| ||||
|
Mới sinh ra, Mạt-na chưa phát triển, c̣n hợp chung với A-́ại-ya (hoặc tiềm ẩn trong A-lại-ya) nhưng đă có những hạt từ tổ tiên lưu lại, ngoài ra, ảnh hưởng của cơ thể, tư tưởng tính t́nh và thần kinh của người mẹ cũng tạo ra những hạt giống. Mạt-na làm mọi thứ trên đời trở thành rắc rối. Khi chết, A-lại-ya trở thành Amala, chân tinh khiết vĩnh hằng và phổ quát (miết bàn, chân không). Mạt-na và các vọng thức đều biến mất. III- Thiền học và khoa học hiện đại Tâm rất ráo là không. Nhờ đó, ta có thể hiểu được tâm lư học của Phật giáo kết cuộc tâm ta là chân như, niết bàn, vắng lặng, không nghĩ tính. Thân ta cũng chỉ là riêng tư, nó không có, nhưng v́ “thấy" mà nó hiện hữu. Thân và tâm là không, là vô, nhưng do ư thức mà trở nên có. Nói cách khác, cả hai cũng là ư thức. Nghe như thế, người ta nghi ngờ, họ bảo: những đồ vật (như bàn, ghế, cái gạt tàn thuốc...) có thể thấy được, sờ được kia mà! Nhưng chúng ta có thể hiểu được điều dường như mâu thuẫn này nhờ những chứng cớ khoa học, chẳng hạn trong thuyết tương đối, Eilnstein đă nêu ra sự tương đồng của vật chất hữu h́nh và năng lượng vô h́nh, mà rơ nhất là qua công thức E-mC2 (E: là năng lượng, m: là vật chất khối, C: là tốc độ). Công thức nền tảng của khoa học năng lượng hạt nhân này đă xác minh cho quan điểm "sắc (hữu thể) tức là không, và không (vô thề) tức là sắc" (sắc tức thị không, không tức thị sắc) của Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Da Tâm Kinh (bởi vậy, có người nghĩ rằng Đức Phật cũng là một nhà khoa học). Với sự phân tích sơ đẳng những vật hữu h́nh, sờ nắm được thành ra các nguyên tố, ta cũng đủ biết các vật sở dĩ có “y như thế” là v́ ta thấy thế. Như vậy, các vật có thể phân ră thành các nguyên tố hoá học: A, O, C, N… vật chất cũng tự phân hoá thành thể đặc, thể lỏng, thể hơi. Nhưng nếu phân tích sâu xa hơn, người ta có thể khám phá ra rằng ờ gốc nguồn, các thành Phần cấu tạo của những nguyên tố này giống nhau. Không có ǵ khác nhau ở căn nguyên. Để hiểu rơ hơn, ta có thể dựa vào nguyên tử học. Khoa học này cho thấy nguyên tử tự phân thành các electron (âm điện tử), proton (dương điện tử), neutron (trung hoà tử) và những vi phân tủ có thể phân nhỏ măi cho đến cùng. Cứ phân chia nguyên tử ra măi, người ta sẽ thấy chẳng có ǵ tuyệt đối trống không. Trong trạng huống trống không, chẳng c̣n ǵ biến đổi, khác biệt. Đại vũ trụ hàm ẩn trong h́nh ảnh của tiểu vũ trụ. Con người hôm nay tự cho ḿnh có thể chinh phục vũ trụ, đây là điều không thể làm được, v́ vũ trụ bao la quá sức. Những tính toán mới nhất của những nhà thiên văn cho thấy vũ trụ hạn hẹp của chúng ta là một h́nh bầu dục to rộng hàng trăm tỷ năm ánh sáng (1 năm = 9,461 tỉ km). So với toàn thể vũ trụ, cái h́nh bầu dục này chẳng lớn hơn một quả bóng đá. Vũ trụ cũng giống như neutron (trung ḥa tử) khó thấy, khó nắm bắt, đó là không, là bao la vô tận. Các nhà bác học bị hạn chế trong điều kiện của ḿnh, không thề đi đến nơi đến chốn. Thiền sẽ giúp cho khoa học cái ch́a khoá mở cánh cổng rào để bước vào khoảng mênh mông vô hạn. Tiểu vũ trụ và Đại vũ trụ là không, cũng như vô thức. Ta phải vượt qua khỏi kiến thức khoa học về không gian và thời gian, vượt qua cả không, thời gian. Chân không không phải là "không có ǵ" mà là chất liệu của vô tận. Tiếng Nhật gọi đó là Jisso (thực tánh), t́nh trạng trong không, tinh tuư khó nắm bắt, hoàn toàn tuyệt đối không thay đổi. Sự tương đồng với vật lư học. Từ khi có những khám phá của vật lư học phân tử, thấy được tính đối xứng cơ bản của vật chất, đối chứng giữa phân tử và phản phân tử (âm điện tử - và âm điện tử, dương điện tử và phản dương điện tử) người ta thấy chân không không c̣n là một cái khung đơn giản của các hiện tượng vật lư, một cái khung chết cứng. Tính đối xứng đó cho thấy những hiện tượng ảo là có thật: chân không có thể phân thành từng cặp đối lập rồi tất cả lại hoại diệt. Những hiện tượng như thế không phải là ảo, dĩ nhiên ta không thể thấy, nhưng cần phải lưu tâm nếu muốn tính toán chính xác những cấp độ của nguyên tử như Hyđrô (khinh khí) chẳng hạn. Như vậy, chân không không trơ ĺ, một phân tử không bao giờ ở trạng thái tự do, mà luôn tương tác với chân không qua những diễn biến phóng phát và tái hấp thu mà ta có thể xem đó là những dao động của chân không. Thế th́ chân không là hằng hữu, là dao động không ngừng. Và trong những hiện tượng phân cực của chân không đều có thể sinh ra từng cặp phân tử - phản phân tử. Như vậy chân không chứa đựng tất cả ở trạng thái tiềm ẩn. Một lư thuyết khác trong vật lư học gần với thiền là "Bootstrap" (dây kéo giày) của nhà vật lư học Mỹ Chew lư thuyết về yếu tố trung gian S trong những tương tác mạnh). Ông khám phá ra rất nhiều phân tử và giữa những phân tử này có những tương tác phức tạp. Vậy th́ cái ǵ phát sinh ra những động lực giữa các phân tử? Câu trả lời là: Những động lực này sinh ra do sự giao hoán của các phân tử. Như vậy, sự giao hoán giữa các phân tử là nguồn gốc của những động lực tạo ra chúng. Đó là cái ṿng khép kín nhân (sự giao hoán phân tử) và quả (sự hiện hữu của chính các phân tử). V́ thế Bootstrap có nghĩa là: kéo giày lên và chân cất lên. Tóm lại, thiền học luôn luôn quan niệm mọi vật là không, thân xác, tâm tưởng và mọi sự vật đều là không. Chỉ có không là hiện hữu, tồn tại măi măi. Nếu tinh thần và sự sống (sinh mạng) của chúng ta trở thành hư không hoàn toàn trong tọa thiền, th́ chúng ta có thể thâm nhập vào mọi sự vật. Nếu sự sống của ta bị giới hạn trong tự ngă hay tiểu bản ngă, th́ cuối cùng nó cũng bị giới hạn trong thân xác riêng tư chứ không hoà đồng rộng khắp. C̣n trái lại, tinh thần và thể xác của ta sẽ trở thành cái không vô biên, rộng khắp và vĩnh cửu (cũng như cặp phân tử và phản phân tử sinh ra từ hư không). (Ở đây cũng cần nói thêm về vấn đề "ư thức” theo quan diềm "bất nhị", không phân biệt của Phật giáo. Người đời thường có óc phân biệt nên thấy đây là thân "của ta" và kia là thân "kẻ khác", nhưng nếu có tâm v́ muôn muôn người th́ thân riêng không có. Đây cũng là tinh thần đem thân ḿnh chuộc lỗi cho loài người của Đức Jêsu Last edited by CamLy; 09-08-2007 at 04:56 PM. |