| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Trong một nghi lễ, khi chng ta cng dường một ngọn đn cho Đức Phật chng ta khng nn nghĩ hay cho rằng mnh đang lm một n huệ cho Đức Phật. M tri lại, chng ta nn thức một cch trọn vẹn rằng chng ta phải nng cao nguồn sng tr tuệ m chng ta đ tiếp nhận từ Ngi, nguồn nh sng xua đuổi bng đm trong tm thức chng ta, hướng dẫn chng ta v tất cả chng sinh tm thấy con đường đi đến gic ngộ. Theo cch ny, đối với người thực hiện nghi lễ, ngọn đn cầy cng dường cho Đức phật l một phương tiện để hồi tưởng v qun niệm (smfti) về ci nh sng gic ngộ đ v đang chiếu sng trong mỗi người chng ta từ thời v thỉ, mặc d n lun bị che khuất trong bng tối của những bức tường tự ng m chng ta lun cần phải ph đổ. Nguyn tắc ny cũng được p dụng cho việc dng trầm hương v những đồ cng dường khc, với những chi tiết gia giảm khc nhau, đ qua đ chng ta ni ln lng biết ơn, sự tận tụy, v tinh thần sẵn sng qun mnh để theo gương Bậc gic ngộ, hầu đnh thức v lm nẩy mầm những chủng tử Phật php trong tm chng ta. V, khi nhn hnh ảnh Đức phật, chng ta nn xem n như l điều nhắc nhở chng ta về ci Phật tnh tiềm tng trong chng ta, về l tưởng vĩ đại m Đức phật lịch sử Thch-ca mu ni đ thực hiện trong chnh cuộc đời của Ngi, v đy cũng l l tưởng ku gọi chng ta hy thực hiện n trong chnh cuộc đời của mnh. Bởi v mục tiu gic ngộ l trong tầm tay của tất cả chng sinh c thức. Nhưng nếu chng ta cho rằng chng ta c thể phục vụ Đức Phật bằng cch tn knh hnh ảnh của Ngi th đy quả l một điều khờ dại. Đng lẽ ra, qua việc tn knh hnh ảnh của Đức Phật, chng ta c thể cng giữ vững mục tiu của mnh trn con đường đạo v trong việc thực hiện Đạo Php. Đạo Php ở đy khng chỉ c nghĩa l lời dạy của Thế Tn m cn l những qui luật phổ biến đang vận hnh trong ci vũ trụ bao la m ta thường gọi l thế giới vĩ m v ci thế giới nhỏ hẹp hay thế giới vi m đang hiển lộ dưới mắt chng ta, những con người bnh thường sống trong cuộc đới nầy. Php Phật dựa trn tri kiến về sự v ng của mọi sự vật hiện tượng. Ngy no chng ta cn xem vật chất v tinh thần l những cực đối lập khng thể ho giải được th ngy đ chng ta vẫn cn chia chẻ thế giới ra lm hai v đnh mất điểm tựa của mnh. Do đ, những hnh thức được chế đặt ra l để con người thể nghiệm v hiểu biết. Nghi lễ chỉ l một trong những hnh thức được chế đặt để qua đ chng ta thể hiện những tư tưởng v tnh cảm su xa nhất trong tm thức của mnh, v v vậy n phải l sản phẩm của những tư tưởng r rng v trong sng hay những tnh cảm chn thật v hồn nhin. Nếu khng, nghi lễ sẽ trở thnh những hnh thức ước lệ km theo những lời lẽ rỗng tuếch được lập đi lập lại một cch v nghĩa trong khi tm của người hnh lễ th lại để ở đu đu. Nếu tiến hnh như thế, th ton bộ lễ nghi sẽ trở thnh chướng ngại của con đường gic ngộ. Chỉ khi no m chng ta c thể thấy mỗi từ, mỗi điệu bộ, mỗi cch thức, v mỗi đồ vật cng dường l một biểu tượng đưa chng ta cng đến gần ci nhn tuệ qun su sắc vo bản chất nội tại của chng ta, gip chng ta trưởng thnh hơn về tm linh v qua đ chuyển ho nội tm chng ta, chỉ c như thế, nghi lễ mới trở thnh một phương tiện c gi trị trn lộ trnh tu tập của chng ta. N củng cố định lực của chng ta, gip chng ta c ci nhn trực gic, v bằng những hnh tượng, n đưa chng ta vượt ln trn mọi hnh tượng. Đy l điều m Kim Cang thừa gọi một cch biểu tượng l đại ấn (mahamudra). Theo cch ny, những lời ch nguyện (mantras), cch thức bắt ấn (mudrs) v mạn đ la (manđala) trở thnh những phương tiện (upya) c nghĩa giống như vng quay cầu nguyện (mani-khorlo), chuỗi trng hạt, hoặc bn thờ trn đ ta lm lễ cng dường (puja), hoặc cc bảo thp c cấu trc mang tnh tm l vũ trụ m ta đi nhiễu quanh theo hướng mặt trời. Khi những phương tiện v biểu tượng ny được đưa vo cc nghi lễ của một truyền thống tn gio đương thời v được hnh tr với đầy đủ thức, n sẽ rất hữu ch cho người hnh tr. Nhưng chỉ khi no người hnh tr thực hiện cc nghi lể với tấm lng chn thnh, nghi lễ mới gip vị ấy c được những sự hiểu biết dựa trn trực gic tại đy v ngay by giờ. Những hiểu biết trực gic nầy sẽ chuyển ha thn v tm của vị ấy, v qua đ, gip vị ấy pht triển đến trnh độ tm linh m ngn ngữ tự n khng thể no diễn tả được. Trong cng một thời điểm, nghi lễ cng đường (puja) trong đạo Phật mang nhiều nghĩa khc nhau. Trước hết, n diễn tả tấm lng knh trọng v biết ơn của chng ta đối với cc bậc gic ngộ vĩ đại đ khai mở con đường tm linh, chư Phật v Bồ tt v tất cả những ai chọn đi trn đường đạo v sự an lạc của tất cả chng sinh. Từ sự knh trọng v biết ơn nầy sẽ khởi ln niềm mong ước l tự mnh cũng sẽ đi trn đường đạo v sẽ đạt được quả vị gic ngộ. Rồi bước thứ hai l sự hiến dng con người của mnh, lời thệ nguyện hiến dng cuộc đời mnh phục vụ cc bậc gic ngộ, thực hiện những lời giảng dạy của cc vị ấy v cc chư hiền thnh tăng. Để thực hiện mục tiu l tưởng nầy, chng ta khng c cch no khc ngoi cng phu thiền định. V ở đy chng ta sẽ lm quen với kha cạnh thứ ba v quan trọng nhất của nghi lễ cng dường. Đ l khả năng thể nghiệm nghi lễ qua hnh thức trnh by m chng ta c thể thấy bằng mắt được. Đy l qu trnh "kịch tnh ha" của kinh nghiệm thiền định, trong đ hnh động thờ phượng trở thnh một phương tiện tập trung tm . Đy cũng l một cch để tiến xa hơn nữa trn con đường pht triển tm linh. Với những hoạt động tiến hnh cng một lc của thn thể, tm l, v tm linh thể hiện qua lời ni, điệu bộ, tư tưởng v cảm xc, chng ta sẽ thống nhất được tm . Sự nhất tm nầy sẽ ảnh hưởng khng những phần bn ngoi của tm thức (phần nầy gồm tri thức, kiến thức v phần thức đến từ cc gic quan) m cn ở những cấp độ tm l su thẳm trong tm thức chng ta. Qua tiến trnh thực hnh đều đặn nghi lễ như thế, ton bộ con người chng ta sẽ từ từ chuyển ho một cch vững vng, v dễ tiếp thu những năng lực của nh sng gic ngộ (bodhicitta hay bồ đề tm). V như vậy, puja hay sự cng dường (m tất cả hệ phi Phật gio đồng ) l một khả năng gip chng ta đi vo thiền định. V v n thu ht ton bộ con người chng ta v hướng chng ta về mục tiu giải thot nn n l suối nguồn v tận gip chng ta nhớ lại v nhận biết những g Đức phật đ chỉ cho chng ta với tấm gương của ngi. N cũng khng phải chỉ để nhắc chng ta nhớ lại lời thệ nguyện quyết tm đi suốt con đường đạo với tất cả năng lực của mnh; N cn l một bước tiến trn con đường thực hiện sự thuần nhất v thống nhất trong nội tm con người. Để lợi lạc của việc cng dường được vin mn, chng ta phải khng ngừng tiếp tục xem xt lại v thể nghiệm lại cc nghi thức cng dường. Trong tiến trnh ny, sự đa dạng v nhất l nghĩa v tận của cc biểu tượng nghi lễ cần phải được thể nghiệm rất nhiều lần để chng ta c thể cảm nhận tất cả cc mặt khc nhau của n, v qua cch hnh tr nầy, nghi lễ sẽ trở thnh suối nguồn của những trực cảm mới mẻ. Nhưng nghi lễ cng dường Đức Phật (puja) chỉ lm được vai tr nầy nếu chng ta lun thực hiện n với ci tm của người mới bước vo đạo, khng bị kẹt hay chấp vo những ci thấy biết m ta đ được một lần thễ nghiệm, hoặc khng mong đợi l chng ta sẽ được thể nghiệm lại những kinh nghiệm đ trải qua từ trước. V lm như thế, chng ta sẽ chận đng lại dng chảy tự do của kinh nghiệm sng tạo m tự n l suối nguồn sng tạo nội tm v tận, v chỉ khi no được tự do tun chảy, n mới c thể nui dưỡng tiến trnh thay đổi, thống nhất, tỏa sng v trong suốt lin tục trong tm thức chng ta m thi. Trong khi hnh lễ cng dường Đức Phật (puja), người Phật tử biết r l mnh khng đang lm ph php. Vị ấy biết rất rỏ l trạng thi tm của người hnh lễ sẽ quyết định sự hiệu quả của những cu thần ch, cch thức bắt ấn, v những hnh động mang tnh biểu tượng như thắp đn cầy, biến nước thường thnh nước bất tử (amfta), hay việc chưng by hương hoa lễ vật cng dường. Qua sự kết hợp ho điệu v nhuần nhuyễn của hnh thức nghi lễ (gồm m thanh v nhịp điệu), cảm xc (đến từ lời ku gọi v tnh cảm hiến dng cho đạo php) v tm thức (những tm sở dựa trn tri thức v kinh nghiệm), những năng lực tm ly su xa v tiềm ẩn (những năng lực t bị sự chi phối nhất của tầng thức bn ngoi) sẽ được đnh thức, củng cố v chuyển ho. Hnh thức (Sắc) ở đy rất thiết yếu v n l ci chứa đựng chất lượng của nghi lễ. Cảm xc (Tho) l thiết yếu v n tạo sự thống nhất, c tc dụng giống như sức nng của lửa lm nng chảy nhiều kim loại khc nhau v kết hợp chng lại thnh một thể thống nhất mới. Mặt khc, tm thức (Idea) l chất liệu, hay l cơ sở vật chất cơ bản (prima materia) mang lại sức sống cho tất cả nhn tố tạo nn tm thức con người v đnh thức những năng lực đang cn ngủ yn trong tm thức đ. Chng ta khng nn hiểu từ "tm thức" dng ở đy l tư duy trừu tượng, m nn hiểu theo ngữ gốc Hy lạp của n, eidos, nghĩa l một hnh ảnh sng tạo, hay l một loại kinh nghiệm sống thật trong đ thực tại được phản nh v khng ngừng được ti tạo v sng tạo một cch mới mẻ. |
| ||||
|
Trong khi hnh thức của cc nghi lễ cng dường được biết bao thế hệ kết tinh lại v khng ngừng được thay đổi sau hng ngn năm, ci tm thức (idea) đứng pha sau những hnh thức nghi lễ cũng lun được thay đổi v tiếp tục tạo nguồn cảm hứng cho những sự thay đổi về nghi thức mới mẻ trong tương lai. Ci tm thức nầy chnh l qu tặng m Đức Phật dnh cho đệ tử của ngi. Nhưng ngọn lửa bắt nguồn từ những khối c v tri tim sng tạo dựa trn cơ sở của sức mạnh sng tạo đến từ qu tặng của Đức Phật c thể thắp sng v đốt chy hay khng phải tuỳ thuộc vo phần đng gp của người đệ tử Phật. Chỉ khi no niềm tin của người đ tử Phật được khởi ln từ một nội tm vững chắc, v niềm tin của vị ấy đối với gio php l thuần tịnh th vị ấy mới c được sự thống nhất nội tm. Nhưng nếu khng tu tập th vị ấy vẫn khng thể tiếp nhận v pht triển được tm thức. Nếu tinh thần vị ấy bị m mờ v chậm chạp th những năng lực nội tm sẽ khng thể đp ứng được lời ku gọi của Đức Phật. V nếu thiếu sự tập trung th vị ấy sẽ khng thể kết hợp được tm v của mnh cng với những hnh thức nghi lễ một cch ho điệu v nhuần nhuyễn được. Như vậy, nghi lễ Phật gio trong tất cả kha cạnh của n khng phải l một phương php để trnh n những phiền nảo của cuộc đời hay để trốn trnh những nghiệp quả do chng ta gy nn, m l một phương tiện hổ trợ chng ta trn con đường đạo. N đi hỏi chng ta phải nỗ lực v đấu tranh kin tr. Chỉ khi no người hnh tr thức r rng ci tinh chất cốt li của n th ton bộ nghi lễ hoặc những bộ phận của n như ấn, ch, mạn đ la, v tất cả những biểu tượng v hnh động lin hệ đến nghi lễ mới trở thnh hữu ch. Bất kỳ ai dng nghi lễ cng dường hay bất cứ bộ phận no của nghi lễ để phục vụ những mục tiu ch kỷ của họ sẽ tạo nn những năng lực tiu cực v những năng lực nầy sẽ c tc dụng ngược lại trn người ấy. Như vậy, chng ta khng thể niệm thần ch hay sử dụng bất cứ nghi lễ tn gio no hay dng sức mạnh thần thng để ha gii nghiệp bo v hậu quả tiu cực của những hnh động m chng ta đ lm. Chỉ bằng cch lm trong sạch tm v bằng nỗ lực tm linh chn thật m con đường giải thot gic ngộ mới c thể được vin mn. Milarepa đ nhắc nhỡ chng ta rằng: Nghi lễ tn gio c lợi ch g nếu thn, khẩu, khng đi đng Chnh php? Nghi lễ tn gio c lợi ch g nếu sn hận khng được nhiếp phục? Lời ku gọi Xin hy Từ bi! c lợi ch g nếu chng ta khng thể yu người khc hơn chnh mnh? Ngy nay ở cc nước phương Đng v phương Ty, c những đạo sư truyền dạy thần ch cho đệ tử m khng khai tm cho đệ tử theo chiều hướng v nghĩa của những thần ch ấy. Sự lập lại một cch v nghĩa của một m thanh mang tnh biểu tượng may mắn lắm th cũng chỉ dẫn đến sự thư gin của một trạng thi thi min. Thần ch, ấn quyết, v mạn đ la l những phương tiện trợ gip cho thiền định. Nếu chng trở thnh những đối tượng của một niềm tin m qung hay trở thnh những phương tiện để đạt được lợi lộc ở đời th chng sẽ mất đi thật nghĩa của chng. Đức Phật đ đặt con người ở vị tr trung tm trong hệ thống thế giới của ngi--đ l con người c thể tự giải thot bằng nỗ lực của chnh mnh m khng nhờ vo sự can thiệp của thần thnh hay yu thuật. Nếu nghi lễ hay bất kỳ một bộ phận no của n bị lạm dụng theo cch ny th n mất đi nghĩa v tinh thần của lời dạy của Đức Phật v trở thnh một sự tri buộc thay v l một phương tiện khả dĩ đưa đến giải thot. Nhưng chnh v chỉ trch tnh "yu thuật" của cc nghi lễ tn gio m những nh nghin cứu Ấn độ học v Ty tạng học ở phương Ty đ ln tiếng ph phn những nghi thức tn gio của Kim cang thừa ở Ty Tạng v Nhật Bản. Chng được diễn giải như l những buổi lễ cầu thần thnh hay ma quỷ v một phần của lễ cng dường được so snh giống như lễ nhập thnh thể (transubstantiation) trong Cơ đốc gio. Đng l kinh tạng Mật tng thật sự c ni đến những Devas, nghĩa l cc chư thin hay cc vị thần thnh như l những hnh tượng được qun niệm trong thiền định. Nhưng chữ Deva trong Mật Tng khng lin hệ g đến khi niệm Thượng Đế của những tn gio nhất thần ở Cận Đng. Đối với những người thuộc văn ha Ấn Độ, Devas l những vị giống như tất cả chng sinh khc vẫn cn bị tri buộc trong lun hồi sinh tử. Theo Mật Tng, Devas hay chư thin sẽ xuống ci trần khi chng ta ku gọi họ, cho họ một hnh dng trong thức của ta, v tn knh họ, cho d họ chưa bao giờ c mặt trước đ, v họ sẽ ra đi khi khng cn được mời gọi nữa, cho d họ đ sống cả hng ngn năm trong thức của con người. V họ l những phương tiện gip con người pht triển năng lực thấy biết của mnh, nn việc ku gọi v tn knh họ l những hnh động sng tạo về tm linh dựa trn sự tập trung vo một tưởng, một hnh ảnh, một biểu tượng, hay ngay cả một cảm xc. Năng lực chuyển ho của sức qun tưởng cc chư thin (Devas) sẽ c hiệu quả cao nhất khi tất cả những yếu tố ny (sự tập trung vo một tưởng, một hnh ảnh, một biểu tượng, v một cảm xc) được kết hợp hi ha với nhau, v n sẽ khng pht huy tc dụng nếu việc ku gọi chỉ l một hnh động thuần ty my mc hay một mn kịch tr thức. Nhưng nghi lễ được tiến hnh trong tinh thần thiền định đng đắn l một cch để thống nhất, kết hợp, v mang lại sức sống sng tạo cho những tưởng, hnh ảnh, biểu tượng, v tnh cảm của người hnh tr. V vậy nghi lễ c thể trở thnh ci cha kha mang đến cho chng ta sức mạnh v năng lực tiềm ẩn của cc chư thin được qun tưởng trong qu trnh thiền định. V đy l l do tại sao trong những thế kỷ trước đy, những người c hiểu biết về cc tiến trnh tm linh trong nghi lễ thường giữ b mật cc nghi lễ nhằm bảo vệ những người chưa đi vo đạo (chưa được khai tm), v chỉ truyền những nghi lễ ấy cho những đệ tử c phẩm chất cao. Người ta khng "chế đặt" ra cc nghi lễ--Nghi lễ bắt nguồn từ những kinh nghiệm tự nhin v c thật của một số hnh giả c trnh độ tm thức rất cao. Với thời gian, những vị nầy tch lũy kinh nghiệm v cch thức hnh tr của biết bao thế hệ, v tiếp tục pht huy thm. Nhưng nhn chung, những g họ đc kết đều dựa vo ci cốt li đơn giản của một biểu tượng hay của một hnh động mang tnh biểu tượng đơn giản, xuất pht từ một cảm xc tm linh su sắc hay một nhận thức c năng lực chuyển ho. Trong thời mạt php, ci cốt li ny thường bị vi lấp dưới những mớ nghi lễ vụn vặt khng cần thiết, v khi điều nầy xảy ra, chng ta c thể ni l nghi lễ đ "chết" hay đ mất hết nghĩa thật sự của n. Trong Mật gio, nghi lễ quan trọng nhất l nghi lễ qun tưởng về một hnh ảnh của một vị thnh trong tm thức của hnh giả. Những nghi lễ nầy c sức sng tạo v chng tc động đến những năng lực trong thức v tiềm thức của con người. Đy l những tc động khng những trn c nhn m cả tập thể, khng những trn chủ thể m cả khch thể. Ni đến đy, chng ta hảy trở lại vấn đề thực tại thật ra l ci g? Những người theo Mật gio cơ bản quan niệm rằng cc vị thần thnh c hiện hữu ở ngoi chng ta hay trong tm thức chng ta hay khng, đy khng phải l điều quan trọng. Ngay cả việc chng ta c thể dng l luận để chứng minh sự hiện hữu của cc vị thần thnh cũng khng quan trọng. V ở đy, trong lnh vực tm linh, chỉ c những g "c thật" hay "đang thật sự xảy ra" mới c khả năng tc động như một sức mạnh sng tạo. Từ quan điểm ny, một hnh ảnh, một biểu tượng, hay một nghi lễ c thể tc động trn tm thức của hng ngn con người v c khả năng chuyển đổi con người phải được xem như l thực tại sống động v chủ động. |
| ||||
|
Qua lời khấn nguyện, những sức mạnh thing ling sẽ xuất hiện trong tm thức của người hnh tr nghi lễ dưới dạng những hnh tượng. Sức mạnh thing ling nầy l những năng lực đ bắt rể su thẳm trong tm thức chung của loi người sau hng mấy nghn năm sinh hoạt thờ phụng v tn knh của nhn loại. Chng chỉ chờ những lời khấn nguyện v ku gọi của người hnh tr nghi lễ để được đnh thức dậy, để c thể pht huy tc dụng chuyển ha đ c sẳn của chng. V thế, lời khấn nguyện trong đạo Phật c chức năng tương tự như lời cầu kinh trong cc tn gio hữu thần. V nếu trong cc tn gio hữu thần lời nguyện cầu l để giao lưu v "chuyện tr" với Thượng đế th lời khấn nguyện trong đạo Phật l để ku gọi v đnh thức những năng lực bn trong tm thức của người hnh tr nhằm đp ứng ước mong đạt đến một trạng thi tm vin mn hay sự ton gic của con người. Sức mạnh của lời khấn nguyện xuất pht từ mong ước mnh liệt của người hnh tr nhầm xa đi khoảng cch giữa một bn l thức về sự thiếu st v khng hon thiện của mnh v một bn l mục tiu l tưởng về sự ton thiện v vin mn tm linh của vị ấy. V thế, khấn nguyện l phương php đầu tin nhằm triển khai kho tng kinh nghiệm v tận ẩn chứa trong tầng thức chung, phổ biến, v su thẩm nhất của nhn loại. Nhưng nghi lễ khng chỉ chuyển ho người hnh tr qua sức mạnh của lời ni. N tc động trn ton bộ tm thức của của người hnh tr , v n phải lm như thế nếu n muốn pht huy ton bộ sức mạnh của n. Qua sự phối hợp của điệu bộ, lời ni, v tư tưởng, v qua sự phối hợp của thn, khẩu, cũng như qua sự kết hợp nhuần nhuyễn của cảm xc, những lời pht biểu, v sự tưởng tượng sng tạo trong qu trnh qun tưởng hnh tượng của chư Phật, Bồ Tt, v chư thin, chng ta c thể phối hợp v thống nhất được tất cả chức năng c thể c trong đời sống tm thức của mnh. Trong qu trnh nầy, khng chỉ nhn cch bề ngoi của chng ta m cả những tầng lớp thức su xa hơn của chng ta cũng bị tc động, để rồi qua việc hnh tr đều đặn cc nghi lễ m ton bộ con người của chng ta sẽ dần dần chuyển ho đưa chng ta từng bước đến những mức thiền định su hơn, để rồi cuối cng đến mức thiền định m ngay cả ci hnh ảnh qun tưỡng cũng khng cn nữa. Đ chnh l quả vị gic ngộ tối thượng. Từ những thời xa xưa nhất, khai tm (cn c tn l truyền tm, khai đạo, điểm đạo) l buổi lễ chiếm vị tr then chốt nhất trong cc nghi lễ. Từ những ngy đầu của nhn loại, lễ khai tm c sức mạnh thi thc v chuyển ha gip con người học hỏi v thể nghiệm thực tại ở những cấp độ cao hơn. N nng thnh vin thanh thiếu nin trong một bộ lạc hay một bộ tộc ln địa vị bnh đẳng với cc thnh vin trưởng thnh khc v được mọi người thừa nhận. N hướng dẩn cc vị gio chủ, t trưởng, hay cc nh vua tương lai về uy tn v năng lực thu ht (mana) của người lnh đạo, bảo vệ v tăng cường sức mạnh cho những vị nầy trong thế giới tm linh huyền b mới của họ để họ c thể đương đầu tất cả những nguy hiểm trn con đường pht triển nội tm của mnh. Trong đạo Phật cũng thế. Lễ khai tm r rng c vai tr ngay từ lc đầu. V thế, trong Trường Bộ Kinh (Dgha Nikya 16.5.30) c viết về một du sĩ ni với Ananda như sau Thật l một lợi lạc lớn cho tất cả cc vị, rất c lợi cho tất cả cc vị v cc vị được tn phong đệ tử trước mặt của bậc Đạo sư. Chẳng hạn như trong thời Vệ đa, Lễ khai đạo hay "Lễ ban nước thnh" (Skt. abhiseka) được tiến hnh trong lễ đăng quang của một vị vua. Trong buổi lễ nầy, nước thnh được rảy ướt trn đầu tc của nh vua để gip mang lại cho ng quyền lực v sức mạnh thu ht của hong tộc. V từ rất sớm, Đức Phật ni về cc đệ tử của mnh như l những người con trai v con gi trong cng một gia đnh cao qu (arya-kula) của những người hướng về quả vị tm linh cao thượng. Những ai được sinh từ miệng của Ngi sẽ thừa hưởng gia ti người cha tinh thần của họ để lại. V v vậy, trong tiến trnh pht triển của đạo Phật ở Ấn độ, qua lễ khai tm (abhiseka), những đệ tử trở thnh Phật tử hay tn đồ của Đức Phật, v qua đ, tiếp thu được sức mạnh để thực hiện sứ mệnh tương lai của họ: đ la tu tập để trở thnh một Đức Phật v lợi ch của thế gian, một vị vương trn thế gian (cakra-vartin) trong thế giới tm linh của con người. Đặc biệt l qua sự pht triển của Kim cang thừa, lễ khai đạo hay khai tm (abhiseka) trở thnh nguồn sức mạnh đột ph v khai mở qu trnh rn luyện tm linh lu di của người đệ tử. Qua đ những kinh nghiệm thiết yếu v kiến thức được đc kết v tập trung lại qua biết bao thế hệ đạo sư trở thnh nguồn động lực thi thc, đặc biệt l hnh thức truyền tm của vị đạo sư m bản thn ng đ pht triển v tiếp nhận từ chnh vị đạo sư của mnh, v by giờ ng trao truyền laị cho đệ tử của mnh qua nghi lễ truyền tm (tiếng Ty Tạng l dBang-nskur); vị đệ tử tiếp nhận đạo lực ny, v triển khai n cho đến lc tm thức của vị ấy c thể cởi mở, tiếp thu, v kế thừa n. Đạo lực được tiếp nhận sẽ chỉ ra phương hướng tu tập v tạo nguồn cảm hứng cần thiết để vị đệ tử tiếp tục tinh tấn chuyn ch trn con đường tiến đến mục đch tối thượng. Trong lễ truyền tm, người đệ tử tiếp nhận hương vị đầu tin của cứu cnh giải thot khi được chia sẻ tm thức v trnh độ gic ngộ của vị đạo sư. Chnh kinh nghiệm ny gip cho người đệ tử mới bước vo đạo tin tưởng rằng mnh sẽ đạt được mục tiu tối thượng v nn tập trung mọi nỗ lực cho mục tiu nầy. Từ đy trở đi, vị ấy khng cn l một người tầm đạo m mờ nữa m l một người biết rỏ mnh đang đi về đu. Vị ấy trn ngập với niềm tin (Phạn ngữ l zrddha) bất thối chuyển, để rồi việc tu tập (sdhana) chỉ đem lại niềm hạnh phc v hỷ lạc su sắc trong nội tm vị ấy. V by giờ, qu trnh tu tập khng cn l việc phải cực lng chấp hnh những bổn phận cuả một người đệ tử v cũng khng cn l việc thực hnh những thời kha tn gio hay những buổi lễ tụng kinh mang tnh thường xuyn v ước lệ. V lẽ đ việc truyền tm của một vị đạo sư chn thật vượt ln trn tất cả những khc biệt về trường phi, hệ phi, v những l luận kinh viện. Đ l việc đnh thức ci thế giới nội tm của mỗi người chng ta, cho d chng ta chỉ thong cảm nhận điều ny thi, n cũng sẽ định hướng con đường pht triển tm linh v ton bộ cch sống của chng ta, m khng cần sự cưỡng bch của bất cứ quy luật no từ bn ngoi. V thế lễ truyền tm l qu tặng lớn nhất của một vị đạo sư dnh cho người đệ tử của mnh. Qu tặng nầy qu hơn cả lễ thụ phong chnh thức để gia nhập tăng đon hay bất kỳ một tổ chức tn gio no. Lễ thụ phong c thể lun được tiến hnh m khng cần đi hỏi những phẩm chất tm linh hay đạo lực của người thụ phong hay người dự tuyển thụ phong, miễn l người dự tuyển thụ phong sẵn lng tun thủ những luật lệ được quy định v khng bị những khuyết tật về thể chất, đạo đức hay tinh thần. Mặt khc, lễ truyền tm (abhiseka) l một nghi thức m nhờ đ tm thức của người được khai tm mở ra một phương hướng mới. V cng với những lời hướng dẫn cũng như những ch nguyện, phương hướng mới ny sẽ khởi động v lm thc đẩy qu trnh chuyển ha nội tm của hnh giả. Trong mối lin hệ ny, lời ch nguyện (mantras), (ngoi tnh chất đặc biệt của chng l những biểu tượng nguyn gốc của một thi độ tm l c biệt) l những tinh chất được đc kết từ kinh nghiệm hng trăm năm tu tập v thiền định. Thm vo đ, lời ch nguyện cn mang dấu ấn tnh cảm v c nhn đặc biệt gắn liền vị đạo sư v người đệ tử với nhau. Những lời ch nguyện ny cng với kinh nghiệm thiền định nhắc nhở người đệ tử nhớ lại giờ pht khai tm của mnh, v lm tro dng ln trong tm vị ấy sức mạnh để tiếp tục trn con đường đạo m vị ấy đ bắt đầu. Ci sức mạnh được truyền trao trong lễ khai tm chỉ c hiệu lực trong lĩnh vực tm linh, v chng ta khng được lợi dụng n cho những mục đch tư ring. N l năng lực khởi động qu trnh chuyển ho nội tm của một con người khi người ấy mở rộng tm mnh để tiếp thu tc động chuyển ha đ; để rồi người ấy trở thnh người thị hiện sự chứng ngộ vượt ln trn phạm vi c nhn v c thể tc động lại trn người khc. V l do nầy, vị đạo sư chỉ c thể tiến hnh lễ khai tm v truyền trao đạo lực của mnh khi no chnh bản thn ng đ pht huy những đạo lực nầy sau nhiều năm tu tập nghim chỉnh. V người đệ tử chỉ c thể trưởng thnh v trở thnh một vị đạo sư khi vị ấy khng ngần ngại mở rộng tm của mnh tiếp nhận sự hướng dẫn tm linh đặc biệt của thầy mnh. V từ sự gắn b về tm linh giữa vị đạo sư v người thiện nam tử hay thiện nữ tử được chọn lựa ấy, người đệ tử sẽ gia nhập vo đội ngũ những người thư kế sự nghiệp tm linh của thầy mnh. -------------------------------------------------------------------------------- [1] Bốn sự chấp thủ đ l: chấp i dục, chấp kiến, chấp giới, chấp ng [2] Mười tri buộc l 1. Ng kiến, thấy c ci ta. Về ng kiến c hai loại: a. Tin vo ci ng thường hằng v bất biến (sassata-ditthi) b. Tin vo ci ng sẽ bị hủy diệt (ucche-dapditthi) nghĩa l tin vo ci ng ty thuộc vo 5 uẩn (khandhas), khi năm uẩn tan r, ci ng cũng mất theo. 2. Nghi ngờ. 3. Giới cấm thủ hay chấp chặt vonhững giới điều đạo đức. 4. Tnh dục. 5. No hại (những mong ước xấu v c hại) cho chng sinh v bản thn mnh. 6. Tham đối với cuộc sống ở ci sắc giới (ruparaga). 7. Tham đối với cuộc sống ở ci v sắc giới (aruparaga). 8. Kiu mạn. 9. Trạo cử (lăng xăng, khng yn). 10. V minh. [3] Quả dự lưu (sotapanna) l "người đang trn đường vượt qua ba tri buộc đầu tin, v do đ đ đi vo dng đạo, hay người đ vượt qua ba tri buộc đầu tin--Người đ được gọi l Tu đ hon" (Kinh Puggala Pannatti 1.47) Source: ý Nghĩa Của Nghi Lễ, Sự Cúng Dường, - [THẾ GIỚI VÔ HÌNH] |
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
| |