Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Nghiên Cứu và Thảo luận

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 05-06-2009, 12:50 AM
PheTa's Avatar
PheTa PheTa is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jan 2009
Posts: 66
Thập Nhị Nhân Duyên - Thích Thông Huệ

Thập Nhị Nhân Duyên

Thích Thông Huệ
Nguồn http://daophatngaynay.com


I. - NỘI DUNG

»»Chu Hy Viết: "Cần kiệm cốt để trị gia, học hành cốt để khởi gia, ḥa thuận cốt để tề gia, làm theo công lư cốt để báo gia". Đây là phương châm làm người của nhà Nho, để trở thành người có ích cho gia đ́nh và xă hội.

»»Đối với nhà Phật, sự tu hành c̣n nhắm đến mục đích cao hơn: Xuất phiền năo gia và xuất tam giới gia. Đức Phật là bậc Vô Thượng Y Vương, có đến tám vạn bốn ngàn phương thuốc điều trị bệnh cho chúng sanh; trong đó có những cách thức điều trị tận gốc, giúp chúng sanh khỏi được tâm bệnh phiền năo và giải thoát được sinh tử luân hồi. Pháp môn quán chiếu về Thập nhị nhân duyên là một trong những phương pháp điều trị tiệt căn ấy.

»»Cùng với Tứ Diệu Đế, thập nhị nhân duyên là giáo lư rất quan trọng trong hệ thống kinh điển Nguyên thủy. Đây là mười hai yếu tố liên hệ hỗ tương với nhau theo lư duyên sinh và nhân quả, diễn biến trong cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Chúng thường được minh họa theo sơ đồ sau đây, gọi là Tam thế lưỡng trùng nhân quả (Ba đời và hai tầng nhân quả)


1- Nhân quá khứ (Gồm Vô minh và Hành, gọi là nhân khổ)

»»VÔ MINH được hiểu theo nhiều cách, tuỳ theo gốc độ nh́n của mỗi tông phái; tựu trung có hai nghĩa chính: Thứ nhất, Vô minh là không thấy các pháp đúng như thật, không nhận chân được thực tướng của các pháp là vô thường, duyên sinh vô ngă. Thứ hai, Vô minh là nhận lầm thân tứ đại và những tâm phân biệt lăng xăng làm thân tướng và tâm tướng của ḿnh, mà quên ḿnh đang sẵn đủ tự tánh bất sanh bất diệt. Đây là căn bản vô minh, là Hoặc.

»»Do Vô minh khuấy động, trong tâm phát khởi buồn thương giận ghét... Từ sanh tâm khởi ư thiện hoặc ác, đưa đến miệng và thân theo đó tạo nghiệp. Đây là HÀNH, động cơ chính để tái sinh.

»»Như vậy, v́ có vô minh nên có hành động tạo tác, v́ có Hoặc nên mới có Nghiệp, mới trở lại lục đạo luân hồi. Chúng sinh bị nghiệp lực lôi dẫn để thọ sanh, khác với các bậc Bồ Tát, cũng lăn lộn vào các cơi nhưng do nguyện lực. Các Ngài cũng làm tất cả để độ người; nhưng không thấy có người làm, việc làm và đối tượng làm nên không thuộc về Hành nghiệp.

2- Quả hiện tại ( Gồm Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc và Thọ, gọi là Quả khổ)

»»Đối với THỨC, chúng ta cần hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó là Thần thức hay Hương ấm. Khi thân trước mất đi, thần thức theo nghiệp dẫn để thọ thân sau. Nếu nghiệp không c̣n th́ thức cũng diệt, nên nói Hành duyên Thức. Nghĩa thứ hai, hiểu theo duy thức học, là Ư thức và Tàng thức. V́ chúng sanh vô minh, quên tánh giác, tạo nghiệp thiện ác nới phát sinh thức. Nếu giác ngộ, nhớ lại tự tánh thanh tịnh bản lai của ḿnh th́ thức không phải bị diệt, mà ngay đó chuyển thành Trí.

»»Thức làm duyên cho DANH SẮC h́nh thành. Danh là tinh thần, sắc là thể chất. Trong bào thai danh sắc tạo nên nhờ sự phối hợp của tinh cha huyết mẹ và thần thức gá vào. Danh sắc cũng có nghĩa là phần tinh thần và vật chất của một cơ thể khi c̣n trong bào thai.

»»LỤC NHẬP là sáu căn duyên với sáu trần. Khi đă ra đời, sáu căn tiếp xúc với sáu trần phát sinh sáu thức. Các căn càng trưởng thành càng dính mắc với trần cảnh, tác động qua lại tạo nên XÚC. Xúc là sáu căn tiếp xúc với sáu trần.

»»Khi có tiếp xúc giao thoa giữa căn và trần, cảm thọ phát sinh, nên xúc duyên THỌ. Thọ gồm ba loại : Khổ, lạc và trung tính. Cần phân biệt cảm thọ vui (lạc thọ) của phàm phu với niềm vui của các bậc đă giác ngộ. Lạc thọ h́nh thành do căn dính mắc theo trần, khi h́nh thành rồi trở lại chi phối thân và tâm. Đối với các Ngài, tuy vẫn đối duyên xúc cảnh nhưng không khởi niệm phân biệt chia chẻ, nên dù xúc và thọ mà tâm vẫn thanh tịnh an nhiên. Niềm hỷ lạc của các Ngài là một hạnh phúc đích thực v́ có chánh niệm và thanh tịnh.

3- Nhân hiện tại (Gồm Ái, Thủ và Hữu)

»»Ái là ưa thích, đam mê. Đây là Chi mạc vô minh hay Nhuận sanh vô minh, cũng là Hoặc.

»»Phàm phu chúng ta có rất nhiều đam mê khát ái, nhưng quan trọng nhất là Ái ngă. Do yêu ḿnh nên t́m mọi phương tiện phục vụ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của chính bản thân. Ngay cả t́nh cảm thương yêu đối với người khác, ngẫm lại cũng chỉ v́ ḿnh mà thương. Cho nên, t́nh cảm nào cũng có tính ích kỷ, không nhiều th́ ít. Cũng chính v́ ái ngă, nên khi mất thân này liền t́m thân khác, tiếp tục ṿng quay sinh tử.

»»V́ sao có Ái ? - Bởi v́ vô minh nhận thân tâm huyễn hóa làm thật ḿnh; từ chấp ngă rồi chấp ngă sở đều có thật nên sanh tham ái. Ái lại làm tăng trưởng vô minh, nên hai yếu tố này có sự liên hệ hết sức chặc chẽ, và là hai động lực vô cùng mạnh mẽ làm chuyển động bánh xe luân hồi.

»»Cũng do ái ngă nên những ǵ bên ngoài làm ḿnh vừa ư, ḿnh lại muốn chiếm hữu. Đây là THỦ. Giữ lấy cho riêng ḿnh là hành động tạo tác nên thuộc nghiệp. Khi chiếm giữ được, liền phát khởi ư có sở đắc (HỮU). Hữu là điều kiện để tái sanh vào ba cơi, nên c̣n được chia thành Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu

4- Quả vị lai (Gồm sanh và lăo tử)

»»Có nhân hiện tại tức có điều kiện tái sinh ở vị lai. Một hữu t́nh lại chào đời (SANH). Trong hữu t́nh này cũng có yếu tố Vô minh, Thức..., Ái, Thủ, Hữu. Quy luật tất yếu của cuộc sống là có sinh trưởng th́ phải có hoại diệt, nên SANH duyên LĂO TỬ.

»»Như vậy mười hai nhân duyên đă giải thích tường tận guồng máy sinh diệt của loài hữu t́nh. Duyên hợp lại là sinh, duyên tan là diệt. Đi theo chiều thuận, nhân quá khứ sanh quả hiện tại (tầng nhân quả thứ nhất), và nhân hiện tại sanh quả vị lai (tầng nhân quả thứ hai). Đây là chiều lưu chuyển. Trong mỗi tầng nhân quả đều có Hoặc – Nghiệp – Khổ:
1.
»»
Phần đông các nhà nghiên cứu về Phật học thường theo chiều lưu chuyển của mười hai nhân duyên để chứng minh và giải thích luân hồi, mà chủ yếu làm thế nào liễu thoát sinh tử. Cho nên mới có chiều ngược lại, từ quả phăng lần đến nhân: Mọi người đều già chết (Lăo tử); V́ sao có già chết? – V́ có Sanh. Cứ đi ngược lần lên đến tận cùng, ta hiểu rơ bản chất của sanh tử là vô minh.. Đây là chiều hoàn diệt. Muốn giải quyết vấn đề sinh tử, phải giải quyết nơi nhân. Chúng ta thấy Đức Phật đă khéo dùng phương pháp đi ngược từ quả đến nhân, lần đầu tiên khi giảng về Tứ Diệu Đế; cuộc đời là khổ (Khổ – quả); T́m hiểu v́ sao có khổ (Tập nhân); trừ hết nguyên nhân gây khổ sẽ có an lạc giải thóat (Diệt- quả); Các phương pháp để đạt được giải thoát (Đạo – quả). Nguyên nhân của khổ tức Tập nhân trong Tứ Diệu Đế cùng tương đồng với Ái – Thủ trong mười hai nhân duyên; và chẳng khác ǵ vọng tưởng sanh diệt mà nhà Thiền chủ trương buông bỏ.

II – Ư NGHĨA

»»Kinh A Hàm, Phật dạy: “Cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt”. Đây là một định lư về duyên sinh duyên khởi . Tất cả các pháp từ vô t́nh đến hữu t́nh đều vay mượn nhau, hỗ trợ nhau, nương tựa nhau mà sinh khởi và tồn tại. Ví như một bó lau, cùng nương vào nhau để đứng vững; nếu một cọng lau ngă xuống, những cọng khác khó thể trụ lại.

»»Mười hai nhân duyên cũng thuộc giáo lư Duyên sinh, nhưng hạn cuộc cho loài hữu t́nh. Nếu nh́n theo chiều dọc từ trên xuống dưới, th́ chi phần trên làm duyên cho chi phần dưới phát sinh. Vô minh là Hoặc nhân của quá khứ, làm duyên phát sinh Hành nghiệp. V́ là nhân quá khứ, nên hiện tại người tu không thể sữa đổi ǵ được đối với Vô minh, mà chủ yếu chỉ chuyển hóa nhân hiện tại là Ái Thủ Hữu. Nhân hiện tại bị diệt trừ th́ không có quả vị lai. Sanh lăo tử ngay nay đoạn dứt.

»»Tuy nhiên, cách hiểu ấy chỉ là khái niệm về nhân quả theo tuyến tính, theo thời gian, không phản ứng đúng tinh thần tương tức và tương nhập của đạo Phật. Thật ra mỗi chi phần đều vừa là nhân vừa là quả của mười hai chi phần c̣n lại, và ảnh hưởng ở cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Rơ ràng là trong vô lượng kiếp chúng ta đă vô minh, v́ vô minh mới tạo nghiệp trầm luân trong sinh tử. Kiếp này chúng ta cũng đang vô minh, đang tạo nghiệp; và trong tương lai, nếu không thức tỉnh, chúng ta sẽ lại vô minh và tạo nghiệp không có ngày cùng. Như vậy vô minh có mặt ở cả ba thời.

»»Lại nữa, Vô minh có mặt trong Hành nên tác ư khởi niệm, sanh phiền năo; đến lượt phiền năo trở lại tác động làm Vô minh nặng thêm. Đây là liên hệ hai chiều, Vô minh duyên Hành và Hành cũng duyên Vô minh. Vô minh cũng đồng thời có mặt trong Thức, Danh sắc, Lục nhập… Nếu thức không có vô minh v́ sao lại bị nghiệp dẫn lôi, thọ sanh theo nghiệp? Nếu Lục nhập không có Vô minh sao đối duyên xúc cảnh lại sanh tâm phân biệt, không thấy được thực tướng của các pháp? Nếu Ái không có vô minh th́ không có ư thức chấp ngă và ngă sở. V́ có vô minh mới có phiền năo, mà phiền năo khổ đau th́ luôn hiện hữu trong cuộc sống. Suy ra toàn bộ các chi phần khác, chúng ta sẽ thấy rơ sự tương quan trùng trùng điệp điệp: Mỗi chi phần có liên hệ nhân duyên với chi phần kế cận, đồng thời cũng liên hệ như thế với tất cả những chi phần c̣n lại. Sự tương quan này chằng chịt mật thiết trong cả không gian lẫn thời gian, không có điểm đầu tiên, cũng không có điểm tận cùng.

»»Tuỳ theo cách hiểu về mười hai nhân duyên và tuỳ theo sở thích, hành giả có thể áp dụng nhiều phương pháp về công phu. Nhưng tựu trung có hai mắt xích quan trọng. Nếu phá được một trong hai, có thể phá vỡ được sự liên hệ chằng chịt giữa các chi phần: đó là Vô minh và Ái, hai chi phần này là những lực tác động hết sức mănh liệt làm chuyển động bánh xe luân hồi, đều có cùng bản chất vô minh.

»»Hành giả tu theo Duyên Giác, thực hành pháp quán về mười hai nhân duyên. Lúc đầu theo chiều lưu chuyển để thấy rơ sự vận hành của guồng máy sinh tử, trong tinh thần "Cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh”. V́ Vô minh sanh nên Hành mới sanh, v́ Hành sanh nên có Thức sanh... tiếp tục cho đến cuối cùng là Sinh - Lăo - Tử. Sau đó hành giả quán theo chiều hoàn diệt trong tinh thần "Cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt". Tuy vậy v́ Vô minh là tập nhân hùng hậu, khó thể can thiệp được, nên hành giả tập trung tâm lực trừ nhân hiện tại là Ái. Do Ái diệt nên Thủ - Hữu không c̣n; Thủ - Hữu diệt nên Sanh - Lăo tử diệt; hành giả liễu thoát sinh tử, đạt quả vị Duyên Giác là Bích Chi Phật. Nếu sinh ra đời không gặp Phật pháp, tự quán lư duyên sinh của trời đất mà ngộ, hành giả được tôn xưng là Độc Giác Phật.
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 05-06-2009, 12:51 AM
PheTa's Avatar
PheTa PheTa is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jan 2009
Posts: 66
Hành giả tu theoThiền Đốn Ngộ quan niệm về mười hai nhân duyên bằng tinh thần tương tức tương nhập, đă nói ở trên. Vô minh và Hành là biệt danh của Ái - Thủ - Hữu; Thức - Danh sắc - Lục nhập - Xúc. Thọ là biệt sanh của Sanh - Lăo tử. Các vị quán chiếu sự liên hệ hỗ tương trùng điệp của tất cả chi phần, Ngộ được lư duyên sinh, chứng trí Vô ngă, không c̣n chấp lầm thân tâm sinh diệt vô thường là thật ḿnh. V́ vậy, đoạn trừ Căn bản cô minh. Đây là lối tu ngay gốc, khi gốc bị diệt th́ các ngọn ngành theo đó tự tiêu. Nhưng làm thế nào để đoạn trừ được căn bản Vô minh? - Khi tâm hành giả hoàn toàn rỗng lặng, bặt hết mọi ư niệm phân biệt so sánh, biết tất cả các pháp mà không sanh tâm trên chúng, cái biết ấy mới ở trong trạng thái như thị. Đây là cái "Tri kiến vô kiến" đức Phật đă dạy trong kinh Lăng Nghiêm, hành giả thấy Niết bàn ở ngay: tại đây và bây giờ, không giở chân mà đến. Muốn t́m nước phải ngay sóng mà nhận, ngay trong phiền năo phải thấy được Bồ Đề. Nếu thấy rơ trong si mê có hạt giống trí tuệ, trong Vô minh đồng thời cũng có Minh hiện hữu, ta sẽ hiểu được tinh thần bất nhị, một tư tưởng vút cao của nhà Phật.

»»Mười hai nhân duyên là một trong những giáo lư quan trọng trong hệ thống kinh điển của đạo Phật. Giáo lư này cũng nhầm giải thích và chứng minh luân hồi, nhưng chủ yếu nhầm đưa đến phương pháp giải thoát sinh tử. Chúng ta không chỉ hiểu mười hai nhân duyên theo "Tam thế lưỡng trùng nhân quả", trong đó các chi phần liên hệ nhau theo chiều thời gian; mà nên hiểu theo tinh thần "Trùng trùng duyên khởi"; các chi phần liên hệ chằng chịt tương hỗ lẫn nhau theo không và thời gian, trùng điệp vô thuỷ vô chung. Áp dụng vào công phu tu hành, chúng ta theo thứ lớp đoạn trừ Chi mạt Vô minh là Ái, rồi dần đến Thủ và Hữu. Đây là lối tu tiệm, cần dụng công nhiều, buông bỏ lần như chặt các ngọn. Tinh thần tu tập, một thời gian lâu xa sẽ thành công, v́ có tu có tiến. Lối tu thứ hai theo Thiền Đốn Ngộ, chúng ta đoạn trừ căn bản Vô minh, thật ra không phải là "đoạn trừ vô minh" mà là "nhận ra Minh ngay tại đó". Tuỳ theo căn cơ và sở thích, chúng ta tự chọn cho ḿnh một con đường, miễn sao đạt được mục đích tối hậu của đời tu: ra khỏi nhà phiền năo và ra khỏi nhà tam giới.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 05:33 AM.

A vBSkinworks Design