| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Lư thuyết của vạn vật Chúng ta đă t́m đến một thời điểm phi thường trong lịch sử khoa học. Một số nhà vật lư tin rằng, họ đang tiệm cận đến một lư thuyết duy nhất có thể kết hợp được tất cả các khoa học dưới một cái bóng quyền lực của toán học. Đặc biệt, lư thuyết này có thể thống nhất được hai pháo đài vĩ đại nhất của nền vật lư thế kỷ 20: thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử. Thuyết tương đối rộng miêu tả thế giới ở thang đo vĩ mô như những cấu trúc của vũ trụ, trong khi cơ học lượng tử lại miêu tả mọi hành xử của vật chất ở thang vi mô, trong thế giới hạt nguyên tử. Việc thống nhất cả hai lư thuyết này cho phép giải thích một cách toàn vẹn và chính xác về toàn bộ thế giới. Một lư thuyết như thế được ví von như là “Lư thuyết của vạn vật”. Đặc biệt, lư thuyết này sẽ thống nhất được tất cả các tương tác cơ bản vốn điều hành mọi hành xử của vũ trụ. Các nhà vật lư đă t́m ra tất cả bốn tương tác cơ bản trong tự nhiên: tương tác hấp dẫn giữ cho các hành tinh quay xung quanh Mặt trời và đóng vai tṛ cốt yếu trong sự h́nh thành các sao và thiên hà trong vũ trụ. Tương tác điện từ giữ cho các electron chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử và liên kết các nguyên tử với nhau. Tương tác hạt nhân yếu có tác dụng bên trong hạt nhân nguyên tử và gây ra các phân ră phóng xạ. Và cuối cùng, tương tác hạt nhân mạnh có vai tṛ liên kết các proton và notron trong nguyên tử với nhau, và như vậy, rất cần thiết cho sự ổn định của vật chất. Ở thời điểm này, các nhà vật lư đă xây dựng thành công từng lư thuyết riêng biệt cho mỗi loại tương tác, nhưng mục đích cuối cùng mà họ muốn đạt được là xây dựng một lư thuyết thống nhất được tất cả các tương tác trên. Mục tiêu trên phần nào đă có những tiến triển lạc quan, bởi v́ hiện tại họ đă thống nhất được tương tác điện từ và tương tác yếu thành tương tác điện yếu. Nhưng quả thật, việc thống nhất cả bốn tương tác trên là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Dù sao các nhà vật lư đều rất tự tin rằng, trong một vài thập kỷ tới họ có thể hoàn thành được sứ mạng cao cả đó. Nhà vật lư lư thuyết Steven Weinber, người đóng vai tṛ quan trọng trong việc thống nhất thành công lư thuyết điện yếu và đoạt giải Nobel cùng với hai đồng nghiệp Abdus Salam và Sheldon Glashow, đă gọi lư thuyết thống nhất cả bốn tương tác trên là một “lư thuyết tối hậu”. Ông và nhiều nhà vật lư khác phát biểu, khi các nhà vật lư t́m ra được lư thuyết này th́ nền vật lư sẽ đặt hồi chuông cáo chung. Ngày nay, vũ trụ được mô tả bởi tập hợp các phương tŕnh hoặc chỉ một phương tŕnh. Nhưng vẫn c̣n lại câu hỏi là, các phương tŕnh đó thực chất là ǵ? Mang cho vũ trụ một ư nghĩa Weinberg từng viết “Chúng ta càng hiểu vũ trụ bao nhiêu, th́ dường như nó càng trở nên vô nghĩa bấy nhiêu”. Đối lập với cách nh́n nhận lạnh lùng của Weinberg, nhà sinh học Australia Charles Birch, một trong những người sáng lập nên sinh thái học hiện đại, lại t́m thấy vũ trụ có một ư nghĩa nào đó khi ông coi ḿnh như là một phần cố hữu của vũ trụ. Tương tự như vậy, vị linh mục và cũng là một nhà thiên văn George Coyne đă phát biểu rằng, vũ trụ tự nó đă có một mục đích và một ư nghĩa đầy đủ. Ông chỉ ra rằng, đối với tất cả những thành tựu vĩ đại của khoa học, nó không cần thiết phải là một băi chiến trường để chỉ cho chúng ta quan điểm hoặc là cuộc đời của mỗi chúng ta hoặc vũ trụ là tất cả. Nhiệm vụ đó ngoài khả năng của khoa học. Thay v́ thế, chúng ta có thể t́m thấy trong kinh nghiệm thường ngày và ngay tại thế giới này. Ông giải thích, “Với tất cả kinh nghiệm của con người, tôi nghĩ, có thể nói với chúng ta một điều rằng, có một ư nghĩa cho điều đó. Khi tôi nắm bàn tay lạnh lẽo của một người bạn vừa ĺa xa cơi đời, và nh́n thấy một diễn tả về sự hy vọng và niềm vui sướng trong đôi mắt của người bạn đó, thậm chí ngay ở thời khắc của sự chết đến. Tôi có thể nh́n thấy ư nghĩa cho sự tồn tại mà điều này vượt ra ngoài những phát minh khoa học” Thú vị thay, Weinberg lại tán thành với quan điểm của Cha cố Coyne, mặc dù ông tin tưởng rằng, khoa học đang vẽ lên bức tranh về một vũ trụ vô nghĩa, lạnh lùng và dửng dưng. Ông cũng tuyên bố mạnh mẽ rằng, chúng ta, những con người, đang mang cho vũ trụ một ư nghĩa và một mục đích thông qua cách mà chúng ta đối xử với nhau trong cuộc sống, bởi t́nh yêu thương đối với tha nhân, bởi khám phá những điều bí mật c̣n chôn dấu trong tự nhiên, bởi làm việc và sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta không phải là những ngôi sao trong vở kịch vĩ đại của vũ trụ, nhưng chúng ta buộc phải đối mặt với một vũ trụ thờ ơ vô cảm và không có t́nh yêu. Tuy nhiên, chúng ta lại mất khả năng sáng tạo nên chính bản thân mỗi chúng ta, một ốc đảo nhỏ của sự ấm áp, t́nh yêu và cả trong đó là khoa học và nghệ thuật. Đó là một tuyên bố nhân văn sâu sắc từ một con người với cách nh́n lạnh lùng dường như là vô cảm. Tuy vậy, điều ǵ là ngạc nhiên nhất? Đó chính là một nhà khoa học vô thần thẳng thắn đă diễn tả một quan niệm không tương đồng với quan điểm của những tông đồ tôn giáo. Điểm tương đồng giữa Khoa học và Phật giáo Khác biệt với quan điểm của Thiên chúa giáo, Phật giáo lại có nhiều điểm tương đồng với nền khoa học đương đại. Trong đạo Phật, Đức Phật đă đưa ra thuyết Vô thường và Duyên khởi, tức là vạn vật hiện hữu trong thế giới luôn vận động và biến đổi. Vạn vật khi hội đủ duyên th́ được sinh ra, hết duyên th́ hoại diệt. Không có ǵ hiện hữu tự thân, một vật chỉ có thể tồn tại và ghi nhận trong tổng hoà các quan hệ với các đối tượng khác trong thế giới thực tại. Các học thuyết khoa học đương đại đă minh chứng cho quan điểm này của Phật giáo. Bất cứ một đời sống nào trong vũ trụ này đều trải qua bốn giai đoạn “sinh, lăo, bệnh, tử”. Và để sinh vật đạt đến một đời sống trí tuệ lại phải trải qua một chuỗi các tiến hoá. Ngay cả với vũ trụ, thông qua một loạt các biến cố từ Vụ Nổ Lớn đến vũ trụ giăn nở, và h́nh thành nên các cấu trúc vũ trụ mà chúng ta quan sát thấy ngày nay. Cả chúng ta nữa, những đời sống trí tuệ biết thưởng thức vẻ đẹp cùng sự hài hoà của vũ trụ và có thể đặt những câu hỏi về vũ trụ. Tất cả đều có một đời sống và một lịch sử. Hơn thế nữa, ư niệm về tánh không trong Phật giáo tương ứng với lưỡng tính sóng hạt trong cơ học lượng tử. Cũng nhờ ư niệm về duyên khởi và tánh không mà Phật giáo không chấp nhận ư niệm về Đấng sáng tạo. Có chăng, điều khác nhau giữa khoa học và Phật giáo là phương thức tiếp cận đối tượng của chủ thể quan sát trong thế giới thực tại. Khoa học xây dựng các quy luật của thế giới thực tại bằng một hệ thống cấu trúc toán học chặt chẽ và kiểm chứng thông qua các khí cụ khoa học. C̣n trong Phật giáo, phương pháp chính là quán tưởng và công cụ là tâm. Einstein từng phát biểu: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo hoàn vũ. Nó sẽ phải vượt qua một vị Thượng Đế có nhân trạng và tránh xa những học thuyết lẫn giáo điều. Bao gồm cả khoa học tự nhiên và tâm linh, nó sẽ phải được đặt căn bản trên một ư thức tôn giáo phát khởi từ cảm nghiệm về tất cả mọi sự vật, khoa học tự nhiên lẫn tâm linh, và đây được xem như một sự hợp nhất đầy ư nghĩa… Phật giáo là câu trả lời cho sự mô tả này… Nếu có bất kỳ một tôn giáo nào có thể đáp ứng được những nhu cầu của nền khoa học đương đại, th́ đó chính là Phật giáo”. Mối tương hỗ Các nhà thiên văn đang cố gắng nh́n sâu hơn vào không gian và các nhà vũ trụ học có thể mở rộng các phương tŕnh để mô tả nhiều hơn về vũ trụ, các nhà di truyền học tháo gỡ tất cả những bí mật của gene người và các nhà sinh học tiến hoá khám phá nhiều hơn nữa nguồn gốc và sự phát triển của cuộc sống. Tất cả họ đang cố gắng trả lời những những câu hỏi thần học hóc búa. Trong kỷ nguyên này của khoa học chúng ta có thể hỏi tôn giáo có vai tṛ ǵ? Khoa học và tôn giáo cùng tương hỗ cho nhau như thế nào? Theo nhà vật lư và thần học Robert Russell - giám đốc Trung tâm Thần học và Khoa học tự nhiên ở Berkeley - th́, cả khoa học và thần học đều cần đến nhau. Mặc dù các nhà khoa học đang trả lời một lượng lớn các câu hỏi, nhưng lại nảy sinh ra những câu hỏi khác mà khoa học chưa thể làm sáng tỏ, và thường là những câu hỏi liên quan đến triết học và đạo đức: Tại sao lại có vũ trụ này? V́ sao chúng ta đi t́m kiếm trật tự của toán học trong thế giới xung quanh? Tại sao khoa học tự nó lại mang một ư nghĩa nào đó?...Theo Russell, những câu hỏi này muốn giải quyết được không chỉ cần các nhà khoa học mà phải có sự tham gia của các nhà triết học, nhà đạo đức học và thần học. Mặt khác, Russell chỉ ra rằng, trong kỷ nguyên của khoa học hiện đại, các nhà thần học và những người có tín ngưỡng không đủ sức để lờ đi những ǵ đang tiếp diễn trong khoa học. Nhà triết học Thiên chúa giáo Nancey Murphy giải thích, nếu quan điểm của tôn giáo không liên hệ với một vũ trụ cụ thể mà khoa học mô tả th́ nó rất dễ bị tàn lụi. Chúng ta cần tránh sự tách biệt của tôn giáo từ khoa học trong Thời kỳ Khai Sáng, thời kỳ ở Châu Âu thế kỷ 18, cho rằng chỉ có lư trí và tri thức của khoa học mới đưa loài người tiến bộ. Theo Murphy, để tôn giáo duy tŕ được sức mạnh trong việc giảng dạy đạo đức th́ họ phải nh́n một cách hài hoà trong sự thật của khoa học. Nếu bạn muốn ai đó tin vào những ǵ bạn nói trong những phạm trù đạo đức, bạn cần mang cho họ bức tranh về thế giới dựa trên những kinh nghiệm của chính bạn. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận những lư thuyết của khoa học. Đức Phường (Tạp Chí Tia Sáng) |