hiếu thảo của Tôn Giả Mục Kiền Liên, nên ngày nay Phật tử làm lễ Vu Lan để tỏ ḷng hiếu thảo nhớ ơn cha mẹ, và mong cứu cha mẹ thoát khỏi cảnh khổ. Đến chùa v́ hiếu nghĩa, v́ nhớ ơn để cầu nguyện cho cha mẹ, đó là tinh thần từ thiện tốt đẹp. Nhưng nếu tin chắc cha mẹ thoát khổ th́ không bảo đảm.

Trong kinh A Hàm, Phật có nói: "Người biết ơn và đền ơn, dù ở xa ngàn dặm, cũng như hầu cận bên ta; ngược lại, người không biết ơn và không đền ơn dù ở hầu cạnh bên ta cũng cách xa ta ngàn dặm". Phật dạy đạo đức bắt nguồn từ chỗ biết ơn và đền ơn. Người lương thiện là người thọ ơn ai không bao giờ quên. Những lúc ḿnh nguy khốn được người giúp đỡ, khi người hoạn nạn th́ ḿnh sẵn sàng giúp đỡ lại không ngại khó khổ gian lao.

Trong kinh Ưu Bà Tắc giới, Phật có dạy: trời nắng người đi đường vào bóng cây núp mát, khi ra đi không được bẻ cành cây. Và trên đường đi được bóng cây hai bên đường che mát, Phật cấm không được bẻ lá cây, v́ cây có cái ơn che mát cho chúng ta trên đường dài nóng bức. Đối với cái ân rất nhỏ của loài vô tri mà Phật c̣n không cho phép chúng ta quên ơn, huống là cái ơn sanh dưỡng lớn lao của cha mẹ. Nếu ơn sanh dưỡng sâu nặng mà chúng ta quên đi th́ những cái ơn khác không dễ ǵ nhớ được. Ở đời cũng có lắm kẻ được người giúp đỡ qua cơn nguy khốn, sau đó đối với người ơn của họ, họ ngoảnh mặt làm kẻ xa lạ.

Cũng như những đứa con ngỗ nghịch không tiếc lời nặng nhẹ khảo tra tiền của cha mẹ, cha mẹ đến tuổi già yếu đói no sướng khổ con cái không buồn nghĩ đến. Người như thế là người không biết ơn và đền ơn, không phải là người lương thiện. Thế nên, người đạo đức chân thật là người biết ơn và nhớ ơn sanh dưỡng của cha mẹ. Dù cha mẹ c̣n hay mất, mỗi mùa Vu Lan đến, người con hiếu thảo v́ cha mẹ làm việc phước thiện để hướng tâm tưởng thiện lành đến với cha mẹ, mong cha mẹ được nhẹ nhàng hết khổ. Đó là kẻ biết ơn và đền ơn mà thế gian thường nói "Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây". Nhớ ơn cha mẹ là đạo đức căn bản vậy.

Có một lần Phật đi khất thực ở vùng mất mùa, dân trong làng ai cũng nghèo đói. Phật đi từ sáng đến trưa không có người cúng dường, trong bát Phật không có thức ăn. Khi đó có một thầy tỳ kheo đem lá y mới của ḿnh đổi được một bát cơm, vội vàng đem dâng Phật. Phật hỏi:

-Ông c̣n cha mẹ không?

Tỳ kheo trả lời:

-Bạch Thế Tôn, con c̣n bà mẹ.

Phật hỏi:

-Mẹ ông sáng nay có ăn cơm chưa?

Tỳ kheo đáp:

-Bạch Thế Tôn, con đổi một lá y chỉ được một bát cơm, con dâng lên Thế Tôn, mẹ con vẫn chưa có cơm ăn.

Phật dạy:

-Người đáng thọ nhận bát cơm này là mẹ của ông.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy Phật rất chú trọng đến đức hiếu thảo của con người. Nếu người tu hành không nhớ công ơn cha mẹ th́ việc tu hành chỉ là việc làm ích kỷ, không có cơ bản đạo đức. Chúng ta tu là v́ thương cha mẹ, thương thân bằng quyến thuộc, thương dân tộc, thương nhân loại, nên nỗ lực tu hành để rồi khuyên những người thân người sơ cố gắng tiến trên con đường đạo đức, làm đẹp cho người, làm đẹp cho quê hương xứ sở. Đâu phải vong ân cha mẹ, quên thân bằng quyến thuộc, phản bội quốc dân mà đi tu. Dù là người xuất gia hay cư sĩ tại gia đều phải lấy công ơn cha mẹ làm gốc để tu hành. V́ vậy, mỗi năm tới mùa báo hiếu, Phật tử qui tụ về chùa, trước là đem ḷng thành kính nguyện Tam Bảo gia hộ cho cha mẹ sớm được về cơi Phật. Kế đó, v́ cha mẹ mà làm lành tu thiện, cứu giúp người nghèo khổ và nhắc nhở khuyến khích hướng dẫn con cháu tiến trên con đường đạo. Đó là nền tảng đạo đức đời đời không quên.

Tăng Ni hiện nay tuy không đủ tư cách như Phật dạy trong kinh Vu Lan, nhưng dù sao đi nữa, một người tu an chay, bỏ ác làm thiện cũng có chút công đức lành góp phần với quư vị Phật tử, cùng hồi hướng cùng cầu nguyện cho cha mẹ. Đó là cội nguồn của ngày lễ Vu Lan. V́ vậy nếu đă là đệ tử của Phật, phải nhớ rằng tu với Phật không bằng tu với cha mẹ. V́ Phật đă giải thoát mọi khổ đau, dù cho chúng ta có đảnh lễ tán thán đến đâu, Ngài vẫn b́nh thản mặc nhiên. C̣n cha mẹ chưa hết phiền năo nên mỗi khi con cháu tỏ ḷng hiếu thảo, biết nghĩ tưởng đến th́ cha mẹ hoan hỷ sung sướng. Thế nên chúng ta thường làm cha mẹ vui, Chẳng phải chỉ lo lạy Phật cúng Phật mà quên không lo phụng dưỡng hiếu kính cha mẹ. Người tu như thế th́ chưa đúng với tinh thần của đạo Phật.

Người Phật tử muốn đền đáp công ơn của cha mẹ, trường hợp thứ nhất khi cha mẹ c̣n sanh tiền, muốn cho cha mẹ an vui trong hiện đời và an vui trong mai hậu, ngoài việc cung phụng nuôi dưỡng cha mẹ về mặt vật chất, nếu cha mẹ chưa biết đạo, phải tạo duyên tốt khiến cho cha mẹ phát tâm tu hành bỏ ác làm lành. V́ người phát tâm làm lành mới khỏi đọa ba đường ác sanh vào cơi thiện được an vui. Cho cha mẹ ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, tuy là hiếu thảo, nhưng hiếu thảo đó chỉ là tạm bợ không lâu dài, v́ cha mẹ sẽ chết không c̣n hưởng dụng những thứ đó nữa. Tạo duyên lành cho cha mẹ hướng về đường thiện, th́ chẳng những bảo đảm trong đời này ít khổ đau mà đời sau cũng hết đau khổ. Chính việc làm đó mới là cái hiếu chân thật. V́ vậy, quư Phật tử ai được vinh hạnh cha mẹ c̣n tại tiền, hăy ráng tạo điều kiện giúp cho cha mẹ tu hành, đó là cái hiếu lớn nhất.

Trường hợp thứ hai là khi cha mẹ quá cố rồi. Chúng ta không làm ǵ khác được, nên mới cúng dường cầu nguyện hồi hướng phước lành cho cha mẹ được siêu thoát. Đó là việc làm cầu may chứ không bảo đảm kết quả như ư. Nhiều khi quư Phật tử nghĩ đến người chết mà quên hẳn người sống. Đến rằm tháng bảy cúng kiến cầu nguyện cho ông bà tổ tiên được siêu sanh tịnh độ mà ông bà cha mẹ tại tiền th́ không để ư chăm sóc giúp đỡ để tiến tu. Như thế là không xứng đáng, không đúng với chữ hiếu trong đạo Phật.

Trở lại, thần thông không cứu được khổ, không giải được nghiệp. Như chúng ta biết Tôn Giả Mục Kiền Liên đă từng dùng thần thông qua lại trong không gian từ cơi này đến cơi khác một cách tự do. Nhưng đối trước quả báo nghiệp ác của mẹ Ngài, Ngài đành bó tay đứng khóc chứ không cứu được, đó là trường hợp thứ nhất.

Đến trường hợp thứ hai là chính bản thân Ngài khi trở về già, một hôm đi khất thực qua chân núi, ngoại đạo lăn đá cho rớt xuống đè Ngài chết. B́nh thường có chuyện bất ổn xảy ra là Ngài dùng thần thông bay bổng, không ai hại được Ngài. Bây giờ nghiệp đến, thấy đá lăn từ trên xuống, Ngài dùng thần thông bay đi mà bay không được, nên bị đá đè chết. Để thấy thần thông bất lực trước quả báo nghiệp ác của Ngài, thần thông cũng không giải được nghiệp của chính ḿnh khi quả báo đến. Như vậy luyện tập thần thông để làm ǵ?

Song, tâm lư chung của Phật tử th́ ưa thích thần thông với những tướng lạ thường. Giả sử bây giờ quư vị đang ngồi nghe tôi nói pháp, ngoài kia có người đang vận thần thông bay lên dạo chơi trong hư không, quư vị sẽ cùng đua nhau xem họ tŕnh diễn thần thông, chớ không thể ngồi yên mà nghe pháp. V́ bản chất của con người là hiếu kỳ, ưa thích những điều khác lạ, c̣n những ǵ b́nh thường đơn giản th́ không ưa chuộng. Tu, nếu bảo dùng nghiệp ác của thân của miệng của ư, chuyển thành ba nghiệp thiện th́ thấy thường và khó làm. C̣n, nếu nói tôi có thần thông, ai muốn được hết tội, tôi hóa ra nước Cam Lồ rưới sẽ hết phiền năo, th́ mọi người ham thích đua nhau xin nước Cam Lồ để tắm gội hay để uống cho hết tội. V́ người ta vừa hiếu kỳ vừa lười biếng, hễ thấy dễ khoẻ là làm, V́ vậy, nên dễ bị gạt và để rơi vào mê tín tà giáo.

Thời Đức Phật c̣n tại thế, có bốn ngoại đạo tu chứng được ngũ thông:

-Thiên nhăn thông là thấy tất cà người vật gần hay xa.

-Thiên nhĩ thông là nghe khắp tất cà âm thanh lớn nhỏ gần xa.

-Thiên tâm thông là biết được ư người khi mới vừa khởi nghĩ chưa nói ra lời.

-Thần túc thông là biến hóa thân h́nh lớn nhỏ tùy ư, thăng thiên độn thổ không ngại.

-Túc mạng thông là biết được vô số kiếp về trước.
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 10-27-2009, 10:02 PM
KhaiNgo's Avatar
KhaiNgo KhaiNgo is offline
Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 101
Bốn vị này biết ḿnh sắp bị quỉ vô thường đến bắt đi, nên mỗi người t́m cách để trốn thoát thần chết. Vị thứ nhất dùng thần thông bay lên hư không núp trong đám mây xanh. Vị thứ hai vận thần thông lặn xuống đáy biển. Vị thứ ba dùng thần thông chui vô ḷng núi. Vị thứ tư th́ chui trốn ở trong ḷng đất. Tất cả bốn vị đều nghĩ rằng chỗ ḿnh trốn, quỉ vô thường không thể t́m được.

Nhưng đến giờ thần chết đến th́ vị thứ nhất ở trên mây hết thần thông rớt xuống nát thây. Vị thứ hai ở dưới đáy biển hết thần thông ngộp chết nổi lên. Vị thứ ba ở trong ḷng núi hết thần thông đá nứt đè chết. Vị thứ tư ở trong ḷng đất hết thần thông bị đất sụp chôn thây luôn.

Để thấy, tu chứng được thần thông muốn thoát chết vẫn không thoát được. Tu mà chứng được ngũ thông là đă trải qua quá tŕnh tu tập không phải ngắn và dễ dàng, thế mà muốn thoát chết cũng không thoát được.

Lại một trường hợp nữa: Có một vị tu sĩ đạt đạo chứng được ngũ thông, thuyết giảng giáo lư rất hay cho đến trời Đế Thích cũng đến nghe. Một hôm, trời Đế Thích nghe giảng xong ra ngồi gốc cây khóc. Vị tu sĩ ấy lấy làm lạ hỏi:

-Tại sao nghe giảng xong ông lại khóc, tôi giảng có chỗ nào ông không đồng ư?

Đế Thích đáp:

-Không, Ngài giảng rất hay, v́ tôi thấy ngài sắp chết nên tôi thương khóc.

Tu sĩ hỏi:

-Vậy phải làm sao cho tôi khỏi chết?

Đế Thích đáp:

-Nếu Ngài muốn khỏi chết, hăy đến cầu cứu với Đức Phật Thích Ca.

Tu sĩ hỏi:

-Đức Phật Thích Ca là ai Đang ở đâu?

Đế Thích đáp:

-Ngài là một vị giác ngộ hoàn toàn sạch hết vô minh lậu hoặc, đang ở tịnh xá Trúc Lâm gần thành vương xá.

Vị tu sĩ bèn vận thần thông bay đi t́m Phật. Đi dọc đường, ông nghĩ rằng đi cầu Phật dạy nên có lễ vật để cúng dường Ngài. Ông thấy bên đường có những cây ngô đồng đang trổ hoa thật đẹp, bèn nhổ và cầm đến cúng Phật. Khi tới tịnh xá Trúc Lâm, thấy Phật đang ngồi thuyết pháp cho chúng tỳ kheo nghe, ông vào qú xuống dâng hai cây ngô đồng lên Phật và thưa:

-Thưa Thế Tôn, con xin cúng dường Ngài hai cây ngô đồng và cầu xin Ngài dạy cho con phương pháp tu để khỏi chết.

Lúc đó Phật không dạy ǵ hết, chỉ bảo:

-Buông !

Tu sĩ buông tay thứ nhất, ngă cây ngô đồng thứ nhất. Phật lại bảo:

-Buông !

Tu sĩ buông tay thứ hai, ngă cây ngô đồng thứ hai. Phật nói tiếp:

-Buông !

Tu sĩ sửng sốt thưa:

-Hai tay con cầm hai cây ngô đồng, lần thứ nhất Phật bảo buông, lần thứ hai Phật bảo buông, con buông cây thứ hai là hết. Phật bảo con buông nữa con không biết buông cái ǵ?

Phật nói:

-Ta đâu có bảo ông buông hai cây ngô đồng. Lần thứ nhất ta bảo ông buông là đừng chạy theo ngoại cảnh. Lần thứ hai ta bảo ông buông là đừng chấp sáu căn là ngă. Lần thứ ba ta bảo ông buông là không chấp sáu thức là ngă. Nếu ông buông hết ba cái đó th́ ông hết chết.

Nghe Phật nói, tu sĩ nhận ra yếu chỉ, tu một thời gian chứng A La Hán. Hết chết là không c̣n nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, chứ không phải thân tứ đại hiện đời không hoại, không chết, phải hiểu rơ chỗ này. Để thấy, dù có tu có luyện thần thông đến đâu, mà chưa buông xả được cảnh, thân và tâm thức th́ cũng chưa thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Lại một Đạo sĩ và một Thiền sư, hai vị cùng đi chung một con đường. Đạo sĩ hỏi Thiền sư:

-Thầy tu lâu chưa?

-Lâu rồi.

-Thầy chứng thần thông chưa?

-Tôi tu không có thần thông. Vậy đạo sĩ có thần thông không?

- Có.

Hai vị cùng đi tới một bến đ̣, Đạo sĩ muốn thi thố thần thông cho Thiền sư thấy bèn rủ:

-Thôi chúng ta đi qua.

Đạo sĩ qua sông mà không đi đ̣. Thiền sư nói:

-Thôi, Đạo sĩ cứ qua đi.

Đạo sĩ liền vén áo đi trên mặt nước qua bên kia bờ. C̣n Thiền sư th́ đến bến đ̣ mua vé lên đ̣, qua sông. Khi qua bờ bên kia, Đạo sĩ gặp lại Thiền sư ra vẻ tự hào, nói:

-Thầy thấy tôi không?

-Đạo sĩ tập luyện thuật đi trên nước mất bao nhiêu năm?

-Hết hai mươi năm.

Thiền sư cười nói:

-Công phu luyện tập 20 năm của Đạo sĩ đáng giá bằng hai xu tôi qua đ̣ !

Tốn hai xu cũng đi qua sông được mà phải luyện tập hai mươi năm được thần thông cũng để qua sông, th́ có giá trị ǵ??? Thiền Tông không trọng thần thông, coi đó chỉ là tṛ biểu diễn vui chơi, không giải cứu được khổ đau của con người. Thế mà người đời không biết, rất hâm mộ nể phục thần thông.

Trở về nguồn, khi Thái tử Sĩ Đạt Ta tu sắp thành đạo dưới cội cây bồ đề, ma Ba Tuần biết Ngài sắp chứng đạo nên cùng nhau đến phá Ngài. Quân ma có tới 18 ức bao vây Ngài dưới cội bồ đề. Ma bảo:

-Sa Môn mau đứng đậy.

Thái tử lặng thinh không đáp, như thế đến ba lần. Ma hỏi:

-Sa Môn sợ ta chăng?

Thái tử đáp:

-Ta không kinh sợ.

Ma hỏi:

-Sa Môn thấy bốn chúng binh của ta chăng? Ông chỉ một ḿnh, không binh khí, đầu cạo, mặc y bày thân, lại nói không sợ?

Thái tử đáp bằng bài kệ:

"Giáp nhơn, cung tam muội

Tay cầm tên trí tuệ

Phước nghiệp làm binh khí

Nay sẽ phá quân ngươi"

Ma bảo:

-Nếu không nghe theo lời ta, ta sẽ làm cho thân h́nh ông tan thành tro bụi.

Thái tử nói:

-Ta tự xem xét trên cơi người ma và thiên ma, nhơn và phi nhơn cùng bốn bộ chúng của ngươi không thể **ng được một mảy lông của ta.

Ma nói:

-Sa môn, nay muốn cùng ta giao chiến chăng?

Thái tử đáp:

-Muốn được giao chiến.

Bấy giờ Thái tử mặc áo giáp nhơn từ, Ngài dùng cung tam muội, tên trí tuệ, và binh khí phước nghiệp để giao chiến với ma quân.

Ngày nay, chúng ta tu một ḿnh ở nơi vắng vẻ có nhiều ma, th́ quư thầy dạy nên học thuộc các câu chú, về những là bùa để trừ tà ma, hoặc để con dao hay cái rựa bên cạnh pḥng khi đối trị ma quái.

Xưa Phật chiến đấu với ma quân Ngài mặc áo giáp từ bi, cầm cung thiền định, bắn tên trí tuệ và dùng phước đức làm binh khí để chiến đấu với quân ma.

Chúng ta thấy Đức Phật đơn độc một ḿnh chỉ và sử dụng có bốn loại khí giới là từ bi, thiền định, trí tuệ, và phước đức mà chiến thắng được ma quân một cách vẻ vang. Sở dĩ Phật chiến thắng đựơc ma quân là v́ Ngài có tâm từ bi vô lượng vô biên không oán không thù ai, nên ma không hại được. C̣n chúng ta th́ ḷng từ chưa bủa khắp, xử kỷ tiếp vật c̣n thân c̣n sơ nên ma tham ma sân có chỗ vào, v́ vậy mà cứ măi thua ma (dài dài); Đó là yếu tố thứ nhất.

Yếu tố thứ hai là tâm Phật luôn luôn an định, dù ma có hiện h́nh tướng kỳ quái thô bạo dữ dằn đến đâu, Ngài vẫn mặc nhiên không run không sợ nên ma không hại được. Bây giờ nếu chúng ta tu nếu gặp ma hiện vằn mặt đỏ trong đêm tối, th́ hoảng hốt chạy ra, không giữ được b́nh tĩnh đó là do tâm không an định, v́ tâm không an định nên sợ và thua ma.

Yếu tố thứ ba là với trí tuệ sáng suốt. Phật thấy rơ thân này không thật th́ các tướng mạo của ma quỉ nào có thật! Nên không bị chi phối bởi ma, chúng ta v́ trí tuệ chưa sáng, thấy thân này thật, ma cũng thật, sanh tâm kinh sợ nên bị ma hại.

Yếu tố thứ tư là phước nghiệp, Đức Phật do công phu tu tập, làm lợi ích chúng sanh, phước đức kết nhóm nhiều đời nhiều kiếp nên ma không hại được. Chúng ta tu sở dĩ thường gặp chướng nạn ma nạn là v́ phước đức mỏng, sức tu tập yếu nên bị ma nhiếp được dễ dàng.

Tôi thường nói chúng ta tu đừng ỷ ḿnh thông minh, đừng ỷ ḿnh tài giỏi, cũng đừng ỷ ḿnh khôn lanh là có thể hanh thông trên đường tu tiến, mà phải xét nét công hanh tu tập của ḿnh. Nếu thấy phước đức ḿnh cạn mỏng th́ lo vun bồi cho được sâu dầy hầu giúp ḿnh vượt qua mọi chướng nạn và tiến đến chỗ cứu cánh viên măn. V́ có rất nhiều người khôn lanh thông minh tài giỏi mà không tránh được chướng nạn khổ đau. Ngược lại, người có nhiều phước đức th́ vượt qua tất cả mọi chướng ngại, sự tu tập dễ dàng tiến mau nên được kết quả tốt.

Chúng ta thấy, Đức Phật khi chiến đấu với ma quân, chỉ dùng có bốn loại binh khí: Nhân từ là do tự tâm phát khởi ḷng thương yêu tất cả mọi loài. Chánh định là do lóng lặng tâm tư mà được thanh tịnh, nhờ tâm thanh tịnh nên trí tuệ phát sáng. C̣n phước nghiệp là do công hạnh làm lợi ích cho mọi loài. Chính bốn đức ấy hóa giải sự nhiễu hại của ma quân ở chính ḿnh. Như vậy, chúng ta vào đạo là phải giữ tâm không oán không thù lần lần để tâm lóng lặng cho trí tuệ phát sáng, và hành ngày làm việc thiện lành lợi ích cho mọi người. Đó là những điều căn bản không một người tu nào có thể thiếu được.

Tóm lại, tu theo đạo Phật chủ yếu là tránh ba nghiệp ác của thân miệng ư và tạo ba nghiệp lành. V́ nghiệp có sức mạnh đưa người tới chỗ khổ hay vui. Nếu tu mà nghiệp thức c̣n th́ dù có chứng thần thông siêu việt đến đâu cũng không giải cứu được khi nghiệp báo đến. V́ thế đạo Phật không trọng thần thông, mà sợ gây nghiệp ác, khuyên tạo nghiệp lành. Thế nên mọi hiện tượng huyền bí lạ lùng không phải là cái đích cho người tu Phật hướng đến. Người tu Phật chân chính là tự trau sửa ḿnh để trở thành người tốt, nhân từ đức hạnh, tâm b́nh an, trí tuệ sáng suốt, hằng ngày làm lợi ích cho mọi người, đó là điều cơ bản, không hiếu kỳ, không lười biếng, không ỷ vào thần quyền ma lực, tu như thế mới đúng với tinh thần của đạo Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 09:18 AM.
[email protected]
A vBSkinworks Design