Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Nghiên Cứu và Thảo luận

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 12-20-2010, 01:32 PM
ThienTam's Avatar
ThienTam ThienTam is offline
Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 65
Thuyết Nhị Nguyên và Chân Lư Nhất Như

Lục Tổ nói:”không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái ǵ là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh?”. Khi con người không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ tốt, không nghĩ xấu, không nghĩ hay, không nghĩ dở …là họ đang sống với cái tâm b́nh thường của ḿnh. V́ thế Kinh Hoa Nghiêm có câu:”Bản lai diện mục, Niết bàn diệu tâm” là vậy. Con người thường hay có thói quen là so sánh hay dùng đối tượng để đối chiếu. Chẳng hạn cái nhà nầy th́ đẹp hơn cái nhà kia. Xe của tôi th́ sang hơn xe của anh. Nhà hàng nầy nấu ngon hơn nhà hàng kia…Đây là kết quả của thuyết Nhị Nguyên (Dualism). Thuyết nầy cho rằng các hiện tượng của nhân sinh vũ trụ là do hai thứ bản thể đối nghịch làm thành, như thiện và ác, thể chất và linh hồn…Thuyết nhị nguyên nầy rất được ưa chuộng đối với người Tây phương v́ nó giúp cho họ dễ dàng giải thích mọi hiện tượng hoặc đen hoặc trắng. Thí dụ một can phạm th́ hoặc là có tội hoặc là vô tội.

Đối với triết lư Tây phương th́ họ tin tưởng vào thuyết “Tiền Định” (Determinism) mà nhà Phật gọi là thuyết “Nhân Quả”. Thuyết nầy cho rằng toàn thể thiên nhiên, trong đó có loài người, được chi phối bởi luật nhân quả (the law of cause and effect) tức là mỗi hiện tượng xảy ra không thể nào tự có mà phải có nguyên nhân. Đây cũng chính là giả thuyết căn bản của khoa học để t́m hiểu những định luật của thiên nhiên. Đối nghịch với thuyết Tiền Định hay Nhân Quả là thuyết Vô Định (Indeterminism) mà nhà Phật gọi là thuyết “Nhân Duyên”. Thuyết nầy cho rằng mọi việc xảy ra đều là do t́nh cờ ngẫu nhiên chứ chẳng có liên quan ǵ tới bất kỳ những ǵ xảy ra trước đó. Hai thuyết Tiền Định và Vô Định là hai thái cực đă từng làm cho các triết gia Tây phương điên đầu bởi v́ cái nầy đúng th́ cái đó không thể sai được. Bởi có hai thái cực như thế nên thuyết Nhị Nguyên mới ra đời.

Nhưng việc đời không luôn luôn đơn giản như thế. Trong thế gian nầy có biết bao trường hợp ngoại lệ mà thuyết Nhị Nguyên đành bó tay. Chẳng hạn như có rất nhiều gia đ́nh trâm anh thế phiệt, đa số con cháu ngoan ngoăn nết na tức là hợp với thuyết Nhân Quả (Tiền định) tự nhiên lại có một đứa con lêu lổng hoang đàng tức là hợp với thuyết Nhân Duyên (Vô định). Ngược lại trong chốn bùn dơ lại có khi mọc lên một đóa hoa sen thơm ngát.

Chân lư của Đức Phật là xóa tan những biên giới của tư tưởng nhị nguyên để trở về với bản thể chân thật của nó là thân tâm nhất như. Chẳng hạn như hiện nay ở Hoa Kỳ danh từ sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể xác được áp dụng rất rộng răi. Khi tâm bất an th́ đi bác sĩ tâm lư c̣n bệnh về thể xác th́ chúng ta đi bác sĩ gia đ́nh. Nhưng đối với Phật giáo th́ tinh thần và thể xác là một. Tinh thần nằm trong thể xác và ngược lại. Thể xác có sinh tồn ổn thỏa cần có một tinh thần lành mạnh và con người muốn được an vui tự tại th́ cả tinh thần lẫn thể xác phải hoạt động ḥa điệu với nhau.

Chỉ có Phật giáo mới cho chúng ta thấy được lẽ thật của tất cả hiện tượng trong vũ trụ nầy mà không c̣n hồ nghi. Bởi v́ hễ bản thể có tới đâu th́ hiện tượng có tới đấy. Con người hiện nay v́ chạy theo thuyết Nhị Nguyên nên sống trong quay cuồng điên đảo v́ thế Đức Phật mới dạy chúng sinh quay về sống với nguyên lư Bất Nhị tức là không hai th́ tâm tư sẽ được ổn thỏa và cuộc sống sẽ trở lại an vui tự tại.V́ thế trong cái thế giới huyễn hóa nầy tất cả mọi người, mọi vật và mọi hiện tượng đều là Không và cũng chính từ trong cái Không nầy mà không có một cá thể riêng biệt độc lập nào có thể tách hẳn ra khỏi môi trường chung quanh được. Cũng như Sắc và Không th́ chúng không bao giờ có thể tách rời nhau được. Do đó không có ǵ là toàn Sắc và cũng chẳng có ǵ là toàn Không. Như thế Sắc tức là Không và Không tức là Sắc hay nói một cách khác Sắc và Không là một tức là bất nhị. Nếu áp dụng thuyết nhị nguyên vào trong đời sống gia đ́nh th́ người chồng và người vợ là hai. Chồng có tiền bạc riêng của chồng và vợ th́ hoàn toàn độc lập riêng của vợ. Thử hỏi gia đ́nh nầy thật sự có hạnh phúc không? Bây giờ nếu ứng dụng nguyên lư bất nhị th́ chồng tức là vợ và vợ chính là chồng, tuy hai nhưng mà một th́ gia đ́nh nầy mới thật sự hạnh phúc. V́ thế cổ nhân có câu:”của chồng công vợ” là vậy.

Tất cả vạn pháp mà ngũ quan nhận biết được thật ra chỉ là cái Tướng giả Có bên ngoài. C̣n cái bản thể chân thật bên trong mà nhà Phật gọi là Tự tánh thanh tịnh th́ bất biến không thay đổi. Nếu nh́n theo Tướng th́ có phân biệt tốt xấu, lớn nhỏ tức là nhị nguyên. Mà Tướng là giả Có, không thật. C̣n dựa theo Tánh th́ hoàn toàn đầy đủ, không cao không thấp, không tốt không xấu…V́ tốt xấu, cao thấp, sinh tử Niết bàn, phiền năo Bồ-đề vẫn là một. Nói một cách khác trong tốt có xấu, trong cao có thấp, trong sinh tử có Niết bàn và trong phiền năo có Bồ-đề. Bởi v́ một khi con người biết thức tỉnh loại bỏ hết phiền năo th́ Bồ-đề hiện ra chớ không phải là phiền năo một nơi mà Bồ-đề ở nơi khác. Thiện ác th́ cũng thế. Khi nói thiện th́ phải có đối tượng là ác. Do đó đạo Phật dạy không nghĩ thiện, không nghĩ ác tức là tiêu diệt đối tượng. Không c̣n đối tượng tức là bỏ phân biệt, bỏ so sánh th́ tâm không chạy theo vọng niệm v́ thế đây mới chính là thể tánh chân thật có sẵn trong tất cả mọi người, đó là chơn tâm vậy. Cái tánh thấy, tánh nghe hay tánh biết cũng chính là tự tánh thanh tịnh nầy mà ra.

Thêm nữa, khi Lục Tổ nói bản lai diện mục tức là gương mặt thật sẵn có muôn đời của chúng ta và đó cũng chính là cái chơn tâm, cái Phật tánh của chúng ta vậy. Khi không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ tốt, không nghĩ xấu th́ tâm không nghĩ tức là tâm không khởi vọng niệm. Bởi v́ có bất cứ một ư niệm nào trong tâm cho dù tốt hay xấu th́ cũng là vọng niệm, mà khởi niệm là vọng động sẽ làm mất cái chân thật tức là chơn tâm của ḿnh. Do đó tâm dừng nghĩ th́ chơn tâm mới hiện bày. V́ thế Lục Tổ khuyên nếu Thượng tọa Minh đừng để tâm chạy theo vọng niệm th́ chơn tâm sẽ hiện bày. Cái chơn tâm nầy chính là cái tánh giác sẳn có trong Thượng tọa Minh và cũng trong tất cả mọi chúng ta.

Sau khi ngộ đạo chính Lục Tổ cũng thốt luôn năm cái không ngờ. Ngài nói:

1) Không ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh,

2) Không ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt,

3) Không ngờ tánh ḿnh vốn tự đầy đủ,

4) Không ngờ tánh ḿnh vốn không giao động,

5) Không ngờ tánh ḿnh hay sanh muôn pháp.

Khi chúng ta sống mà không tranh giành, hơn thua, phân biệt th́ tâm của chúng ta sẽ vô cùng trong sạch, thanh tịnh và không c̣n phiền năo. Cái tâm nầy chính là cái tâm thanh tịnh thường có trong tất cả mọi người mà chúng ta bỏ quên để chạy theo tâm phiền năo khổ đau. Cái tâm thanh tịnh nầy chính là thật Tánh của chúng ta. Đó là cái không ngờ thứ nhất.

Con người v́ chạy theo vọng niệm nên cuộc sống lúc nào cũng điên đảo mà tạo ra nghiệp. Tự tánh vốn thanh tịnh nên không khởi vọng niệm. Nếu không khởi vọng niệm th́ chúng ta không gây ra nghiệp. Mà không tạo nghiệp th́ không c̣n sanh diệt tức là hoàn toàn viễn ly sanh tử luân hồi. Đó là cái không ngờ thứ hai.

Bất cứ ai khi vừa mới vừa lọt ḷng mẹ th́ tự nhiên bật khóc oa oa mà không cần ai dạy. Lớn lên một chút chúng biết ḅ rồi biết đi cũng là tự biết chớ không phải chờ cha mẹ dạy mới biết. Khi đói th́ chúng khóc đ̣i ăn, buồn ngũ th́ chúng lăn ra ngủ. Tất cả những cái biết có sẵn như thế th́ gọi là tự tánh. Con người ai cũng có sẵn cái tự tánh từ khi mới lọt ḷng mẹ cho đến bây giờ. Cái tự tánh nầy không thêm, không bớt cho nên Lục Tổ mới nói tánh ḿnh vốn tự đầy đủ là như vậy. V́ không biết điều nầy nên con người bỏ tánh mà chạy theo vọng trần tức là sống với cái trí thức điên đảo bên ngoài. Đây là cái không ngờ thứ ba.
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 12-20-2010, 01:33 PM
ThienTam's Avatar
ThienTam ThienTam is offline
Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 65
Cuộc sống càng văn minh phức tạp th́ con người càng suy tư, nghĩ ngợi. Suy nghĩ về ḿnh, về người, suy nghĩ về tinh thần và suy nghĩ về vật chất. Có ít th́ suy nghĩ ít, có càng nhiều th́ suy đêm nghĩ ngày. Con người càng suy nghĩ th́ tâm càng vọng động. Mà suy nghĩ là tâm chớ không phải là tánh. Nhưng tự tánh của con người vốn thanh tịnh, không suy nghĩ và không giao động. V́ thế hằng ngày con người sống với tâm điên đảo quay cuồng thay v́ sống với tự tánh thanh tịnh của ḿnh. Đó là cái không ngờ thứ tư.

Bản thể chân như tức là tự tánh của con người th́ thường hằng bất biến. Nhưng từ cái bất biến nầy mà duyên sanh ra vạn pháp. Nói một cách khác Chơn không mà Diệu hữu tức là bất biến mà tùy duyên có nghĩa là từ cái Không mà sinh ra tất cả. Đó là cái không ngờ thứ năm.

Nói tóm lại sự kiến tánh của Lục Tổ và của tất cả chúng sinh là khi con người biết quay về sống với cái tự tánh thanh tịnh của ḿnh th́ chơn tâm từ từ hiện ra. Đây là con đường giải thoát giác ngộ. Ngược lại nếu chúng sinh chay theo tâm tức là chạy theo vô minh vọng tưởng th́ dĩ nhiên cuộc sống sẽ trở thành khổ đau, điên đảo. Càng vô minh điên đảo th́ càng tạo nghiệp và đây là con đường sinh tử luân hồi.

Lục Tổ lúc nào cũng chủ trương con người có thức tỉnh giác ngộ được hay không là bởi nơi tự tâm chớ không nhất thiết do nơi ngồi thiền. V́ thế pháp tu của Lục Tổ Huệ Năng được tóm gọn là:

“Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc”.

Dựa theo Pháp Bảo Đàn kinh th́ Vô niệm là đối với niệm mà không niệm. Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không ô nhiễm tức là vô niệm. Do đó khi sáu căn không dính mắc nơi sáu trần khiến cho sáu thức được hoàn toàn thanh tịnh, không bị ô nhiễm, hoàn toàn tự tại th́ đây chính là vô niệm. Lục Tổ nói tiếp:

“Người ngộ được pháp vô niệm th́ muôn pháp đều thông, người ngộ được pháp vô niệm th́ thấy cảnh giới của chư Phật và người ngộ được pháp vô niệm th́ đến địa vị Phật”.

Ngài Thần Hội phụ thêm ư nghĩa chữ vô niệm là:

“Vô niệm tức là không có cảnh giới hay đối tượng nào cả. Nếu c̣n một cảnh giới tức chẳng tương ưng với vô niệm”. Và ngài lại nói thêm:

“Người khéo thấy vô niệm th́ sáu căn chẳng ô nhiễm. Thấy vô niệm tức hướng về Phật trí. Thấy vô niệm th́ gọi là thật Tướng”.

Thiền sư Huệ Hải là đệ tử của Mă Tổ Đạo Nhất, cháu đời thứ ba của Lục Tổ Huệ Năng cũng nhấn mạnh về ư nghĩa của chữ vô niệm rằng:

“Vô niệm là ở tất cả chỗ mà không tâm, không tất cả cảnh, không có những nghĩ cầu và đối với các cảnh sắc mà không khởi động. Người được vô niệm sáu căn không nhiễm và tự nhiên được vào tri kiến chư Phật”.

Thế nào là vô tướng làm thể?

Con người v́ mê lầm mà nghĩ rằng thân ḿnh tức là ngũ uẩn là thật và vạn pháp sinh diệt cũng là thật cho nên cuộc sống mới quay cuồng đau khổ. Bây giờ nếu chúng sinh quay lại để thấy cái thật Tướng của con người cũng như vạn hữu là Vô tướng th́ sẽ không c̣n điên đảo nữa. Mà thật Tướng chính là cái Thể, không sanh không diệt, của vạn hữu trong vũ trụ nầy. Thêm nữa, chân như tức là Thể của niệm và niệm chính là dụng của chân như.

Nhưng thế nào là vô niệm?

Vô niệm là không tà niệm chớ không phải là không chánh niệm. Tại sao?

Nếu chúng ta niệm có, niệm không chẳng hạn như niệm thiện, niệm ác, niệm khổ vui, sanh diệt, niệm oán thân, yêu ghét là tà niệm. C̣n chẳng niệm thiện, niệm ác, niệm vui, niệm sướng là chánh niệm.

Thế nào là Vô trụ làm gốc?

Vô trụ là tâm không dính mắc ở nơi nào tức là sáu căn không dính mắc sáu trần. Nếu được như thế th́ tâm vô trụ tức là tâm Phật, hay là tâm giải thoát, tâm Bồ-đề, hoặc tâm vô sanh. Đây chính là chứng được vô sanh pháp nhẫn vậy.

Toàn bộ hệ thống tu của đạo Phật đều lấy phản quang tự kỷ làm trọng tâm v́ phản quang tự kỷ có nghĩa là xem xét và quán chiếu lại ḿnh từ thân thể cho tới nội tâm để thấy rơ thân thể và nội tâm của ḿnh như thế nào. Chẳng hạn như quán thọ th́ khổ có nghĩa là con người phải quay lại để xem tất cả những cảm giác do sáu trần đến với ḿnh th́ chúng ta cảm nhận rơ ràng chúng đều vô thường, không thật Có và là gốc của khổ đau. Khi chúng ta bỏ tâm vọng tưởng mà phản quang tự kỷ để thấy được cái thật tánh thanh tịnh của ḿnh th́ đây chính là Như Lai Thanh Tịnh thiền. Do đó khi đi, đứng, nằm, ngồi con người lúc nào cũng giữ Chánh Niệm tức là theo tánh giác th́ cũng như chúng ta đang tọa thiền vậy. Đối với những bậc thượng căn lợi trí như Lục Tổ Huệ Năng th́ họ tiến xa hơn phản quang tự kỷ để đến trạng thái gọi là hồi quang phản chiếu.

V́ thế mỗi khi Lục Tổ thấy đệ tử ngồi thiền th́ ngài liền kéo lỗ tai bắt phải đứng dậy. Vậy không ngồi thiền mà làm sao ngài được giác ngộ? Phương pháp hồi quang phản chiếu mà Lục Tổ đă thực hành viên măn là luôn luôn nhớ nơi sáu căn thường sáng tỏ mà không phóng ra ngoài. Câu:”Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang làm ngài kiến tánh. Có thật chỉ có một câu kinh nầy mà đủ tiềm năng và sức mạnh để đưa con thuyền Huệ Năng sang bờ giác ngộ hay sao? Sự minh tâm kiến tánh của Lục Tổ không phải là một sự tự nhiên mà có mà đây chính là sự thức tỉnh toàn vẹn để sống với tự tánh của ḿnh. Đó là sáu căn không dính mắc nơi sáu trần th́ tâm hoàn toàn thanh tịnh và cái tâm nầy chính là chơn tâm, là cái tự tánh thanh tịnh sáng suốt thường có trong mỗi chúng ta. Nhưng thế nào là sáu căn không dính mắc nơi sáu trần? Sáu căn là mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ư và sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.

Khi mắt thấy sắc mà tâm mê theo sắc là chạy theo sinh tử, c̣n tâm không chạy theo sắc là đạt quả Bồ đề. Thí dụ như mắt thấy một chiếc xe thật mới, thật đẹp và lộng lẩy mà tâm của chúng ta không rung động tức là ḷng tham không nổi dậy. Tại sao chiếc xe đẹp như thế mà chúng ta không si mê? Khi biết vạn pháp giai không th́ trên đời nầy có cái ǵ là thật đâu? Cái h́nh tướng đẹp đẻ bề ngoài nầy chỉ là giả tướng, là do nhân duyên tạo thành nên bị sinh diệt. Do đó cái đẹp ngày nay của chiếc xe chỉ là tạm bợ, nhất thời bằng một lớp sơn bóng bên ngoài và nó cũng trở thành xấu và hư hoại như những chiếc xe khác nay mai mà thôi. Thế th́ xe vẫn là xe và ta vẫn là ta, chả có ǵ là quan trọng cả. Khi biết thế th́ tâm không khởi động niệm tức là tâm không dính mắc. Nên nhớ tâm không khởi vọng niệm và không phân biệt th́ đây chính là chân tâm vậy. Âm thanh th́ cũng thế. Khi nghe tiếng nhạc êm đềm hay lời khen, tiếng chê thị phi mà tâm không khởi vọng niệm phân biệt tức là ta không bị si mê hay tức giận th́ tâm không dính mắc.

Cái cạm bẩy trên thế gian nầy lúc nào vẫn là Tham-Sân-Si làm cho cuộc sống trở thành điên đảo. Không dính mắc là biết buông xả và không chạy theo tham dục nên không bị con rắn Tham-Sân-Si hành hạ. Nên nhớ tai và mắt là hai căn rất bén nhạy và nó chính là hai cánh cửa lớn để thâu nhập vọng niệm từ bên ngoài. C̣n lưỡi nếm những thức ăn ngon làm ta thích và thức ăn không ngon làm ta bực bội, không vui. Không dính mắc là ăn để sống chớ không phải ăn để gây ra phiền năo. Ngày nào chúng ta c̣n thích món nầy hay không thích món nọ là ngày ấy tâm c̣n dính mắc. Nhắc lại ngày xưa Đức Phật hằng ngày đi khất thực th́ Ngài thọ dụng bất cứ những ǵ chúng sinh cúng dường mà tâm luôn thường trụ Niết Bàn có nghĩa là bất cứ món nào Ngài ăn cũng ngon, miễn sao no bụng là xong.

Tấm thân của con người theo tinh thần Phật giáo cũng như chiếc bè dùng để qua bờ bên kia. Chúng ta ăn uống để nuôi thân cũng như tu bổ chiếc bè đừng cho đổ bể chớ đừng sơn son thép vàng mà quên đi cứu cánh là bến bờ bên kia chớ không phải chiếc bè. V́ thế nếu cung phụng cho thân tức là tham có nghĩa là tâm vẫn c̣n dính mắc. C̣n khứu giác th́ sao? Con người lúc nào cũng có khuynh hướng thưởng thức hương vị thơm ngon. Mùi thơm của hoa dạ lư, hoa lan hoặc hoa hồng làm cho con người sảng khoái và thích thú. Khi ngữi mùi hoa thơm th́ ḷng tê tái, sung sướng muốn hái nó đem cắm trong pḥng của ḿnh. Thế th́ từ ḷng si mê biến thành ḷng tham muốn chiếm hữu. Chẳng hạn như khi thấy mâm cơm trên bàn mà ngữi thấy đồ ăn thơm ngon th́ ḷng tham nổi dậy muốn ăn cho nhiều, cho thật no. C̣n ngữi không thơm ngon th́ đâm chán ghét, muốn đánh đổ nó đi. V́ thế một khi con người c̣n muốn thỏa măn khứu giác của ḿnh là tâm vẫn c̣n dính mắc.

Từ trước đến nay cái nghe của chúng ta là dựa theo âm thanh bên ngoài. V́ cái nghe duyên theo âm thanh bên ngoài nên được gọi là tùy lưu có nghĩa là trôi theo gịng bên ngoài. Bây giờ nếu chúng ta không trôi theo theo gịng bên ngoài mà chỉ nhớ đến tánh nghe mà tánh nghe th́ không có tướng mạo và trùm phắp mười phương nên không bị hạn chế hay ngăn cách th́ dĩ nhiên tâm không c̣n bị dính mắc. Mắt th́ cũng thế, đừng để thị giác duyên theo sắc trần mà chỉ quay về với tánh thấy th́ tâm không bị dính mắc.

Về sau Tổ Lâm Tế và những vị Tổ khác cũng không thích ngồi thiền mà chỉ hồi quang phản chiếu mà thôi. V́ thế khi giảng pháp cho đồ chúng th́ ngài hỏi:”Người đang nghe pháp đây là ai?”. Ư của Tổ Lâm Tế là sáu căn của con người là sáu cánh cửa để tiếp nhận gió lục trần. Nếu con người biết dùng tánh nghe, tánh thấy, tánh ngữi, tánh nếm…mà không bị dính mắc th́ người đó đang sống với cái tánh chân thật của ḿnh tức là họ đang ngồi thiền vậy. Người nào đạt được tŕnh độ như vậy dù ngồi giữa chợ cũng vẫn thiền như thường.
Reply With Quote
  #3 (permalink)  
Old 12-20-2010, 01:34 PM
ThienTam's Avatar
ThienTam ThienTam is offline
Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 65
Thật ra sống trong thế kỷ 21 nầy th́ phương pháp thiền mà không thiền của Lục Tổ rất hữu ích và có thể áp dụng được trong cuộc sống thường nhật ở bất cứ nơi nào cho tất cả chúng sinh. Khi một thiền giả chỉ đợi đến một giờ nhất định mới đi tọa thiền, khi thiền th́ yên lặng theo dơi từng hơi thở để cho tâm hoàn toàn tĩnh lặng, tự chủ và an lạc. Nhưng khi xă thiền và đối diện với cuộc sống xô bồ xáo trộn th́ họ đánh mất tính tự chủ và tâm thanh tịnh của ḿnh. Thêm nữa, trong thiền pḥng, thiền giả đi thiền hành từng bước chậm răi, khoan thai và có ư thức nhưng trong cuộc sống ngoài đời từ trong gia đ́nh, chợ búa, công sở…th́ họ trở thành một con người khác, đi đứng một cách hồ đồ, vội vă như bị ma đuổi v́ họ không c̣n giữ được chánh niệm bởi v́ vọng niệm đua nhau quấy phá và giết chết tâm thanh tịnh của họ.

Do đó nếu chúng ta muốn trở về với tâm thanh tịnh th́ có thể áp dụng phương pháp phản quang tự kỷ tức là dùng thiền định để làm cho tâm được an định trong một thời gian nhất định là 15 phút cho đến một giờ rồi sau đó nới rộng cái tâm an định nầy trong suốt 24 tiếng đồng hồ bằng cách luôn giữ Chánh Niệm th́ cũng t́m được sự an vui tự tại. Hoặc là lúc nào cũng thức tỉnh để có đủ nghị lực sáng suốt hầu ngăn chận sáu căn không cho dính mắc nơi sáu trần. Chúng ta có thể áp dụng phương pháp hồi quang phản chiếu để sống với cái tánh giác chân thật thanh tịnh đầy đủ của ḿnh. Khi tự tánh trong sáng được thể hiện th́ nó sẽ mang lại sự an lạc, yên vui và chính sự thức tỉnh kiến tánh nầy sẽ là kinh nghiệm mà ḿnh có thể sống măi trong đó, không bao giờ chấm dứt.

Con người sống trong thế gian nầy th́ hằng ngày lục căn tiếp xúc với lục trần mà ba cánh cửa chính là Thân-Khẩu-Ư luôn luôn phát khởi để tạo ra nghiệp. Nhưng trên thực tế th́ tuy thân khẩu ư tác tạo nhưng cội nguồn vẫn phát xuất từ tâm. Khi chúng ta muốn mắng chửi người nào th́ trước nhất chúng ta phải có những ư niệm không tốt về người nầy và sau đó tâm mới phát họa thêm ra những h́nh ảnh xấu để chúng ta ghét họ và sau cùng mới đánh chửi họ được. Thế th́ tất cả những tội nghiệp mà chúng ta đă gây ra đều phát xuất từ tâm. Nhưng tâm là Tướng tức là không thật. Nếu tâm không thật th́ tội nghiệp làm ǵ có thật? Đức Phật dạy thêm rằng:”tội nghiệp từ tâm sanh, cũng từ tâm diệt”.

Nếu chúng ta nghĩ rằng nếu ḿnh có gây ra tội nghiệp thật th́ sẽ có quả báo thật. Nói như thế có nghĩa là chúng ta xác nhận tâm là thật, tội nghiệp cũng thật và dĩ nhiên quả báo cũng là thật. Nhưng tâm là vọng tưởng chứ đâu có thật. Chỉ có Thể là thật tánh, là chân như thanh tịnh mới là thật. Do đó nếu tâm không thật, tội nghiệp cũng không thật th́ quả báo làm sao có thật? Nói như vậy có nghĩa là gốc của tội nghiệp phát xuất từ tâm mà tâm nầy chính là tâm sinh diệt tức là tâm nghĩ thiện, nghĩ ác, nghĩ tốt, nghĩ xấu mà thôi. Biết tâm là sinh diệt th́ con người phải quay về tâm để trừ cái sinh diệt nầy th́ làm ǵ c̣n tội nghiệp. Thí dụ như hiện nay ta đang oán hận ai và muốn t́m cách để hảm hại hay tiêu diệt người nầy. Muốn hại người là do tâm. Bày mưu lập chước để hại người cũng bởi do tâm. Nếu biết thức tỉnh quay về dập tắt cái tâm cuồng loạn nầy th́ tâm bất thiện không c̣n nữa. V́ thế tâm diệt th́ tội nghiệp cũng theo đó mà diệt.

Nếu dựa theo Lục Tổ là tâm của chúng ta không nghĩ thiện, không nghĩ ác, buông xả hết tất cả th́ cái tâm sinh diệt sẽ được yên lặng. Tâm mà yên lặng th́ tự tánh sẽ hiện bày để giúp con người sống yên vui thanh tịnh. Tâm kinh lại dạy rằng ngũ uẩn giai không tức là thân nầy không thật. Thân của chúng ta không thật v́ thân nầy là do trùng trùng duyên khởi hợp lại mà thành. Thân th́ không thật mà hành động tạo tác phát xuất từ thân nên cũng hư dối. Một khi hành động không thật th́ tội nghiệp do thân tạo ra làm sao thật được? V́ thế thiền sư Huyền Giác mới có câu:

Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không

Vị liễu ưng tu thường túc trái.

Dịch là:

Liễu ngộ tức nghiệp chướng xưa nay không

Chưa liễu ngộ cần phải đền nợ trước.

Đối với các bậc liễu ngộ th́ họ thấy các pháp duyên hợp th́ không thật. Mà thân nầy chính là do pháp duyên hợp nên thân là hư dối. Hành động tạo tác phát xuất từ thân th́ lại càng không thật. Do đó họ thấy rằng hành động không thật th́ nghiệp do hành động tạo thành làm sao thật được? Bởi biết nghiệp không thật nên họ xem thường và không quan trọng v́ thế nếu nghiệp có đến th́ họ xem cũng như tṛ chơi chả có ǵ phải kinh hoàng sợ hăi. Khi vua Kế Tân muốn giết hại Tổ Sư Tử nên cầm dao đến trước mặt Tổ mà nói rằng:

- Có thật ngài thấy ngũ uẩn giai không chăng?

Tổ đáp:

- Đúng vậy.

Vua nói thêm:

- Nếu thế ngài có thể cho tôi cái đầu được không?

Tổ đáp:

- Năm uẩn đă không sá ǵ cái đầu.



Nhà vua liền chặt đầu ngài.



Đối với cái nh́n của chúng ta th́ cái chết của Tổ Sư Tử chẳng qua là để trả nghiệp. Luật nghiệp quả không sót một ai cho dù kẻ đó là người chứng đạo. Trường hợp nầy cũng giống như tôn giả Mục Kiền Liên bị bọn ngoại đạo lăn đá trên núi cao đè chết mặc dù tôn giả là đệ nhất thần thông hay là ngài Huệ Khả bị giết trong khám. Nhưng thật ra dưới mắt của người ngộ đạo th́ nghiệp là hư dối, không thật th́ làm ǵ có chuyện trả nghiệp. Thân là giả th́ nghiệp cũng không thật nên họ thong dong tự tại không vướng mắc, lo âu hay sợ hăi.

Nên nhớ thân không thật, hành động không thật và tội nghiệp cũng không thật nhưng không phải là không Có, tất cả chỉ là hiện tượng duyên sinh nên không thật Có. V́ thế tội nghiệp tuy không thật mà chẳng mất.

Ngày xưa ngài Tăng Xán bị bệnh cùi rất đau khổ nghe danh Tổ Huệ Khả nên đến nghe pháp. Khi gặp Tổ th́ ngài thưa:

- Bạch Ḥa Thượng! con nghiệp chướng nặng nề nên phải mang bệnh nan y xin Ḥa thượng dạy con phương pháp sám hối.

Tổ Huệ Khả cũng dùng thuật của Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi xưa nên nh́n thẳng vào mặt Tăng Xán mà nói rằng:

- Đem tội nghiệp ra, Ta sẽ sám cho.

Ngài Tăng Xán quay lại t́m nhưng t́m măi mà không thấy tội nghiệp ở đâu nên thưa:

- Bạch Ḥa thượng! Con t́m tội không được.

Tổ Huệ Khả bảo:

- Ta đă sám hối cho ngươi rồi đó.

Ngài Tăng Xán quay lại t́m tội nghiệp của ḿnh mà lúc đó ngài cho là thật, nhưng càng t́m th́ càng không thấy tâm dạng của nó ở đâu. V́ ngài thấy tội nghiệp là thật mới sanh ra bệnh cùi bây giờ t́m th́ lại không thấy nó nữa. Như vậy tội nghiệp có hay không? Nếu không th́ làm sao lại mang bệnh c̣n nếu có th́ nó ở đâu? Khi ngài Tăng Xán t́m mà không thấy tội nghiệp th́ tội nghiệp nay biến thành không. Một khi tội nghiệp đă không th́ hiện tượng quả báo đang chịu đó làm sao có thật? V́ thế cái gốc của tội nghiệp vốn không th́ tất cả tướng tội nghiệp cũng theo đó mà tiêu diệt hết. Khi hiểu được như thế th́ bệnh cùi của ngài Tăng Xán từ từ tan biến và về sau trở thành Tổ thứ ba của Trung Quốc.

C̣n chúng ta th́ cũng thế. Khi mang bệnh trầm kha hay gặp chuyện hiểm nghèo th́ hảy cố t́m xem chỗ nào mà sanh ra bệnh hoạn hay chuyện trắc trở. Nếu t́m không được tội nghiệp th́ bệnh sẽ lành c̣n t́m ra nó thế nầy thế kia th́ tội nghiệp chưa hết. Tội nghiệp c̣n th́ đau khổ sẽ c̣n và dĩ nhiên sám hối là phương pháp để ḥa giải oan gia nghiệp báo kia.

Con người sống trong bất cứ xă hội nào th́ hoàn cảnh chung quanh dễ dàng ảnh hưởng để làm cho con người tạo nghiệp. Như khi sanh ra chúng ta đâu có ghiền cà phê, thuốc lá hay rượu chè cờ bạc. Do đó khởi nguyên không có mà sau đó mọi đau khổ đều do chính ḿnh chủ động tạo ra. Nhưng Phật dạy:”nghiệp tánh bổn không” có nghĩa là tánh nó vốn không th́ làm ǵ có nghiệp. V́ thế một khi con người t́m thấy tội nghiệp tức là c̣n thấy cái nhân gây ra nghiệp có nghĩa là c̣n thói hư, tật xấu. Nếu không t́m thấy tội nghiệp tức là buông xả hết thói hư, tật xấu làm căn gây ra nghiệp th́ nghiệp đâu c̣n. Không thấy tội nghiệp tức là không chạy theo vọng trần mà sống với tánh giác của ḿnh.

Câu chuyện ngài Đạo Tín lúc ấy mới mười bốn tuổi t́m tới gặp Tổ Tăng Xán mà thưa rằng:

- Kính bạch Ḥa thượng! xin Ḥa thượng dạy cho con pháp môn giải thoát.

Tổ Tăng Xán bảo:

- Ai trói buộc ngươi?

- Không ai trói buộc con.

Tổ bảo:

- Không ai trói buộc th́ cầu giải thoát để làm ǵ?

Chúng ta thường hay có thói quen là nghĩ rằng nghiệp dẫn dắt chúng sinh đi trong sanh tử luân hồi. V́ thế nghiệp chính là cái đă trói buộc ḿnh. Nhưng nghiệp có thật không? Nếu nghiệp là thật th́ chúng ta đă t́m thấy, nhưng có ai thấy được nghiệp của ḿnh đâu? Như thế th́ nghiệp không thật nên t́m không thấy. Nếu nghiệp không thật th́ làm sao dám kết luận là nghiệp trói buộc ḿnh. Do đó khi biết nghiệp không thật nên hết trói buộc tức là giải thoát. Nói một cách khác là nếu con người làm chủ được ḿnh có nghĩa là không c̣n chạy theo thói hư tất xấu mà cái gốc của nó là suy nghĩ, phân biệt, đối đăi để có cơ hội tạo nghiệp th́ nghiệp đâu c̣n tức là chúng ta được giải thoát vậy.

Ví như ngày xưa khi chúng ta chưa học đạo, nếu có người làm việc ǵ sai quấy làm tổn thương đến danh dự và gia đ́nh của chúng ta th́ dĩ nhiên chúng ta mắng chửi họ một cách thậm tệ. Một thời gian sau th́ người bị mắng chửi kia t́m đến để mắng chửi trả thù. Bây giờ đến lượt ông ta mắng chữi chúng ta rất thậm tệ. Đây chẳng qua là nhân quả mà thôi. Như thế đây có phải trả nợ trước hay không? Khi đă biết đạo th́ thấy lời mắng chửi kia không thật, không có ǵ quan trọng nên chúng ta vẫn b́nh thản tươi cười. Thật ra nợ đă vay th́ phải trả, chỉ khác là người mê th́ thấy thật c̣n người ngộ th́ thấy là hư dối. Mà nghiệp đă không thật th́ trả cũng như không trả, không có ǵ quan trọng cả.

V́ thế khi biết rằng:”nghiệp tánh bổn không” tức là thân không thật, hành động do thân tác tạo cũng không thật th́ dĩ nhiên nghiệp báo cũng là hư dối, không thật. Mà nghiệp không thật th́ c̣n cái ǵ trói buộc, làm khổ chúng ta cho nên từ đây cuộc sống của con người sẽ được an vui tự tại và hoàn toàn giải thoát ra khỏi mọi hệ lụy của phiền năo khổ đau.

“Khi nghiệp chướng tới th́ phiền năo khởi. Cũng như khi không giữ chánh niệm th́ tà niệm khởi. Lúc ấy, bạn thấy người nào cũng không hợp nhăn; thấy việc ǵ cũng chẳng vừa ḷng. Thật ra, không cần biết bạn có lư hay vô lư, hễ bạn khởi phiền năo là bạn đă sai lầm rồi đó”.

Source: 35 - Thuyết Nhị NguyĂªn vĂ  ChĂ¢n LĂ½ Nhất Như
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 09:43 PM.

A vBSkinworks Design