| Tôn giáo và Nho giáo
Tôn giáo phản ảnh sự điên đảo vọng tưởng của con người dưới sự thống trị của những lực lượng xă hội và tự nhiên . Theo kinh điển Tôn giáo định nghĩa, thuật rơ hai phương diện bản chất của tôn giáo: 1) Trả lời tôn giáo là ǵ? Tức tôn giáo với tính đặc trưng thần linh độc lập, với các ngẫu tượng sùng bái, lễ nghi, điển tích và nội dung tương quan thật thể siêu tự nhiên, như truyền thống sùng bái các to-tem và các linh vật, chú trọng tín ngưỡng con người; 2) nắm vững nội dung thực tế về mối quan hệ mật thiết giữa thế giới tôn giáo và sinh hoạt xă hội nhân loại, như sự cấu thành lư tưởng xă hội, sự h́nh thành lư tưởng nhân cách, tức vấn đề tôn giáo phát huy tác dụng ra sao trong cuộc sống nhân loại, nó chú trọng tôn giáo trên phương diện tâm lư con người, hoặc tác dụng trên phương diện quần thể xă hội. Điều này cho thấy, trên thực tế, ư nghĩa chân chánh của tôn giáo bao hàm nội dung hai phương diện: thế giới quan và phương pháp luận, hơn nữa hai mặt này là một thể thống nhất. Học thuyết Nho gia trên phương diện thế giới quan tuy thừa nhận tồn tại một thực thể siêu tự nhiên, mang nặng khuynh hướng tôn giáo, thế nhưng trên phương diện phương pháp luận lại nhấn mạnh “Mọi việc do con người tạo tác”, thể hiện thái độ của người trí mâu thuẫn với h́nh thức hiện thực tôn giáo. Sự mâu thuẫn giữa thế giới quan và phương pháp luận này đưa đến Nho học tuy trên mặt lịch sử có tính địa vị Nho giáo, nhưng suy cùng trên mặt ư nghĩa th́ không thể phát huy thành tôn giáo chân chánh. Đầu tiên, chúng ta nên thừa nhận Nho học mang nặng bản sắc tôn giáo. Khổng Tử do phê phán tư tưởng tôn giáo quỷ thần của Ân Chu mà sáng lập ra Nho học. Ngài cho rằng trên vũ trụ và xă hội nhân loại có vị chủ tể tối cao, cuộc sống xă hội con người chịu sự chi phối của lực lượng vô minh, Khổng Tử gọi vị chủ tể này là “Thiên” và gọi lực lượng chi phối con người là “Mệnh” : “Sanh tử hữu mệnh, phú quư tại thiên” ( cho rằng sống chết , giàu sang của một người đă định sẵn trước khi sanh ra, mọi người không thể cải lệnh trời, đối với vận mệnh đă định chỉ có thể thuận theo thọ nhận). Trong tư tưởng của Khổng Tử, có lúc “Thiên” và “ Mệnh” sử dụng chung một khái niệm, đều là một lực lượng chủ tể thần bí : “Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, bách vật sanh yên, thiên hà ngôn tai?”, “Hoạch tội vu thiên, vô sở đảo dă”. Nghĩa là, trời tuy không nói năng thế nhưng thao túng sự sinh diệt biến hóa của tự nhiên và vạn vật, nếu như người nào trái ư trời, người đó sẽ phải thọ nhận bất kỳ sự trừng phạt. Có thể thấy, “Thiên”ở đây không thuần khiết chỉ “thiên” của hiện tượng tự nhiên mà là sức mạnh siêu tự nhiên ư chí con người không thể chuyển dịch. Nhà Hán, nhân vật đại biểu chánh tông Nho học-Đổng Trọng Thư đưa ra lư luận “Thiên nhân hợp nhất”,”Sự ứng thuận vu danh, danh ứng thuận vu thiên, thiên nhân chi tế, hợp nhi vi nhất”; “Thiên diệc hữu hỷ nộ chi khí, ai lạc chi tâm, dữ nhân tương phó, dĩ loại hợp chi, thiên nhân nhất dă. Xuân, hỷ khí dă, cố sanh; thu,nộ khí dă, cố sát; hạ,lạc khí dă, cố dưỡng; Đông, ai khí dă, cố tàng. Tứ giả, thiên nhân chi đồng hữu chi”. Ở đây, Đổng Trọng Thư lấy nguyên nhân biến hóa bốn mùa xuân hạ thu đông của tự nhiên giới quy kết thành sự biến hóa tâm trạng hỷ nộ ai lạc của “thiên”. Từ đó xem mọi hiện tượng tự nhiên giới như là ư thức, mục đích của “thiên”, các lực lượng tự nhiên con người không khống chế được chuyển hóa thành Thần, cho rằng “Thiên” không chỉ thao túng hiện tượng tự nhiên mà đồng thời đối với sinh hoạt xă hội thưởng phạt phân minh. Có thể nói, “Thiên” trong Nho học là vị chủ tể tồn tại thần bí; hơn nữa, từ Khổng Tử cho đến Đổng Trọng Thư, giới tự nhiên và “Thiên” của siêu tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với xă hội loài người. Nho học thừa nhận “Thiên” đồng thời tồn tại với thế giới thần linh; nhấn mạnh cảm giác sự hăi, thái độ cung kính của con người đối với các lực lượng này. “Quân tử hữu tam úy, úy thiên mệnh, úy đại nhân, úy thánh nhân chi ngôn”, Khổng Tử cho rằng : con người trong mọi lúc đều sợ thiên mệnh, thiên mệnh ấy thường được thể hiện qua lời nói của bậc thánh nhân, cũng chính là biểu hiện quy phạm nhân luân truyền thống của người thống trị. Đến Đổng Trọng Thư th́ càng thể hiện rơ tác dụng chủ tể của “Thiên” đối với nhân gian,” Quán thiên nhân tương dữ chi tế, thậm khả úy dă! Quốc gia tương hữu thất bại chi đạo, nhi thiên năi xuất tai hại dĩ khiển cáo chi; bất tri tự tỉnh, hựu xuất quái dị dĩ cảnh cụ chi; thượng bất tri biến, nhi thương bại năi chí". Nghĩa là, kẻ thống trị khi trị nước phải thuận theo ư “thiên”, bằng không sẽ bị tai họa, xuất hiện hiện tượng quái lạ, trời sẽ khiến quốc gia bị diệt vong. Đới với người dân, ông cho rằng thiên ư thông qua sự truyền đạt của Thánh nhân, nhà cầm quyền chấp hành. Từ đó, người dân phải tuân theo những luân lư đạo đức của Thánh nhân, phục tùng nhà cầm quyền. Cụ thể như phải trung thành với nhà thống trị, hiếu với cha mẹ; nếu như không trung hiếu sẽ đắc tội với vua, mẹ cha, tức đắc tội với trời, do đây tất thọ sự trừng phạt. Chính v́ sự tồn tại của sức mạnh này mà con người đối với”Thiên” luôn kính sợ, cẩn thận trong từng lời nói hành động, từ đó con người không ngừng tu sửa tự thân. Theo Nho học, nhân cách lư tưởng là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín; “quân vi thần cang,phụ vi tử cang, phu vi thê cang” là tối cao quy phạm luaân lư. Nhân cách và luân lư này dựa trên sự bảo hộ của thần linh mà chiếm địa vị độc tôn. Khi hành động phù hợp với những mô phạm trên, con người cảm thấy an ổn; ngược lại th́ luôn có cảm giác lo âu. Từ đó, con người đối với sự sùng bái “thiên” mà sản sanh cảm thọ tôn giáo tương ứng, tự tiếp thọ quản thúc của đạo đức thế tục. Như vậy, đến Đổng Trọng Thư, Nho học đă hoàn thiện sự đồng nhất giữa người và Thần, nhân đạo và thiên đạo. Sau Đống Trọng Thư, Nho học với khuynh hướng tôn giáo hóa tiếp tục phát triển, cuối đời Tây Hán đến Đông Hán mượn danh nghĩa thần linh để giải thích các lời sấm. Đời Ngụy Tấn có sự dung hợp giữa ba đạo Nho-Thích-Lăo, đời Đường trở lại nhấn mạnh oai lực của “Thiên”; đời Lưỡng Tống, tư tưởng Phật giáo ăn sâu vào lư học của học thuyết Nho giáo. Trong các kinh văn của Nho học từ xưa nay đều xem Khổng Tử như là Giáo chủ. V́ thế Nho học được gọi là Nho giáo. Nho học thừa nhận Trung Quốc thời xưa dưới t́nh huống phát triển thấp kém th́ khuynh hướng tôn giáo tồn tại sức mạnh siêu tự nhiên, đối với tư tưởng thống nhất con người, ổn định xă hội lại mang ư nghĩa tích cực nhất định. Thế nhưng thế giới quan này lại khiến con người trước thần linh mất đi tính độc lập, từ đó mất hẳn tính tự chủ, ảnh hưởng đến tinh thần sáng tạo của con người, điều này cho thấy rơ tính hạn chế của nó. Cho nên, học phái Nho gia một mặt đề xuất Thiên mạng luận, một mặt chú trọng phát huy tính năng động chủ quan của con người, thiết thực điều ḥa mâu thuẫn giữa con người và thần linh, do đó Nho học chắc chắn không thể phát triển thành tôn giáo. Học phái Nho gia chú trọng tính năng động chủ quan của con người thể hiện qua bốn phương diện : Đầu tiên, học phái Nho gia trọng tác dụng giáo dục. Truyền thống này khởi nguyên từ Khổng Tử, Ngài là vị khai sáng Nho phái, kế thừa số lượng lớn điển tích văn hóa từ thời Ân Chu mà cải tạo thành Nho kinh lưu truyền toàn xă hội, dựa vào “Lục kinh” mở trường học, đề cao tố chất văn hóa và tư tưởng đạo đức của xă hội. Kế đến, Nho gia tôn kính “Thiên” cùng lúc đề cao hành vi con người : “Tư! Nhĩ Thuấn!Thiên chi lịch số tại nhĩ cung, doăn chấp kỳ trung, Tứ hải khốn cùng, thiên lộc vĩnh chung”. Khổng Tử cho rằng vua Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn v́ do thiên định, giống như sự tuần hoàn của bốn mùa không hề biến đổi, thế nhưng lại cho rằng vua Thuấn không thể không đề cập đến dân sự, nếu chỉ dựa vào thiên mệnh mà không tận lực dân sự th́ khắp nơi sẽ khốn cùng, dù có phước lộc mấy cũng sẽ hết. Có thể thấy theo tư tưởng Nho gia, một người hưởng được mệnh trời hay không, trước hết phải làm người tốt; nếu cho rằng mệnh đă định sẵn chỉ cần ngồi hưởng thọ mà không nỗ lực, không hẳn đạt được mục đích. Điều này làm giảm tính thần bí tuyệt đối của thiên mệnh, giảm đi tín tâm đối với “Thiên”. Chủ trương hành vi con người đối thiên mệnh, thể hiện tư tưởng mâu thuẫn của Nho gia trên quan niệm thiên nhân: một mặt nói chỉ dựa thiên ư th́ không thể làm nên việc lớn, một mặt lại đề xướng không dựa vào thiên ư chỉ dựa vào tinh thần chủ quan của con người th́ cũng không thể biến đổi được sự thật khách quan. Cho nên, Khổng Tử không áp dụng rộng răi đạo của ḿnh không thể không thốt ra tiếng than “mệnh”, trên thực tế trước sau không thoát khỏi mâu thuẫn thế giới quan “đă tùng nhân lại tùng mạng ”. |