| ||||
| B_CÁCH THỞ 2 : ( Thở trên da hay ngoài da ) Cách thở này dễ cho người mới tập hơn là cách thở 1. Do đó mau đạt kết quả hơn cho người tập. Cũng dẫn ư theo lộ tŕnh đă tŕnh bày ở cách 1 , chỉ khác là ư tưởng tượng (dẫn ư) ở trên da , thay v́ dưới da vài mm như cách thở 1. Do đó không cần phải tưởng tượng làn khí chạy bám theo đường cong của cơ thể ( Ví dụ từ mũi xuống Đan Điền không cần phải tưởng tượng làn hơi đi sát đường cong của cằm rồi xuống cổ , xuống ngực đến Đan Điền , mà chỉ tưởng tượng làn Khí đi thẳng từ đấu mũi đến Đan Điền cũng có kết quả ). Cũng như cách 1 , kết quả sẽ đến ngay với người tập trong vài buổi đầu nếu tập đúng. TƯ THẾ , THỜI GIAN , KHÔNG GIAN LÚC TẬP THỞ : _ Không nên thở lúc bụng no hay sau khi vừa ăn cơm xong ( Trừ trường hợp cần thiết như cần phải thở để giải quyết 1 triệu chứng bệnh , 1 cơn đau đang xảy ra ). _ Đi, đứng, nằm ,ngồi đều tập thở được. Nhưng lúc đầu nên tập ngồi thở , không cần ngồi Kiết già , chỉ cần ngồi xếp bằng hoặc ngồi trên giường hai chân thả xuống đất , bàn chân phải đi giầy hay để trên thảm và thẳng lưng là được. Hai bàn tay đan vào nhau hay là để úp trên 2 đầu gối đều được cả. Tránh gồng cứng , và phải để lỏng thắt lưng , mắt nên mở không nên nhắm sẽ tốt hơn. Tuy nhiên nếu mở mắt khó tập trung tư tưởng , th́ cứ theo thói quen hé mắt hay nhắm mắt cũng được , nhưng sẽ khó tập thở trong lúc đi , đứng ,làm việc sau này LƯU Ư : Khi tập thở tránh ngồi sát mặt đất (phải ngồi cách mặt đất ) , trên di-văng là tốt. Tránh ngồi trên nệm , có độ đàn hồi cao. _ Nên tập nơi cao ráo , thoáng mát , không khí trong sạch , rất cần tránh nơi bị ô nhiễm ,nhất là hóa chất hay mùi hôi thối , bụi bặm. _ Tối , nên tập lúc 23-1 giờ đêm . Sáng , nên tập lúc 5-7 giờ sáng , mỗi ngày tập thường xuyên 2 lần. Trường hợp đặc biệt mới tập 4 lần chia theo 4 thời Tư , Ngọ , Mẹo , Dậu. Ngoài ra , khi cần thiết cứ thở theo nhu cầu lúc bấy giờ. _ Tránh nơi ồn ào , có người qua lại quấy phá ḿnh. VỀ TỶ LỆ THỞ : _ Mỗi lần thở : trung b́nh từ 4-5 hơi cho mỗi đường Âm hay Dương ( Trừ giai đoạn đầu tập thở có thể tập đến 10 đường Âm hay Dương cho mỗi lần tập ) _ Tự định và điều chỉnh hơi thở của ḿnh giửa 2 đường Âm, Dương sao cho phù hợp với sức khoẻ và cơ thể của ḿnh. Đó gọi là TỶ LỆ VÀNG. Thí dụ đối với người tạng Âm , hay bị Âm bệnh ( bệnh hư hàn ) , hay sợ lạnh , lười biếng , mệt mơi th́ tỷ lệ 5 Dương -1 Âm có thể là TỶ LỆ VÀNG . Tóm lại : TỶ LỆ VÀNG là tỷ lệ giửa số lượt thở Âm và Dương thích hợp nhất đối với cơ thể 1 người trong 1 giai đoạn nào đó. LƯU Ư : Để đạt TỶ LỆ VÀNG , người tập phải TỰ T̀M RA bằng cách theo dơi sát t́nh trạng cơ thể ḿnh sau mỗi ngày tập thở ( sẽ t́m được sau 1 thời gian tập ) KINH NGHIỆM THỞ : _ Lúc tâm trí bối rối , không ổn định tư tưởng hay có kẻ quấy rầy th́ không nên tập thở. Chỉ nên tập thở lúc b́nh tâm thoải mái. _ Giai đoạn đầu nên tập thở thuần Dương trong ṿng 1 tuần ( mỗi lần 10 hơi ). Khi tập đường Dương có kết quả rồi , hăy tập sang đường Âm mới dễ có kết quả ( cũng tập 1 tuần ) , mỗi lần tập thở 10 đường. Nếu sau 1 tuần vẫn chưa đạt kết quả , th́ phải tiếp tục tập cho đến khi có kết quả mới đổi sang tập đường Âm. Tuy nhiên , trong thực tế lại có người hạp đường Âm hơn . Trường hợp này có thể tập đường Âm trước cũng được. LƯU Ư : Nếu thở đường Dương mà thấy cơ thể nóng quá th́ có thể bớt số lượt thở lại cho bớt nóng . Thở đường Âm cũng vậy , nếu thấy ngủ quá nhiều th́ bớt lại. Tóm lại , phải nhớ linh động , gia giảm sao cho đạt kết quả tốt là được. _ Khi tập có kết quả ở cả 2 đường thở , lúc bấy giờ hăy tự định cho ḿnh 1 tỷ lệ thở tùy theo t́nh trạng sức khoẻ của ḿnh , căn cứ vào tiêu chuẩn Âm-Dương-Hàn-Nhiệt . Ví dụ : Thấy trời nóng , ta cũng cảm thấy nóng trong người , ta phải thở đường Âm nhiều hơn , như 1 Dương 3 Âm chẳng hạn , thở xong , theo dơi sát cơ thể ( phải tập lắng nghe cơ thể ḿnh ) xem có dễ chịu không , có khoẻ không , nếu vẫn c̣n nóng th́ tăng thêm lần Âm lên nữa , nếu lạnh th́ bớt lại...vv....Hăy tự ḿnh kiểm tra cơ thể của ḿnh và gia giảm làm sao cho hài ḥa tốt đẹp nhất cho cơ thể , đó gọi là TỶ LỆ VÀNG . LƯU Ư : Các tỷ lệ trên chỉ là gợi ư. Trên thực tế phải tùy cơ thể mà định tỷ lệ thích hợp cho ḿnh. Tóm lại , phải chịu khó theo dơi sát sao cơ thể ḿnh , để từ đó điều chỉnh tỷ lệ thở Âm-Dương thích hợp. Thở đường Âm là ức chế thần kinh , là làm mát người. Thở đường Dương là làm hưng phấn thần kinh, làm ấm cơ thể. Nhưng phải đề pḥng , thở nhiều quá có thể bị phản phục : Vật cực tất phản ( nguyên lư của Dịch mà ) Có thể xen kẽ đường Âm -đường Dương , hay thở 1 loạt đường này rồi 1 loạt đường kia. Có thể thở thuần Dương , hay thuần Âm cho mỗi lần tập hay mỗi giai đoạn tập , hoặc theo nhu cầu. có thể thở làm nhiều lần trong ngày , mỗi lần 1-2 đường thở. Trong mỗi lần tập không nhất thiết phải thở liên tục theo phép thở Âm Dương v́ dễ bị mệt khi mới tập (thiếu oxy v́ hít vô rất ít ). Do đó có thể xen kẽ thở tự do ( hít vô đầy phổi nhiều oxy và thở ra cho cạn phổi ) giửa các đường thở theo Âm Dương Khí Công. Tránh thở đường Âm khi bị cảm lạnh hay đường Dương khi bị cảm nóng ( v́ sẽ làm bị cảm nặng hơn và kéo dài ). Trái lại , hăy thở 1 loạt 5,10 đường Dương nếu chớm cảm lạnh , hay thở 1 loạt đường Âm nếu chớm cảm nóng . Tuy nhiên nếu bệnh cảm đă h́nh thành th́ ngưng tập thở , chữa cho hết hẳn bệnh rồi mới tập tiếp. DẤU HIỆU THỞ ĐÚNG : _ Đường Dương : Nếu thở đúng sẽ cho cảm giác hưng phấn , lạc quan , hăng hái , yêu đời , nóng tính , tăng cường trí nhớ và thông minh , khoẻ trong người , ăn ngon , mau đói , tăng trọng lượng (mập , lên kư ) ,ham làm việc , dai sức , mạnh hơn , khoẻ hơn , phản xạ nhạnh hơn , tự tin , can đảm hơn , ấm áp hay nóng nhiệt trong người , táo bón (tuy nhiên có người lại xổ độc hay đại tiện được dễ dàng chứ không táo bón v́ đó là bón Âm ) , trung tiện nhiều , giảm tiết dịch , tiểu ít. Nếu thở nhiều sẽ làm nhức răng , sưng nướu răng , nặng đầu , nổi mụn nhọt , tiểu gắt , tiểu đỏ , đau lưng , mất ngủ ( tuy nhiên sẽ có người ngủ ngon và dễ hơn , v́ cơ thể bị Âm hàn , thở đường Dương cơ thể ấm áp hơn và quân b́nh Âm Dương. Do đó dễ ngủ chứ không có` ǵ lạ ) , tăng huyết áp , lâu lành vết thương , hưng phấn t́nh dục , cầm máu , ghẻ lỡ....Đặc biệt sau khi thở có kết quả th́ khi vận động nhiều như đánh tennis chẳng hạn , cơ thể sẽ ra ít mồ hôi hơn trước khi tập thở. Sở dĩ có hioe6n5 tượng này là v́ cơ thể dồi dào Khí Dương hơn trước. Mà đặc tính của Khí Dương là giàm tiết dịch , giảm xuất tiết ( do đó làm giảm mồ hôi , giảm đi tiểu dù uống nước nhiều hơn , v́ khát nước hơn khi thở đường Dương. Đây là điểm rất đặc biệt khác với quan điểm thông thường của Tây Y là hễ uống nước nhiều th́ phải đi tiểu nhiều ) _Đường Âm : Nếu thở đúng sẽ có hiện tượng ức chế thần kinh , buồn ngủ ( nhưng đối với những người cơ thể hư hàn hoặc Âm tạng th́ lại khó ngủ hơn ) , lười biếng , nguội tánh , mau mệt , không cảm thấy đói bụng , giảm cân , mát người , nhuận trường xổ độc , mau lành vết thương..vv...Nếu thở nhiều sẽ bị tiêu chảy , tiểu nhiều , tiểu trong , đau lưng , ngủ nhiều , hạ huyết áp , dễ bị cảm lạnh , sổ mũi , tăng tiết dịch , dễ bị xuất huyết , mỏi và mềm cơ bắp , phản xạ chậm , bi quan , thiếu tự tin , thiếu can đảm , ức chế t́nh dục....Đặc biệt thở nhiều đường Âm sẽ rất ít khi khát nước (do đó uống ít nước nhưng lại đi tiểu nhiều. Nghe ra rất nghịch lư nhưng lại là sự thật ) |
| ||||
| KẾT QUẢ : Nếu tập đúng pp th́ chỉ sau 1 đến 3 ngày hoặc 1 tuần là đạt được các kết quả như trên. Nếu tiếp tục tập thường xuyên và lâu ngày người tập có thể PHÁT KHÍ ( PHÓNG KHÍ ) qua 2 bàn tay được , ngũ quan trở nên linh mẫn , đầu óc sáng suốt , thân thể nhẹ nhàng. Ngoài ra , chúng ta có thể dùng Âm Dương Khí Công để tự chữa cho ḿnh 1 số bệnh như tiểu nóng gắt (thở đường Âm ) , suyễn (đa số thở đường Dương ) , đau bụng , tiêu chảy , đau lưng , mệt mơi th́ nên thở đường Dương ; đau bao tử , đau răng nên thở đường Âm , mệt tim , mất ngủ , táo bón , viêm họng , huyết áp cao..vv...Sau khi tập lâu ngày có thể dùng Khí Công để chữa 1 số bệnh cho người khác. Phải cẩn thận không dụng công chữa bệnh cho người khác khi sức (Nội lực ) c̣n yếu hay khi trong ḿnh không được khoẻ... DẤU HIỆU THỞ SAI : Tức ngực , bụng ; mệt hoặc tức 1 chỗ nào đó trên cơ thể , chóng mặt , đổ mồ hôi dầm dề và mệt , tê dại tay chân , mệt tim....hoặc không có những kết quả đă tŕnh bày ở phần thở đúng. LỜI DẶN CẦN THIẾT : Người có bệnh huyết áp cao tránh thở nhiều đường Dương , người bị huyết áp thấp tránh thở nhiều đường Âm . Tuy nhiên , ở 1 số trường hợp đặc biệt như Huyết Áp Cao Âm chứng th́ thở Dương lại làm Huyết áp hạ xuống , và thở Âm lại làm Huyết áp tăng lên ( Huyết Áp Cao Âm Chứng là Huyết áp không kèm theo xơ mỡ động mạch , cũng như lượng cholesterol và calci trong máu thấp; hay b́nh thường là bị xơ mỡ động mạch và có lượng cholesterol trong máu cao ) . Hạn chế càng nhiều càng tốt việc uống nước đá lạnh , thức uống có nước đá , nhất là ngay sau khi tập thở sẽ làm giảm kết quả của việc tập thở rất nhiều. V́ đây là pp nhanh , mạnh , toàn diện cho nên tránh ham thở nhiều ( không quá 10 lần thở trong 1 buổi tập ). Trừ trường hợp cá biệt như chơi thể thao , đánh vơ.... BẢNG KIỂM TRA KẾT QUẢ TẬP THỞ THEO PHƯƠNG PHÁP- ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG Xin các anh chị , các bạn kẽ ra thành 2 bảng với các ô nhỏ , để tiện theo dơi những triệu chứng mà ḿnh có trong 2 tuần tập đầu (NCd muốn vẽ rơ ra lắm nhưng....không biết vẽ vi tính nên đành diễn tả vậy nhé ! ) Ở hàng ngang trên cùng là 1 hàng ghi rơ 14 ngày (2 tuần) Ở hàng dọc bên trái là các triệu chứng , tùy theo bảng Âm hay Dương mà kê ra hết Tương ứng với mỗi triệu chứng là 1 ô , nếu có th́ đánh dấu vào , để ta xem kết quả việc tập của ḿnh thế nào,nhằm dễ t́m ra TỶ LỆ VÀNG cho cơ thể ḿnh. Dưới đây là các triệu chứng theo thuộc tính Âm Dương 1/. Các triệu chứng thuộc Dương : Lạc quan -yêu đời , Tự tin -can đảm , Nhanh nhạy , Hăng hái -nóng tính , Siêng năng , Khoẻ mạnh - Dai sức , Nóng- Bức rức , Nóng đầu-mặt-mắt , Nóng ngực , Nóng lưng -Đổ mồ hôi , Nóng bụng , Nóng tay , Nóng chân , Nổi mụn , Lỡ lưỡi -môi , Nhức răng , Táo bón , Xổ độc , Nổi ghẻ-nhọt , Đổ ghèn-sáng mắt , trung tiện nhiều , Tiểu nóng-ít , T́nh Dục tăng , Bền tinh-Mộng tinh , Chịu lạnh giỏi , Ăn ngon-nhiều , Mau đói , Khát nước , Nhức đầu-căng đầu , Chóng mặt. 2/. Các triệu chứng thuộc Âm : Bi quan-Chán đời , Thiếu tự tin-nhút nhát , Chậm chạp , Không hăng hái-nguội tính , Lười biếng , Yếu sức-mau mệt , Mát-ớn lạnh , Mát đầu-mặt-mắt , Mát ngực , Mát lưng-ráo mồ hôi , Mát bụng , Mát tay , Mát chân , Xẹp mụn nhọt , Làm liền vết lỡ loét , Làm chắc nướu răng , Nhuận tràng- Tiêu chảy , Xổ độc , Làm lành ghẻ , Làm hết ghèn , Trung tiện ít , Tiểu trong- nhiều , T́nh Dục yếu , Xuất tinh sớm , Dỡ chịu lạnh , Ăn kém-ít , Chậm đói-Biếng ăn , Ít khát nước , Dễ chảy máu , Nặng đầu , Chóng mặt. ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG CHẨN ĐOÀN BIỂU. 1/. Âm chứng : _ Thường càm thấy lạnh , hay ớn lạnh , sợ gió , sợ nước , sợ lạnh. _ Thường ít khát nước ( hay uống nóng ) _ Thường ngủ sớm ( dỡ thức khuya ) _ Thường ngủ nhiều (dễ ngủ ) _ Thường ăn ít , kém ăn _ Thường chậm tiêu _ Thường tiêu chảy , phân mềm ; tiểu trong , nhiều _ Thường yếu kém về T́nh dục _ Hay nằm , ngồi , lười biếng _ Da mềm , lạnh (mát) , xanh _ Mạch ch́m , yếu , ch́m , nhỏ _ Huyết áp thường thấp 2/. Dương chứng : _ Thường cảm thấy nóng , hay bức rức trong người , không sợ gió , không sợ lạnh , thích nước , thích gió. _ Thường khát nước (hay uống lạnh ) _ Thường thức khuya ( giỏi thức khuya ) _ Thường ngủ ít ( mất ngủ ) _ Thường ăn nhiều , ngon miệng _ Thường mau tiêu _ Thường táo bón , kiết , tiểu vàng-đỏ-gắt (đái láo) _ Mạnh về T́nh dục _ Hay đi , đứng , siêng năng _ Da cứng , ấm hồng _ Mạch nhanh , nổi , to _ Huyết áp thường cao 3/. Dấu hiệu Âm tạng : _ Da tái xanh , nhợt nhạt , mịn màng , bủng , mỏng. _ Ḿnh mát , tay chân lạnh _ Da thịt mềm nhăo , ít lông , lỗ chân lông nhỏ _ Xương cốt thường nhỏ nhắn , yếu mềm _ Tóc mềm , nhỏ sợi _đôi khi quăn_ mày lợt _ Ánh mắt nhu ḥa , êm dịu , kín đáo _ Tiếng nói êm ái , chậm chạp , nhỏ nhẹ _ Cử điệu chậm, đi đứng chậm , phản ứng chậm , ăn uống chậm. _ Lănh đạm , tiêu cực , thụ động , kém hăng hái , nhiệt t́nh. _ Ít ăn các thức cay , mặn , hăng , nồng , sống TỔNG SỐ ĐIỂM ÂM.......... 4/. Dấu hiệu Dương tạng : _ da hồng hào , sậm màu , sần sùi , săn chắc , dầy _ Ḿnh ấm nóng , tay chân ấm áp _ Da thịt chai cứng ,. nhiều lông , lỗ chân lông lớn _ Xương cốt thường to lớn , cứng chắc _ Tóc cứng , to sợi , thường thẳng , mày đậm _ Ánh mắt mạnh mẽ , sỗ sàng , lộ liễu _ Tiếng nói rổn rảng , nhanh , mạnh _ Cử điệu lanh lẹ , đi đứng & phản ứng nhanh , ăn uống nhanh _ Nhiệt t́nh , tích cực , năng động , hăng hái _ Hay ăn các thức cay , mặn , nồng , sống TỔNG SỐ ĐIỂM DƯƠNG........... TÍNH ÂM DƯƠNG LIÊN HỆ QUA CÁC DẠNG ĐỐI LẬP Đất - trời ; tĩnh -động ; lạnh-nóng ;hàn-nhiệt ; mềm,bở - cứng,chắc ; Chua,đắng,lạt - cay,ngọt,mặn ; sinh tố C, E - sinh tố A,B,D ; lỏng-đặc; Chậm,chậm chạp - nhanh, lanh lẹ ; Nhẵn, láng, mịn, mịn màng_ nhám, sần sùi ; lơm- lồi ; nhớt - rít ; nặng nề (cảm giác) - nhẹ nhàng (cảm giác ) ; nhẹ (trọng lượng ) - nặng (trọng lượng ) ; tối,đục-sáng, trong ; xanh,tím,đen - đỏ,cam,vàng ; nổi-ch́m ; trong - ngoài ; trái - phải ; dưới,sau - trên,trước ; xuống -lên ; sâu-cạn ; vô h́nh -hữu h́nh ; mê say-tỉnh táo; dăn,duỗi,ph́nh ra,tán(sinh lư) -co súc,thu liễm,tụ(sinh lư); tinh thần, tư tưởng - vật chất ,thể xác ; nội dung -h́nh thức ;dài-ngắn ; nước - lửa ; huyết, dịch, bạch huyết - khí, thần kinh ; ẩm ướt-ráo khô ; ngang-dọc ; mỏng-dầy ; nhỏ,hẹp (diện tích ) - lớn,rộng (diện tích ) ; thấp -cao ; chùng,cong - thẳng ; mệt mơi - khoẻ khoắn ; đông-tây ; nam-bắc ;tiêu cực ,thụ động ,lười biếng -tích cực ,hăng hái ,siêng năng; thưa,hở - dầy đặc, khít khao ; lạt-đậm ; tĩnh mạch -động mạch ; dịu dàng, hiền lành - thô bạo , dữ dằn. ( cái này , các anh chị , các bạn nên vẽ ra thành 1 bảng phân 2 bên cho dễ đối chiếu , tại NCD vẽ vi tính không được mới để thế thôi ). |
| ||||
| TR̀NH BÀY PHƯƠNG PHÁP : 1/.CÁCH SỬ DỤNG : _ Mỗi ngày tập 2 lần , sáng sớm ngay sau khi vừa thức dậy , và tối trước khi đi ngủ. Nếu bận việc có thể tập mỗi ngày 1 lần cũng có kết quả. _ Chỗ ngồi : nếu có được nơi cao ráo , sạch sẽ , yên tịnh , thoáng khí th́ tốt nhất. Bằng không th́ cũng phải lựa chỗ tương đối yên tịnh , sạch sẽ mà tập. _ Cách ngồi : Ngồi xếp bằng , hai bàn tay để ngữa chồng lên nhau , hai ngón cái giao nhau. Lưng thẳng , đầu cổ thẳng , mắt mở tự nhiên ( Không nên nhắm mắt ) nh́n ra phía trước nhưng trong óc dừng nghĩ vẩn vơ , lung tung ( tức đừng có tạp niệm ) mà chỉ tập trung về làn hơi tưởng tượng chạy trên Mạch Nhâm hoặc Mạch Đốc. Tư thế thật vững vàng , thoải mái , tự nhiên. Tránh ưỡn ngực hay gồng cứng ngắc thân ḿnh , v́ như thế sẽ khiến Khí khó lưu thông trong các Mạch được , và cũng phải để lỏng thắt lưng ( Khí Huyết mới dễ lưu thông ). 2/. SỐ LƯỢT THỞ _ TỶ LỆ VÀNG : Số lượt thở không nhất định mà tùy thuộc vào các yếu tố sau : _ Ư muốn của người tập : Muốn tập nhiều hay ít , muốn thở nhiều đường Dương hay nhiều đường Âm , muốn thức khuya hay muốn ngủ.... _ T́nh trạng lao động : Lao động chân tay hay trí óc , nặng hay nhẹ.. _ T́nh trạng cơ thể : Mạnh hay yếu , có bệnh hay không có bệnh.. _ Tuổi tác _ Nam nữ : Già , trẻ _ Nam , nữ thở khác nhau.. _ Tạng người : Âm, Dương , B́nh tạng đều thở khác nhau. _ Thời tiết : Trời nóng hay khô lạnh , ráo hay ẩm ướt đều thở khác nhau. _ Thực phẩm dùng hàng ngày : Ăn đồ cay , nóng phải thở nhiều đường Âm ; ăn đồ mát , lạnh phải thở nhiều đường Dương.... _ Bệnh hoạn : Bệnh nặng thở nhiều , nhẹ thở ít.Ngoài ra c̣n tùy loại bệnh mà ấn định số lượt thở nhiều hay ít đường Âm -Dương cho phù hợp. _ Thời gian tập: Mới tập hay đă tập lâu , lúc đầu chưa quen tập nhiều , về sau tập ít hơn. _ Không gian : Ở Đà Lạt thở khác ở Sài G̣n , ở Sài G̣n thở khác ở Vĩnh Long , nói chung là do khí hậu mỗi nơi mỗi khác. Do tùy thuộc nhiều yếu tố , nên số lượt thở cho mỗi cá nhân không nhất định mà thật sự rất linh động. Có thể coi nó như 1 hàm số với nhiều biến số vậy. Nói thế tuy đầy đủ nhưng chưa được cụ thể, và chắc chắn điều ḿnh muốn biết là phải thở bao nhiêu đường Âm , bao nhiêu đường Dương cho mỗi lần tập. Vậy để cho dễ hiểu , dễ tập , thoạt tiên chúng ta hăy làm như sau : _ Thở 2 đường bằng nhau : Ví dụ 5A/5D hoặc 10A/10D _ Qua hôm sau , nếu thấy ḿnh nóng mắt , khó ngủ (có khi mất ngủ ), siêng năng , hăng hái làm việc hơn mọi ngày...(có khi lại váng đầu , nổi nhọt , nổi hạch ) th́ điều đó có nghĩa là Khí Dương trong cơ thể chúng ta đang giữ ưu thế so với Khí Âm ( hoặc có thể do chúng ta là người có Tạng Dương , nên Khí Dương trong ta đă nhiều sẵn ). Và như thế là chúng ta phải thở theo 1 tỷ lệ khác : Bớt 1 số lượt thở đường Dương xuống, trong khi vẫn giữ nguyên số lượt thở đường Âm ; hoặc giữ nguyên số lượt thở đường Dương , nhưng tăng số lượt thở đường Âm lên cũng được. Hăy tăng ( hay giảm ) số lượt thở từ từ , cho đến khi không c̣n cảm thấy nóng mắt , khó ngủ ,...mà trái lại thấy thư thái nhẹ nhàng , dễ chịu , siêng năng...là đúng tỷ lệ rồi vậy. _ Làm tương tự nếu thấy t́nh trạng Khí Âm trong cơ thể đă giữ ưu thế. _ Cứ như thế , qua thời gian ta sẽ t́m được Tỷ Lệ thở chính xác , phù hợp với ḿnh. Đó là Tỷ Lệ Vàng , con số của sức khoẻ và an vui. Thật vậy , qua tỷ lệ thở này ta sẽ t́m thấy những biểu hiện của sức khoẻ và hạnh phúc trong thể xác lẫn tâm hồn ta , như sự siêng năng , hăng hái làm việc , dai sức và mau hồi sức , ít khi đau ốm. thường tươi vui , thoải mái , tự tin , b́nh tĩnh. (có thể chúng tôi chủ quan và nói quá , nhưng trên thực tế , th́ 1 sự khoẻ mạnh do khí lực sung túc , và quân b́nh về Âm Dương đưa tới 1 sự ổn định , thoải mái về mặt tinh thần không phải là điều vô lư và khó hiểu ). ***LƯU Ư : tỷ lệ này không cố định mà thỉnh thoảng lại thay đổi , do sự biến đổi của 1 vài yếu tố mà nó phụ thuộc như ở trên đă nói. Ví dụ sau khi t́m ra tỷ lệ thở hàng ngày phù hợp với Tạng người & Điều kiện làm việc của ḿnh , bỗng đến mùa nắng trời nóng quá , ta phải điều chỉnh lại sao cho đường Âm nhiều hơn tỷ lệ cũ mới được , mới khiến ta không cảm thấy bức rức , quạu quọ , hay bị các chứng do cơ thể quá nóng gây ra. Tương tự vậy với các trường hợp khác , như trời lạnh th́ thở đường Dương tăng lên , lao động chân tay th́ tăng cả 2 đường lên, bệnh hoạn th́ tùy theo bệnh Âm hay Dương mà tăng giảm số lượt Âm -Dương cho phù hợp , cần thức khuya th́ta8ng đường Dương , muốn ngủ th́ giảm đường Dương..... TÓM LẠI : về số lượt thở cho mỗi đường Âm-Dương , mỗi người phải tự theo dơi sâu sát t́nh trạng cơ thể ḿnh ( cả phần thể xác lẫn tâm hồn ) để xác định đúng và điều chỉnh kịp thời số lượt thở của ḿnh , sao cho thường xuyên đạt tới t́nh trạng : khoẻ mạnh , siêng năng , thư thái , an vui , ít bệnh hoạn , và càng lúc càng đạt đến những tiêu chuẩn sức khoẻ như phần sau đây qui định. 3/. BẢNG TIÊU CHUẨN CỦA SỨC KHOẺ : ( Do NCD không biết vẽ vi tính , nên ghi thành 2 hàng , trên là tiêu chuẩn về Tinh Thần , dưới là tiêu chuẩn về Thể Xác , các anh chị , các bạn nên kẻ ra thành 1 bảng với 2 bên cho tiện theo dơi nhé ! ) _ Thư thái , thoải mái , yên vui. Mắt sáng có thần. _ Sáng suốt , vô tư. Tai thính. _ Thông minh , mẫn tiệp , nhiều sáng kiến. Mũi tinh. _ Sâu sắc , dung dị , khiêm tốn. Miệng lưỡi tinh tế. _ Can đảm , tự tin , giàu nghị lực , tự chủ. Ăn uống ngon miệng , mau tiêu hóa. _ B́nh thản , trầm tĩnh. Hết táo bón. _ Bớt ham muốn về vật chất ( ăn uống-t́nh dục-xa hoa ) Ngủ ngon , thức dậy tỉnh táo. _ Siêng năng , hăng hái , ham làm việc ( trí óc hay chân tay ) Dai sức ( làm việc nhiều , ít mệt ) , mau hồi sức. _ Đầu óc luôn tỉnh táo, dẻo dai ,(dù có tập trung tư tưởng làm việc 1 thời gian dài ). Thức khuya không biết mệt , sáng dậy vẫn tỉnh táo như thường. _ Nhạy bén , tinh tế. Chịu đựng được đói khát lâu dài. _ Độ chú ư gia tăng. Luôn luôn khoẻ khoắn , ít khi mệt. _ Giác quan thứ 6 phát triển (linh tính ) Hết đau ( hoặc bớt ) các bệnh trong người. _ Vị tha , độ lượng , hy sinh , nhân hậu. Thường ít khi có bệnh (nếu có cũng chữa được dễ dàng ). _ Giàu ư chí , nghị lực. Vẻ mặt luôn tươi trẻ. _ Giỏi tự chủ , chủ động , tích cực. Phản ứng lanh lẹ , chính xác , đi đứng gọn gàng , nhanh nhẹn. _ Vui với lư tưởng. Luôn hướng đến Chân-Thiện_Mỹ. Da thịt mịn màng , hồng hào , ấm áp. _ An nhiên , tự tại. Năng lượng sinh học gia tăng. LƯU Ư : người già yếu , người đau ốm , và người làm việc nặng ( như các bác công nhân, các vận dộng viên ) thở nhiều hơn những người trẻ và không đau ốm , không làm việc nặng. Theo kinh nghiệm , những người trẻ khoẻ chỉ cần thở 5 lượt cho cả 2 đường Âm Dương là đủ . C̣n người lớn tuổi , người già yếu phải thở gấp 5 lần mới đủ. Những người mắc bệnh tim , huyết áp cao cần phải thận trọng khi tập. Tập thật ít lúc đầu , sau thấy bớt bệnh hăy tăng lên dần dần. Khi thở dùng ư thay v́ dùng sức th́ tránh được sự mệt mà các người yếu tim hay bị . Cũng nên nhớ rằng : đường Dương tim đập nhanh , đường Âm làm tim đập chậm. Nếu đă dùng đúng mà vẫn thấy phản ứng bất lợi th́ đừng tập nữa |
| ||||
| Đôi điều với những người đă từng tập các môn khí công -nội công-yoga từ trước : Quư vị nào đă từng tập qua các môn Khio1 công, Nội công như Misogi của Hiệp Khí Đạo , Tĩnh Tọa của Cương Điền , Nội công của Thiếu Lâm tự , Kim Cang Nội công hay Yoga...sẽ thấy ḿnh không thể vận khí qua 2 Mạch Nhâm và Đốc , nhất là qua Mạch Đốc , và sẽ có cảm giác như bị nghẹt , tức dội và sau đó sẽ bị nhức từng chỗ như Ấn Đường (giửa 2 chân mày),Cự Khuyết (giửa thóp ngực), hay nơi bụng dưới...có khi hơi lại xông ngược lên mặt và làm nóng bừng khó chịu. Những sự kiện lạ trên sẽ khiến quư vị sợ hăi và dễ dàng bỏ cuộc , đồng thời cho rằng phương pháp này chỉ đưa đến những hậu quả tai hại. Và biết đâu lại chẳng đưa ta đến cảnh tẩu hỏa nhập ma ? Sự thật không có ǵ đáng cho quư vị lo sợ và khó hiểu cả. Việc đó chẳng qua là v́ 2 Mạch Nhâm và Đốc chưa được đả thông mà thôi. Mặt khác , v́ chiều vận khí của các phương pháp có khác nhau , cho nên có sự chỏi nhau và đưa đến các hậu quả như trên. Như thế trong trường hợp này ta phải tập lại như sau : _ Thở b́nh thường , từ từ , nhẹ nhàng (không cố gắng lắm) dùng Ư dẫn Khí qua chỗ nghẹt (tránh dùng lực , tức cố ư dùng sức cho qua ) _ Nếu qua không được th́ đừng cố ráng sức làm mà hăy dừng lại , đợi qua ngày hôm sau sẽ làm tiếp. _ Cứ thế khoảng 1 tuần hay hơn , chỗ bế tắc sẽ thông và khi đó ta có thể tập như mọi người khác. _ Và 1 điều nên nhớ rằng : Không nên tham lam tập nhiều phương pháp cùng 1 lúc ( hoặc trong ngày ). V́ có nhiều phương pháp không hợp với nhau và như thế sẽ đưa đến hậu quả xấu cho người tập. VẤN ĐỀ CHỈ CÓ THẾ , MONG QUƯ VỊ CHỚ QUÁ LO SỢ MÀ BỎ CUỘC. 4/. SỐ LƯỢT THỞ _TỐC ĐỘ THỞ _THỜI GIAN TỤ KHÍ _ĐỘ TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG KHÁC NHAU CHO NHỮNG KẾT QUẢ KHÁC NHAU : _ Một điều chắc chắn và hợp lư là : thở ít lượt sẽ cho kết quả khác với thở nhiều lượt , đối với 1 đường Âm và Dương cùng 1 lúc. Ví dụ : thở chừng 5 đường Dương sẽ cho ta ấm áp , trái lại thở chừng 10 hay 20 đường Dương 1 lúc mà không có đường Âm kèm theo sẽ cho ta sự nóng nhiệt (lượng biến th́ chất biến). Cũng vậy đối với đường Âm , chúng ta sẽ đi từ mát (lương ) đến lạnh (hàn) do số lượt thở từ ít đến nhiều. Nếu ta thở cả 2 đường 1 lúc , kết quả cũng sẽ khác nhau tùy ở sự thở niều hay ít. _ Đối với tốc độ thở (Dẫn Khí trên Mạch ) hẳn là điều hợp lư khi ta thấy thở chậm dễ làm ta đổ mồ hôi hơn là thở nhanh (đúng hơn là tưởng tượng nhanh ) _ Về thời gian tụ khí tại Đan Điền , th́ chắc không ai ngạc nhiên khi thấy càng nín thở lâu càng thấy mặt đỏ và càng ngộp thở khó chịu. Và chắc chắn những hậu quả tai hại sẽ xảy ra nếu ta cố hết sức để phá kỷ lục nín hơi của ta. _ Hẳn nhiên mọi sự phân tán tư tưởng đều không có lợi cho việc tập theo phương pháp Âm Dương Khí Công , và chắc chắn sẽ không đưa đến kết quả tốt được. _ Thở đường Âm trước khác với thở đường Dương trước. Ví dụ : Thở 5D/5A sẽ cho kết quả khác khi ta thở 5a/5D . Sau độ 1 tuần áp dụng phương pháp ta sẽ đước số kết quả như : ăn ngon , ngủ ngon , dễ tiêu hóa , hết táo bón , siêng làm việc , bớt nóng tính (nếu có trước đó) và cảm thấy khoẻ khoắn , tươi tỉnh , dẻo dai hơn... Nếu tập không đúng th́ sẽ : không thấy các kết quả trên , hơn nữa c̣n khó chịu , chóng mặt , mệt tim. Nếu tập quá nhiều đường Dương sẽ có phản ứng khác lạ của cơ thể như nổi nhọt , nổi hạch , nhức đầu , nhức răng ; hoặc tập quá nhiều đường Âm sẽ tiểu nhiều , buồn ngủ , yếu sức , làm biếng. Nếu tập thường xuyên và lâu dài lần lượt các bạn sẽ đạt được các tiêu chuẩn của sức khoẻ đă nêu ở bảng trên. Ngoài ra khi thở sẽ cảm thấy ấm vùng Đan Điền hoặc khí nóng chạy trên các Mạch và các vùng trên cơ thể , nhất là vùng eo , lưng , gáy... 5/. TÍNH CHẤT_CÔNG DỤNG CỦA 2 ĐƯỜNG ÂM DƯƠNG : ( như ở phần bảng Tiêu chuẩn sức khoẻ , do NCD tôi không vẽ được nên ghi thành 2 hàng trên dưới , trên là Âm , dưới là Dương , các anh chị , các bạn hăy vẽ thành 1 bảng cho dễ theo dơi nhé ! ) _ Làm giảm nhịp đập của tim. Làm tăng nhịp đập của tim. _ Làm chậm(động tác). Làm nhanh(động tác). _ Làm yếu(sức) , dễ bị dị ứng , dễ dao động. Làm mạnh(sức) , khó dị ứng , khó dao động. _ Làm mát máu (giảm thân nhiệt ) , làm mát bên trong cơ thể. Làm nóng máu( tăng thân nhiệt) , làm ấm bên trong cơ thể. _ Làm mát tim , gan , phổi , bao tử , thận. Làm ấm tim , gan , phổi. bao tử , thận ( thở nhiều sẽ nóng ) _ Làm dễ ngủ. Làm khó ngủ. _ Làm mịn màng , tươi nhuận da thịt. Làm săn chắc da thịt (hồng hào). _ Làm bớt nóng tánh (trầm tĩnh) Làm nóng tánh , hăng hái. _ Làm bớt sự cứng rắn , mạnh bạo , tự tin. Làm gia tăng ư chí can đảm , tự tin , bạo dạn. _ Làm bớt sưng , đau , lở loét , nhức nhối. Làm tăng sưng , đau , lở loét , đau nhức. _ Làm mau mệt mơi. Làm bớt mỏi mệt , làm khoẻ khoắn. _ Sinh da thịt , hàn vá vết thương. Làm lỡ loét các vết thương. _ Làm hạ huyết áp. Làm tăng huyết áp. _ Làm ức chế thần kinh. Làm hưng phấn thần kinh. _ Làm lưu thông huyết dịch , loăng máu , dễ xuất huyết. Làm bế huyết , làm đặc máu , mau đông máu. _ Làm lớn thể tích ( nở lớn ra , ph́nh ra ). Làm nhỏ thể tích ( co lại ). _ Làm sậm da. Làm sáng da. _ Làm ức chế t́nh dục. Làm hưng phấn t́nh dục. _ Làm giảm khả năng tập trung tư tưởng , mau quên. Làm tăng khả năng tập trung tư tưởng , mau nhớ , nhớ dai. _ Làm giảm khả năng sáng tạo , tưởng tượng. Làm tăng khả năng sáng tạo , tưởng tượng. Đây chỉ là liệt kê phần nào những tính chất công dụng thường thấy , thường dùng. Qua thực tế công phu , chắc chắn quư vị sẽ t́m thấy nhiều điều mới lạ. Khi đó sự đóng góp của quư vị hẳn là điều hân hạnh cho chúng tôi. Chúng tôi vừa tŕnh bày bảng tính chất và công dụng của 2 đường Âm Dương. Hẳn là c̣n nhiều điều cần phải được tiếp tục khám phá và tŕnh bày. tuy nhiên đó là công việc có tính cách lâu dài. Vấn đề ở đây là ta phải làm sao để vận dụng bảng tính chất và công dụng trên 1 cách có lợi nhất. Ví dụ ở điểm 5 ta thấy tính chất của đường Âm là làm mát bao tử. Như thế đối với những bệnh đau bao tử v́ nóng như lỡ bao tử hay đau thượng vị , ta đều có thể t́m thấy kết quả tốt khi thở đường Âm với 1 lượng lớn , chẳng hạn chừng vài chục đường 1 lúc cho mỗi buổi tập. Một ngày tập 2-3 lần và liên tục trong nhiều ngày. Về điều này , chính mỗi cá nhân phải tự t́m số lượt thở thích hợp với mức độ bệnh và t́nh trạng cơ thể ḿnh , v́ không ai có thể biết ḿnh rơ hơn ḿnh. V́ không thể liệt kê nhiều trường hợp áp dụng khác do hoàn cảnh khách quan. tuy nhiên chúng tôi tin tưởng với óc tưởng tượng phong phú và tài vận dụng khéo léo của các bạn , chắc chắn các bạn sẽ t́m thấy nhiều điều lợi ích , đôi khi ngạc nhiên và thú vị qua việc khai thác bảng trên. Cũng cần lưu ư là Bảng tính chất và công dụng của 2 đường Âm & Dương trên đây , vài điểm cần phải được hiểu với 1 nghĩa rộng. Ví dụ : tim ,gan ,bao tử , thận cũng phải được hiểu là tâm ,can , tỳ , phế , thận . Tóm lại mọi việc đều phải linh động và sáng tạo. |
| ||||
| TINH THẦN CỦA PHƯƠNG PHÁP TINH THẦN CỦA PHƯƠNG PHÁP CHỈ GỒM TRONG 5 CHỮ : VỪA PHẢI_THOẢI MÁI_TỰ NHIÊN_LINH ĐỘNG_SÁNG TẠO. 1/. VỪA PHẢI : . Không thái quá , không quá độ th́ gọi là vừa phải. . Mọi sự thái quá đều có hại. Ví dụ : Trong giai đoạn tụ khí tại Đan Điền , không nên ráng nín hơi lâu quá , v́ việc này có thể gây tổn hại cho cơ thể , đôi khi c̣n có thể nguy hiểm đến tính mạng. _ Trong lúc hít hơi vào không nên ph́nh bụng quá to và cố sức hít cho thật đầy hơi , v́ chỉ làm cho tức bụng hoặc có cảm giác không đủ sức để thở , không có lợi ǵ cả. _ Ham thở quá nhiều đường Dương trong khi không có bệnh ǵ cả , tức là không phải để dùng chữa bệnh , sẽ đưa đến những hậu quả tai hại như nóng mắt , nổi hạch , nhức răng , nhức đầu. Chúng tôi muốn nói trong trường hợp b́nh thường, không đau ốm ǵ mà tự nhiên ham thở nhiều đường Dương, mà không phối hợp thở theo đường Âm để quân b́nh. Điều này sẽ không lợi cho sức khoẻ. Đây cũng là lư do tại sao nhiều người sợ tập Khí công hay nội công hoặc Yoga rơ6i2 sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Sự việc vừa tŕnh bày rất là dễ hiểu. 2/. THOẢI MÁI : . Không g̣ bó , không khó chịu , không có vấn đề ǵ th́ gọi là thoải mái . Mọi sự khó chịu kéo dài được coi như dấu hiệu của sự áp dụng sai pp. Ví dụ : Trong lúc tập ngồi ển người , thân ḿnh gồng cứng ngắc , thắt lưng nịt quá chật làm không thoải mái. Sai pp làm kết quả sẽ kém đi. _ Trong lúc hít hơi vào không dùng Ư dẫn Khí đi mà cố dùng sức để hít hơi vào cho thật đầy bụng , hay đầy ngực th́ thật không thoải mái chút nào , và sẽ có cảm giác là ḿnh không đủ hơi để thở. Sau khi tập 1 thời gian mà thấy không thoải mái , dễ chịu , trái lại c̣n khó chịu th́ phải biết là ḿnh đă tập sai phương pháp Âm Dương Khí Công ,. và cần nên xem kỹ lại để tập cho đúng. 3/. TỰ NHIÊN : _ KHông trái với quy luật của vũ trụ , của thiên nhiên th́ gọi là tự nhiên. _ Những ǵ trái với tự nhiên đều đưa đến hậu quả không tốt. Ví dụ : Đói ăn , khát uống. Làm việc nhiều ăn nhiều , làm việc ít ăn ít...Do đó như các lực sĩ , các vận động viên thể thao phải thở nhiều hơn các em học sinh , các cô thư kư làm việc tại các văn pḥng. Các cụ ǵ phải thở nhiều hơn thanh niên. Các bệnh nhân không những phải thở nhiều mà c̣n phải thở đúng cách. _ Tóm lại tất cả đều phải phù hợp với sự tự nhiên , nếu không sẽ có vần đề ngay. Ví dụ : đói đừng ăn , khát đừng uống , hay làm việc nhiều ăn ít thử xem sao ?... 4/. LINH ĐỘNG : . Không quá lệ thuộc vào nguyên tắc,biết tùy cơ ứng biến để đạt kết quả tốt . Mọi sự cứng ngắc là thiếu Sinh khí và sẽ không cho kết quả tốt. Ví dụ : Trong phần cách tập có ghi là tập thở phải ngồi xếp bằng , nhưng nếu ta thấy tập nằm hợp với ta hơn và cho kết quả tốt ,th́ ta cứ việc nằm tập không sao cả. V́ đó là những cái phụ , và những cái phụ này không làm hại tới cái chính , cho nên ta có thế tùy nghi mà sửa đổi. _ Nhưng quan trọng hơn cả là áp dụng tính linh động trong việc trị bệnh. Ví dụ : Đang ngồi làm việc ta bỗng nhiên đau bụng. V́ th́nh ĺnh ta không biết đau bụng do nóng hay lạnh , ta bèn thở đại 1 đường nào đó , theo kinh nghiệm là ta thường thở đường Dương v́ dễ dàng và tiện cho ta hơn. Thở chừng vài lượt , chờ 1 chút nếu không thấy bớt là ta biết đă thở sai , và lập tức linh động chuyển sang thở đường Âm , và sẽ thấy hiệu quả 1 cách ngạc nhiên. Đối với các trường hợp khác cũng thế , hễ thấy thở 1 thời gian không bớt là phải biết linh động chuyển sang thở đường khác đối lập với đường đang thở. _ Đến đây chắc là nhiều quư vị sẽ thắc mắc là nếu thở như thế mà không hết th́ sao ? Xin thưa không có con đường thứ ba , và theo Đông Y th́ dù cho vạn bệnh cũng không ra ngoài Âm Dương , và nếu đă thở cả hai đường mà vẫn không có kết quả , th́ hoặc là thở sai hoặc là chưa thở đủ số lượt cần thiết ( Ví dụ : đáng lẽ phải thở nhiều lần trong ngày mới đủ sức cho kết quả , ta chỉ thở có 1 lần cho nên không đạt kết quả , mà có khi vừa thở lại vừa lo nghĩ đâu đâu ). Hoặc là t́nh trạng bệnh nặng vượt ngoài khả năng của phương pháp Âm Dương Khí Công , cần phải phối hợp với các môn khác mới đủ sức ( Ví dụ : cần phải phối hợp với việc sửa đổi cách ăn uống , vần động , châm cứu , bấm huyệt...Nếu vẫn không có kết quả th́ có nghĩa là loại bệnh đó không phùi hợp với cách chữa bệnh bằng Khí Công , mà phù hợp với cách trị khác. Ví dụ : uống thuốc , châm cứu , giải phẫu ) _ Vả chăng ta nên nhớ Âm Dương Khí Công là phương pháp Dưỡng Sinh không phải là phương pháp chủ yếu trị bệnh. Nếu nó có trị được 1 số bệnh , chẳng qua là do người tập biết cách quân b́nh Âm Dương đó thôi. Tuy nhiên , nó vẫn có giới hạn của nó , không phải bệnh nào cũng có thể trị được bằng phép thở. Bạn đọc cần lưu ư điều này để tránh khỏi thất vọng. 5/.SÁNG TẠO : . Nghĩ ra những điều mới lạ+thêm bớt,chế biến,sửa đổi,cải thiện : Sáng tạo. . Vượt ra ngoài khuôn khổ , hệ thống giáo điều. . Sáng tạo là mở nẽo tương lai , là phong phú hóa cuộc đời. . Sáng tạo cần cho ta như ánh sáng cần cho hoa. Ví dụ : Sau khi tập , ta có thể thêm phần chà xát khắp đầu mặt , ḿnh mẩy , tay chân , rồi sau đó uống 1 ly nước lọc để thấy hơi mát chạy ra tận các đầu ngón tay , ngón chân. _ Ngoài việc dùng Âm Dương Khí Công để pḥng bệnh , trị bệnh và phục hời sức khoẻ , ta c̣n có thể áp dụng nó trong lănh vực thể thao , vơ thuật , giải phẫu , kế toán , học hành thi cử , chơi cờ , thai giáo..vv... _ Tóm lại tùy ở óc tưởng tượng và sáng kiến của ta mà ta có thể t́m thấy lợi ích của pp nhiều hay ít , phiến diện hay đa diện ( cũng đồng thời là thịt ḅ mà có kẻ chỉ biết xào lăn , người th́ làm ra 5-7 món...biết nói sao ? ) PHÂN LOẠI BỆNH. _ Bệnh tuy có nhiều nhưng không ra ngoài sự thiên lệch về Âm Dương , bất thông về khí huyết. Sự suy kém về 2 yếu tố trên thường là nguyên nhân của 1 số bệnh quan trọng. _ Đại khái có 2 loại bệnh thường gặp , đó là : Âm và Dương bệnh . Bên cạnh đó c̣n có 1 loại bệnh khác. Đó là bệnh suy. _ Có 3 tạng người : Âm tạng , Dương tạng và B́nh tạng. Âm bệnh : Khí Âm trong cơ thể con người giữ địa vị ưu so với Khí Dương th́ sẽ dẫn đến 1 số loại bệnh. Cụ thể như các bệnh sau : Tiêu chảy (thường do lạnh) , ăn không tiêu(nôm na là lạnh bụng) , đổ mồ hôi trộm , suyễn , huyết áp thấp , sốt rét , cảm lạnh , thấp khớp , bạch đái , thận suy , viễn thị... Dương bệnh : Khí Dương trong cơ thể giữ địa vị ưu so với Khí Âm th́ sẽ dẫn đến 1 số loại bệnh. Cụ thể như : kiết lỵ(thường do nóng) , bón , trĩ , lở bao tử , đau thượng vị , tim đập nhanh , mất ngủ , ho lao , ho ra máu , ho khan , viêm họng , nhức răng , nhức đầu , huyết áp cao , cận thị , quáng gà , nóng gan , lẹo mắt , nhọt , ghẻ... Bệnh suy : Âm Dương khí huyết đều suy kém cũng dẫn đến 1 số loại bệnh ( suy nhược do kém vận động , không biết cách thở và ăn uống không đầy đủ ). Cụ thể như : ốm yếu , thiếu máu , hay đau yếu , hoặc đau không ra đau , khoẻ không ra khoẻ... Âm tạng : Nói chung toàn cơ thể Khí Âm nhiều hơn Khí Dương ( Khí Dương thiếu kém). Cụ thể như : Da tái , thịt lạnh , huyết áp thấp , mạch nhảy chậm , thiếu nhiệt t́nh , không chịu được các thức ăn mát lạnh , khó tiêu , phổi yếu... Dương tạng : Nói chung , KHí Dương trong toàn cơ thể thịnh hơn Khí Âm. Cụ thể như : Da sậm , thịt ấm , sớ to , huyết áp có khuynh hướng cao , mạch nhảy nhanh , nhiều nhiệt t́nh , siêng năng , chịu đựng được các thúc ăn mát lạnh , rau cỏ.... Trên thực tế có nhiều người không có những nét rơ rệt hẳn về Âm tạng hay Dương tạng , mà là pha trộn mỗi thứ 1 ít. Những người này gọi là B́nh tạng. Hẳn sẽ có người trách chúng tôi là cực đoan và phiến diện khi đă quy nạp hầu hết các bệnh của con người vào 3 loại bệnh mà thôi. Điều này cứ cho là chúng tôi có phần chủ quan nhưng chắc các bạn đă hiểu tại sao rồi. Trong bản phân loại bệnh trên chắc là có những bệnh chưa ở đúng vị trí của nó. Mong là các bạn sẽ sử dụng tính linh động của pp 1 cách đúng lúc và hợp lư. Sự thiếu sót quả là không tránh khỏi , chúng tôi kính mong các bạn hăy coi bảng phân loại trên có tính cách hướng dẫn và gợi ư hơn là bảng liệt kê đầy đủ tất cả các bệnh cần thiết. |
| ||||
| ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG VÀ 1 SỐ KINH NGHIỆM TRỊ LIỆU. 1/. VẤN ĐỀ ĂN UỐNG TRONG KHI THỞ ĐỂ TRỊ BỆNH : _ Để tránh cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược , chúng ta cần phải cữ ăn uống 1 cách hợp lư và tự nhiên , dựa vào thói quen của cơ thể ḿnh và đặc tính của các món thức ăn uống hàng ngày. Chúng ta đừng nên coi thường việc này v́ thức ăn có ảnh hưởng rất lớn đối với bệnh trạng của mỗi chúng ta. Do đó nếu ăn uống bừa băi trong khi dùng phép thở để trị bệnh, có khi ta làm công việc " Tháo lỗ lù" ,và hậu quả dĩ nhiên là bệnh c̣n tồn tại , lây lất hoài. Chẳng hạn : Trong khi ra sức thở vài chục đường Âm để trị bệnh ghẻ ngứa , th́ xin các bạn cữ cá biển , thịt gà , tôm , cua , mực dùm cho. 2/. PHỐI HỢP TRỊ LIỆU : _ Mỗi phương pháp có cái hay và cái dỡ riêng. Nói chung không có phương pháp nào ta hoàn toàn hết , huống hồ đây chỉ dùng sự thở để trị bệnh... _ Do từ những nhận định trên và trước hết nên coi sức khoẻ của mọi người là chính , sẽ không ngần ngại phối hợp với những phương pháp khác khi sự phối hợp là cần thiết. _ Sự phối hợp sẽ theo nguyên tắc tương đồng trị liệu , 1 cách dễ hiểu là nếu ta thở đường Âm th́ ta cũng phải dùng 1 thứ thuốc hay dược thảo nào tương đương với đường Âm về tính chất lẫn cường độ. Ví dụ : Để trị kiết ta dùng phương pháp thở đường Âm , th́ đồng thời ta cũng phải uống rau má hay rau sam là những dược thảo có tính chất tương đương với đường Âm để phối hợp trị bệnh. _ Trong những trường hợp bệnh khó trị th́ phối hợp với Diện Chẩn Điều Khiển Liệu Pháp hoặc các phương pháp khác là cần thiết. Tuy nhiên không phải là việc đơn giản để có thể tŕnh bày nơi đây. 3/. MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRỊ LIỆU BẰNG ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG THUẦN TÚY : Sau đây chúng tôi xin tŕnh bày 1 số kinh nghiệm điển h́nh bằng pp Âm Dương Khí Công chúng tôi đă thực nghiệm , và điều trị trong thời gian qua. Dĩ nhiên đây là những kinh nghiệm chủ quan , cho nên có thể đạt 1 số kết quả đối với chúng tôi , nhưng sẽ không đến với quư vị , hay ngược lại cũng thế , tuy nhiên đó không phải là việc quan trọng. Việc quan trọng và cần thiết ở đây là niềm tin , tin lẫn nhau và tin ở pp. Mọi khiếm khuyết rồi sẽ được bổ khuyết. Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi không tin ở pp của ḿnh. Thật ra th́ động cơ quan trọng thúc đẩy chúng tôi phổ biến pp này chính là hiệu quả của nó trên thực tế , phần nào đă vượt ngoài suy nghĩ của chúng tôi.Tuy nhiên " nói giỏi không bằng làm hay",cho nên chúng tôi xin nhường quyền đánh giá phương pháp lại cho quư vị. KINH NGHIỆM TRỊ LIỆU CỦA CHÚNG TÔI : 1/. BỆNH SUY NHƯỢC : _ Chỉ chung các người không có bệnh ǵ rơ rệt nhưng vẻ mặt kém tươi , tinh thần tiều tụy , uể oải không muốn làm việc , ăn không ngon , ngủ không yên , cảm thấy như thiếu sinh lực. _ Chỉ qua 2 lần tập thở trong ngày ( thở quân b́nh Âm Dương ) , ngay tối hôm đó đă thấy ngủ ngon giấc hơn , và sáng hôm sau là kết quả bắt đầu rơ rệt : Tự nhiên thấy siêng năng , hăng hái như có 1 cái ǵ thúc đẩy bên trong bắt phải làm việc , và làm hết việc này đến việc kia không muốn nghỉ...Đây chỉ là 1 vài nét về kết quả mà chúng tôi muốn tŕnh bày cùng quư vị. Những kết quả trên hẳn là khó tin , không những là đối với quư vị mà kể cả đối với chúng tôi lúc đầu. Cho nên để biết sự thật như thế nào không có ǵ hơn là quư vị thử tập xem sao. Cũng cần lưu ư là những kết quả trên chỉ có đối với những người nằm trong diện " bệnh suy nhược ". Thật vậy , đối với những người đă siêng năng , làm việc cả ngày th́ công việc trên chỉ là " đốt đèn giửa trời nắng" mà thôi. 2/. BỆNH MẤT NGỦ : _ Bệnh này cũng như bệnh nhức răng. Nóng mắt thường được gọi là do Hỏa vọng ( Hỏa vượng) , vốn là bệnh thừa khí Dương ở bên trên cơ thể , v́ khí Âm không đủ sức chế ngự để nó bốc lên ( do vô t́nh ăn nhiều thức ăn cay nóng như tiêu , ớt , cafe , nhất là trong mùa viêm nhiệt ) , đôi khi chỉ là Hư hỏa. _ Do đó bệnh này ta có thể chữa dễ dàng bằng cách thở nhiều đường Âm (rất ít đường Dương ) trong mỗi lần tập. kết quả sẽ đến nội trong ngày với trường hợp b́nh thường (do ăn uống đồ nóng). Với trường hợp mất ngủ kinh niên th́ kết quả đến có chậm hơn tùy ở t́nh trạng nặng hay nhẹ , lâu hay mau. Đôi khi cần phối hợp với Diện Chẩn , nhưng chúng tôi đảm bảo là sẽ hết bệnh mặc dù bệnh này có nhiều nguyên nhân phức tạp , sâu xa không đơn giản . Lưu ư : Trên nguyên tắc thở đường Dương sẽ gây mất ngủ nhưng có người tập thở đường Dương lại ngủ ngon hơn. Đó là v́ cơ thể họ thuộc Hư Hàn , do vậy th́ họ thở đường Dương sẽ làm cho khí Âm Dương trong cơ thể họ được quân b́nh , v́ vậy mà họ ngủ ngon. Nếu trong người đă quân b́nh hoặc đă nóng th́ thở đường Dương sẽ làm mất ngủ thêm. 3/. BỆNH BAO TỬ : _ Dù là đau Thượng vị hay lở bao tử ta cũng thở thật nhiều đường Âm v́ đây là bệnh Dương . _ Theo kinh nghiệm chữa trị của chúng tôi , bệnh nhân phải thở cỡ 20 đường Âm cho mỗi lần tập ( mức tối thiểu) mới có kết quả rơ rệt ( trong ṿng vài hôm ). Nếu thở thường xuyên , kết hợp với sự cữ ăn đồ nóng , các chất kích thích như rượu , cafe , thuốc lá , và nhất là sự lo nghĩ quá độ , th́ chắc chắn kết quả sẽ đảm bảo ( v́ trong Nội Kinh có nói : Tư thương Tỳ => Suy nghĩ , tư lự nhiều quá th́ hại Tỳ ). 4/. BỆNH SUYỄN : _ Có 2 loại suyễn : Suyễn Âm và suyễn Dương. Suyễn Dương thường do khói bụi xe , bụi bặm , khí nóng. Suyễn Âm do Khí Âm quá thịnh và thường lên cơn theo con nước. Suyễn Âm thường gặp nhiều hơn. Đây là 1 trong những bệnh nan y. _ Thở đường Dương với 1 lượng lớn ( vài chục đường ) trước cơn suyễn thời gian chừng nửa giờ đến 1 giờ sẽ ngăn chận được cơn suyễn. Trên thực tế ít khi ta có được điều kiện để theo dơi t́nh trạng bệnh của 1 người 1 cách lâu dài và lỹ càng ( trừ khi ta làm trong bệnh viện có tính cách nghiên cứu ) , cho nên vấn đề đánh giá pp đối với 1 số bệnh đặc biệt có phần nào bị giới hạn. Chúng tôi mong được sự thông cảm và mong 1 ngày gần đây sẽ có được điều kiện tốt để thực hiện việc kiểm tra pp 1 cách sâu rộng và đa diện hơn. 5/. BỆNH THẬN SUY : _ Bệnh này có 2 loại , đó là Thận Thủy suy và Thận Hỏa suy. Thận Thủy suy : Tâm Hỏa vượng sẽ gây ra các chứng như : Nhức lưng , chân , ù tai , nhức răng , nhức đầu , mất ngủ , mộng tinh , thích t́nh dục...V́ đây là bệnh Dương nên ta phải thở nhiều đường Âm hơn đường Dương trong 1 thời gian. Thận Hỏa suy : Tâm Hỏa không vượng mà sauy hỏa cũng sẽ gây ra các bệnh như : nặng đầu , ve kêu trong tai , mỏi lưng , di tinh....V́ đây là bệnh Âm nên ta phải thở đường Dương nhiều hơn đường Âm ( mỗi người phải tự t́m lấy tỷ lệ hợp với ḿnh ). _ Theo kinh nghiệm của chúng tôi , hai loại bệnh trên với các chứng nêu trên ,đều được giải quyết tốt đẹp sau 1 thời gian tập thường xuyên. Ngoài 1 số trường hợp điển h́nh như đă nêu , trong thời gian qua chúng tôi cũng điều trị có kết quả tốt các bệnh như sau : _ BẾ KINH : thở nhiều đường Âm vài hôm là có kết quả. _ SƯNG VÚ : thở 20 đường Âm 1 lúc kết quả là toát mồ hôi , hạ sốt và giảm đau nhức ngay. Dùng lá tía tô nhai nát , nuốt nước , bả rịt th́ hết luôn. _ NHỌT SƯNG HÀNH NHỨC : thở chừng vài chục đường Âm 1 lúc là giảm đau ngay và tan nhọt sau đó. _ QUÁNG GÀ : thở quân b́nh theo tỷ lệ 5A/3D 1 thời gian là hết. _ TIÊU CHẢY : thở chừng 20 đường Dương 1 lúc và vài giờ lại thở 1 lần tự nhiên sẽ hết. _ KIẾT LỴ : thở đường Âm với 1 lượng lớn. _ TIỂU NÓNG, BUỐT , NƯỚC TIỂU VÀNG SẬM : thở 5-10 đường Âm ; 15 phút sau tiểu lại hết nóng , nước tiểu trong. _ NHỨC RĂNG , SƯNG NƯỚU CÓ MŨ : thở đường Âm 20 đường , ngày vài lần. LƯU Ư : Những chỉ số về lần và lượt thở cho từng trường hợp vừa nêu trên không phải là những con số nhất định . Sự tŕnh bày ở đây chỉ có tính cách hướng dẫn ,gợi ư. Chúng ta cần phải biết áp dụng 1 cách linh động cho từng trường hợp của bản thân ḿnh, miễn sao cho kết quả tốt là được ( vấn đề chỉ là sự phân chia hợp lư và đúng sát với thực tế giửa 2 số lượt thở Âm Dương ) |