| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Tiểu sử
TỔ MINH ĐĂNG QUANG (1923-1954) Tổ Minh Đăng Quang thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lư Hườn, sinh ngày 26 tháng 9 năm Quư Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, tổng B́nh Phú, quận Tam B́nh, tỉnh Vĩnh Long. Gia đ́nh thuộc thành phần trung nông, hiền lương và trung hậu, kính tin Phật pháp nhiều đời. Thân phụ là ông Nguyễn Tồn Hiếu, và thân mẫu là bà Phạm Thị Nhàn. Ngài là con trai út trong gia đ́nh có năm anh em. Theo truyền khẩu, thân mẫu Ngài mang thai Ngài đến tháng thứ mười hai mới sanh. Và mười tháng sau, bà đă an nhiên qua đời mà không hề nhuốm một căn bệnh nào. Lúc thiếu niên, Ngài có phong cách sống khác biệt so với các anh em trong gia đ́nh cũng như ngoài xă hội. Ngoài những buổi học hành, lao động phụ giúp thân phụ, Ngài thường t́m đọc sách, nghiên cứu và ngồi suy tưởng tại một nơi yên tịnh. Do thiên tư tĩnh lặng ấy, Ngài được phụ thân cho phép dựng một cái cốc nhỏ trong vườn nhà, để có nơi học hành và suy nghiệm. Ngài vốn có tính t́nh điềm đạm hay giúp đỡ mọi người nên rất được ḷng người chung quanh. Năm Đinh Sửu (1937) khi vừa 15 tuổi, Ngài xin phép phụ thân cho xuất gia học đạo. Sau nhiều lần tra gạn lư do và Ngài đă bộc bạch tận tường những ư định cũng như mục đích chính đáng của ḿnh, nhưng phụ thân đă dùng quyền làm cha để ngăn cản với lư do Ngài hăy c̣n quá nhỏ, không thể đi xa gia đ́nh. Nhưng thầm kín sâu xa nhất nơi trái tim người cha lúc này vẫn Ngài là con trai út, bao kỳ vọng đặt trọn nơi người con mà từ tính t́nh cho đến tác phong được mọi người quư mến. Ngài vẫn nung nấu chí xuất gia. Sau khi nhận thấy sự nguôi ngoai nơi phụ thân, Ngài bằng mọi cách để cha ḿnh thấy được rằng tự thân sẽ chịu đựng được trước mọi gian nan thử thách trên đường đời. Rồi một đêm, khi những lời hứa cho xuất gia của một người cha nặng ḷng yêu thương đứa con út chưa dứt âm vang Ngài đă âm thầm ra đi. Nơi đến đầu tiên là tận đất nước Campuchia, nơi có nhiều chùa tháp hùng vĩ, thể hiện tinh thần Phật giáo vĩ đại, với bóng dáng của rất nhiều Tăng sĩ trang nghiêm hành tŕ Phật Pháp. Ngay từ ngày đầu đặt chân đến đất nước Campuchia, thiện duyên đưa Ngài gặp được một nhà sư người Việt gốc Khmer, nổi tiếng từ lâu về kiến thức Phật đà. Ngài không ngần ngại quy ngưỡng và thọ giáo trong suốt thời gian tu học tại đây. Năm Tân Tỵ (1941) sau bốn năm sống và học đạo nơi xứ người, dốc ḷng nghiên cứu t́m hiểu kinh tạng và đường lối y bát chơn truyền của đức Phật, Ngài nhận thấy tương đối đầy đủ, cùng với năng lực bản thân, có thể trở về quê hương hành đạo. Do đó Ngài đă xin phép Thầy ḿnh trở về Việt Nam. Khi vừa về đến quê hương, chướng lực đầu tiên đă ập đến, chút nợ trần c̣n vướng nên Ngài phải trả để tương lai nhân quả được nhẹ nhàng. Đó là việc Ngài lập gia đ́nh với cô Kim Huê, người đă mang ơn cứu tử nơi Ngài. Tuy nhiên chưa đầy một năm sau cô Kim Huê từ trần. Đầu năm Quí Mùi (1943) Ngài trở lại con đường tu học, mạnh dạn đi sâu vào lănh vực nghiên cứu để hiểu thêm về đường lối của hai hệ phái Bắc Tông và Nam Tông. Ngài trở lại vùng Thất Sơn t́m vào chốn u tịch, hợp với tâm cảnh, để thực hành sở nguyện suy tầm đó. Sau khi rời Thất Sơn, Ngài qua Hà Tiên dự định một chuyến ra tận Phú Quốc, nhưng do trễ chuyến tàu nên Ngài ở lại ghềnh mũi Nai, ngồi tham thiền an trú trong chánh pháp Bát Nhă. Năm ấy Ngài tṛn 22 tuổi. Năm Giáp Thân (1944), Ngài đă ngộ chứng được lối đạo dung ḥa kết hợp truyền thống cao đẹp của hai hệ phái Bắc Tông và Nam Tông để lập nên một phái Khất Sĩ mang riêng bản sắc Việt Nam. Rằm tháng tư năm ấy, Ngài bắt đầu truyền khai tư tưởng và lối đạo của ḿnh tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, và đă trở thành vị Tổ đầu tiên của Giáo phái Khất sĩ Việt Nam. Từ đó, ảnh hưởng Giáo phái Khất sĩ Việt Nam mỗi ngày thêm lan rộng theo chân vân du hành đạo của Ngài. Tất cả những thời pháp do Ngài diễn giảng trong suốt phần đầu quá tŕnh khai hóa ấy, đều được ghi lại đầy đủ trong bộ Chơn Lư, gồm 69 tiểu luận. Trong đó Ngài đă dung hợp được những tinh hoa Phật pháp của cả hai hệ phái Nam và Bắc Tông theo yếu chỉ trung đạo của giáo lư Phật đà. Theo đó, bản thân người Khất sĩ phải thực hiện đúng mục đích của hệ phái là: trang bị tinh thần không mưu cầu tích trữ vật dụng, tiền bạc... không gia đ́nh; mỗi sáng ôm b́nh bát đi khất thực, không ở nơi nào nhất định... Buổi ban đầu khai hóa đă thành công mỹ măn, được sự đồng t́nh ủng hộ và tu học theo con đường Ngài đă vạch. Chỉ trong thời gian ngắn, đă có hơn 100 vị xuất gia hành tŕ, trên chục ngàn Phật tử theo thọ giới quy y với Ngài và từ miền Đông đến miền Tây Nam bộ đă có trên 20 ngôi tịnh xá của hệ phái, đủ nói lên sức ngưỡng mộ mạnh mẽ nơi chơn lư. Trong hàng đệ tử ban đầu của Ngài, có nhiều vị đă lập được những đoàn du Tăng hành đạo khắp miền Trung và miền Nam từ năm 1955 đến 1975. Trong đó có các Ngài Giác Tánh, Giác Chánh, Giác Nhu, Giác Tịnh, Giác An, Giác Nhiên, Giác Lư, Giác Đức... Bên Ni giới có Ni trưởng Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Liên, Ngân Liên, Chơn Liên... Trong hàng giáo phẩm hiện nay, trực tiếp tham gia làm thành viên GHPGVN có các Ḥa Thượng Giác Nhu, Từ Huệ. Và trong Hội đồng Trị sự có Thượng tọa Giác Toàn và Ni sư Ngoạt Liên. Trong suốt thời gian 10 năm, kể từ ngày hoằng khai mối đạo tại chùa Linh Bửu, phương pháp hành tŕ và sự hướng dẫn trực tiếp của Ngài đă đem lại nhiều lợi lạc cho cộng đồng Phật giáo Nam bộ. Tuy vậy, do tác động và ảnh hưởng của hệ phái Ngài khai mở quá lớn nên cũng không tránh khỏi những hiềm khích từ phía những người ngoại đạo. Ngày mùng 1 tháng 2 năm 1954, sau khi căn dặn một số điều thiết yếu cho các đệ tử của Ngài tiếp tục hoằng khai các du xứ. Ngài định mở chuyến đi sâu xuống các tỉnh vùng Hậu Giang để tiếp tục khai truyền. Nhưng khi đi từ Tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc) qua Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long) sang Cần Thơ Ngài đă bị những người ngoại đạo bắt đi biệt tích. Hơn 40 năm vắng bóng Tổ Minh Đăng Quang, những người thừa kế vẫn kiên tŕ chờ đợi, tiếp tục ǵn giữ những thành quả đă đạt được và không ngừng chăm lo phát triển, làm cho hệ phái Khất sĩ ngày càng vững chắc trong ḷng Phật giáo Việt Nam. Hiện nay (1994) hệ phái Khất sĩ Việt Nam có hơn 250 ngôi Tịnh xá đều khắp ở hai miền Nam, Trung Việt Nam, với hơn 1500 Tăng Ni xuất gia và nhiều chục vạn tín đồ. Hằng năm, hàng môn đồ tứ chúng lấy ngày mùng 1 tháng 2 để kỷ niệm ngày Tổ vắng bóng, cùng nhau vân tập tại Tịnh Xá Trung Tâm (Sàig̣n) ôn lại những lời dạy và ghi nhớ công ơn khai sáng của Ngài. Để tỏ ḷng thiết tha quí kính Ngài, các thế hệ tiếp nối tưởng niệm Ngài bằng tấm ḷng trân trọng: Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang. Các tác phẩm Ngài đă viết trong quá tŕnh hành đạo nay c̣n lưu lại : - Bộ Chơn Lư - Bồ Tát giáo. |
| ||||
| Những lời dạy của Tổ Sư Minh Đăng Quang
Dưới đây là những lời dạy của Tổ Sư Minh Đăng Quang được rút ra từ những bài Chơn Lư trong bộ Chơn Lư 69 cuốn của Tổ sư. TRÍCH TINH HOA GIÁO LƯ 1. Người mà giác ngộ chơn lư, mới biết đường đi, đi tới cảnh cao siêu tốt đẹp của tâm hồn, vĩnh viễn, chắc thiệt, yên vui; mới gọi ta, của ta, mới có lư nghĩa, mới là ích lợi. Hết mê lầm. Không loạn vọng. Không sở chấp chi nữa hết. Chơn Lư VŨ TRỤ QUAN 2. Vui đạo lư vĩnh viễn hơn vui thiện. Vui thiện nhẹ cao hơn vui ác. Vui ác, vui vật chất là gốc khổ sầu tai họa. Chơn Lư NGŨ UẨN 3. Người là ḷng thương yêu gia đ́nh. Trời là ḷng thương yêu xă hội. Phật là ḷng thương xót cả chúng sanh. Các bậc ấy thảy quên ḿnh mà biết lo cho kẻ khác, nên muôn loại thảy kính v́. Chơn Lư THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN 4. Quan hệ nhất là chữ ái chia tẽ hai đường: Người đứng trên chữ ái là Chư Phật, kẻ nằm dưới chữ ái là chúng sanh. Điều đó đáng cho chúng ta thận trọng! Chơn Lư Thập Nhị Nhân Duyên 5. Người tà kiến th́ đi sâu vào trong chốn khổ mịt mờ đen tối, nếu quay trở lại chánh kiến tức nhiên giải thoát, xán lạn vui tươi. Chơn Lư BÁT CHÁNH ĐẠO 6. Đạo chánh là bởi thiện lành, không ác quấy. Ấn chứng của đạo là sự vui tươi, không khổ nhọc. Chơn Lư BÁT CHÁNH ĐẠO 7. Có giữ giới vạn vật mới tốt đẹp, có thiền định chúng sanh mới sống đời. Có trí huệ các pháp mới trọn lành trong sạch. Chơn Lư CÓ VÀ KHÔNG 8. Trong thế gian, bằng không có sự vô thường, ẩn hiện, tương đối th́ không bao giờ có cái thường và tuyệt đối. Nếu không có thường và tuyệt đối, th́ chúng sanh chẳng bao giờ được hạnh phúc kết quả tốt đẹp tối cao. Vậy nên vô thường tương đối là tiến hóa, là không khổ, là có, là sống đời đời, là thiện, là huệ, là chơn. Chơn Lư CÓ VÀ KHÔNG 9. Có để đặng chơn như, không để đặng chơn như, trung để đặng chơn như, chấp gồm ba pháp để đến chơn như không chấp cũng chơn như. Chơn như mới thiệt là có, chơn như mới thiệt là không, chơn như mới thiệt là ta, là Phật. Vậy ta chỉ cần biết chơn như là đủ. Chơn Lư CÓ VÀ KHÔNG 10. Kẻ giác ngộ chơn như rồi, th́ giải thoát ra khỏi tất cả sở chấp không c̣n giả vọng nên gọi là chơn như toàn giác trọn sáng trọn lành. Chơn Lư CÓ VÀ KHÔNG 11. Pháp bảo là thầy của Phật, là thầy của Tăng và chúng sanh. Vậy nên chúng ta mau mở trí ra mà chứa đựng Pháp bảo. V́ trong đời Pháp bảo là quư hơn hơn hết. Chơn Lư CÓ VÀ KHÔNG 12. Kẻ thiện lành dầu câm cũng biết nói, nói lời lành ai cũng mến. Kẻ ác dầu học giỏi cũng như câm, v́ nói chẳng ai nghe. Chơn Lư SANH VÀ TỬ 13. Ḷng thương có hai cách: thương mà được yên vui cứu khổ cho nhau hay thương mà rối khổ v́ nhau, để giết hại lẫn nhau về sau; hay là cái thương tâng hót bên ngoài xác thịt giả dối và cái thương chắc thật vĩnh viễn trong tâm hồn. Đức Phật khi xưa có dạy rằng: Ḷng thương phải có, mà dục vọng th́ đừng. Ấy vậy cái thương đây quư báu tốt đẹp biết bao nhiêu. Chơn Lư NAM VÀ NỮ 14. Ḷng thương có cao có thấp, có sạch, có dơ, có trúng, có trật. Thương ngay thẳng là đến Niết Bàn sống măi, thương tà vạy là sa địa ngục diệt vong. Chơn Lư NAM VÀ NỮ 15. Than ôi! Đồ vật giết người, mà nào phải nó ác, ác là tại người, người giết người, chớ ai vào đó mà giết người; Người chết là tại vật chất của cải: chính ta tạo ra có nó, để nó giết ta; vậy kẻ muốn sống yên vui, há đi nắm lấy nó, tự đâm chém chôn ḿnh sao? Chơn Lư CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC 16. Tinh thần không là con ma, xác thịt không là khúc gỗ; làm để ăn, lành để sống, nào ai có ăn mà không sống, nào ai có sống mà không ăn? Ăn và sống phải dung ḥa cần thiết mới được. Chơn Lư CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC 17. Tài thí pháp thí dung ḥa nuôi đạo, là phận sự của tất cả, đừng ai chia xẻ mà bị đau đớn, và phải biết kính trọng đạo. Vậy nên Tăng không xin, mà tự cư gia phải lo bố thí, cư gia không hỏi mà tự Tăng phải t́m dạy. Chơn Lư CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC 18. Ấy vậy chúng ta nên hiểu rằng: Người tội sanh pháp luật chớ không phải pháp luật sanh người tội. Pháp luật cai trị kẻ ác chớ không phải áp chế người hiền. Luật pháp để đem người ác đến chỗ hiền. Muốn cho người hiền và kẻ hiền rồi th́ phải lo tu học, t́m hiểu công lư lẽ thật, đặng đến chỗ yên vui cực lạc, chớ khá tự cao đứng hoài mỏi cẳng, sa ngă té rớt xuống hố ác khốn họa không nên vậy. Cách ngôn: Công lư hơn pháp luật! Chơn Lư CÔNG LƯ VŨ TRỤ 19. Biết quư báu hơn không biết, có biết mới hết mê lầm chấp trật, khổ sở nạn tai … Chính biết là ta, là mục đích của chúng sanh, là chơn lư của cuộc đời, là tinh ba của vũ trụ. Chơn Lư KHẤT SĨ 20. Nếu tham sân si không diệt, th́ người ta với cỏ cây thú có khác chi nhau. Chơn Lư KHẤT SĨ 21. Người mà không học như mù đôi mắt, như xác chết không hồn, dầu mà có bị lửa đốt co ngoe, cử động như nói, như ăn, như đi, như làm đi nữa, th́ kẻ ấy có khác nào h́nh đất, khúc cây, nào có biết chi vui hay mùi vị của cái sống. Chơn Lư KHẤT SĨ 22. Nếu ta sống có ích lợi cho người, th́ người khác họ cũng sẽ sống có ích lợi lại cho ta. Chơn Lư Y BÁT CHƠN TRUYỀN 23. Giới luật là y bát là Khất Sĩ. Khất sĩ là định huệ. Nếu khất sĩ không có tu về định huệ dầu mà có tŕ giới không đi nữa, cũng chưa gọi được trọn là Khất Sĩ. Chơn Lư Y BÁT CHƠN TRUYỀN 24. Thà chết trong sạch yên vui, hơn là sống nhơ bẩn rối khổ. C̣n bằng chúng ta tham sống sợ chết, th́ cũng nên lựa lấy món ăn nào ít tội ác một chút mà ăn, chẳng là bớt rối khổ được yên vui dễ chịu. Chơn Lư ĂN CHAY 25. Người có định th́ thân khẩu ư mới trong sạch, tuy ít nói mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhớ mà nhớ phải, là được kết quả yên vui biết bao nhiêu! Chơn Lư NHẬP ĐỊNH 26. Sự tu hành cũng như ăn cơm để sống, điều ấy vốn không mau chậm, hay là đường quanh nẻo tắt ǵ cả. Vậy nên chúng ta hăy nên chậm răi mà đi. Chơn Lư NHẬP ĐỊNH 27. Con người nếu làm được cái khó, cái hơn người, cái tiến hóa, th́ mới được gọi là bậc siêu nhân. Chơn Lư NHẬP ĐỊNH 28. Hơn th́ chớ chắc hơn, kém th́ nên gọi kém. Vậy mỗi ai nấy lo tu học, chẳn là hay hơn hết, ḍm ngó nhau mà làm ǵ. Chơn Lư CƯ SĨ 29. Chẳng phải là sự học giỏi thông minh mà thành công. Người ta dầu học bực nào, nhưng nếu ác, th́ oan trái nặng nề, bắt buộc phá hại, đốc xúi kéo lôi, dễ ǵ tự chủ mà ḥng làm nên kết quả. Chơn Lư CƯ SĨ 30. Bước chân vào cơi đời gian nguy, người cư sĩ phải cần đem theo giới định huệ. V́ không thể nào với cái tham sân si mà được sống đời nên công kết quả cho được. Chơn LƯ CƯ SĨ 31. Hôt giống thú là: thân, khẩu, ư ác. Hột giống người là: thân, khẩu, ư nhơn. Hột giống Trời là: thân, khẩu, ư thiện. Hột giống Phật là: thân, khẩu, ư chơn. Chơn Lư TÂM 32. Người chân thật ai cũng kính yêu. Kẻ vọng giả nhiều người khinh bỉ. Chơn Lư TÂM 33. Người ta thường tắm mưa, nước rớt trên đầu không sao, chớ đất rớt trên đầu th́ ai cũng phải bị hại. Cũng giống như vậy, lời đạo đức từ trên dạy xuống th́ ai cũng nên, lời ác trược đè dạy th́ ai cũng phải khốn lụy. Chơn Lư TÁNH THỦY 34. Một kiếp tu hành, ngàn đời rănh khổ; một thời ngộ đạo, vạn thuở an vui. Chơn Lư HỌC CHƠN LƯ 35. Chơn lư như mặt trời, pháp lư như đèn sao, thế sự như hang tối. Vậy nên cái học của chúng ta là học chơn lư, thấu chơn lư mới gọi là bậc thạt học. Chơn Lư HỌC CHƠN LƯ 36. Tất cả các pháp là để đến với Hoa Nghiêm. Tất cả giáo lư là để đến với chơn như. Tất cả sự học là để đến với chơn lư. Chơn Lư HỌC CHƠN LƯ 37. Lời nói của người tu, ví như hoa sen, việc làm của người tu, ví như lá sen, ư niệm của người tu, ví như gương sen, cả thảy các pháp đều ở trên cao, không trung, và không c̣n phải ô nhiễm nước bùn theo thế sự. Chơn Lư TRÊN MẶT NƯỚC 38. Pháp tự nó vốn đâu có hưng hay mạt mà mạt là chỉ tại nơi người làm mạt đó thôi!.. Người tà chớ đâu phải đạo không chánh, người mạt chớ đâu phải pháp không hưng. Chơn Lư CHÁNH PHÁP 39. Lúc đắc đạo cũng như lúc mới phát tâm cầu đạo, sự cố gắng tinh tấn là kết quả. Chơn Lư CHÁNH PHÁP 40. Cúng tế để biết khiêm nhường kẻ chết, đặng không ngang bạo giết hại người sống, mang ơn mến đức mà thờ, nghe dạy là lạy, biết kỷ niệm lịch sử mà giữ ḿnh, có như thế mới tập tánh nên người minh đức. Chơn Lư CHÁNH KIẾN 41. Cơi Niết Bàn là ḷng từ bi b́nh đẳng, tất cả chúng sanh chung là sự trong sạch không nhơ uế, là sự sáng láng của trí tuệ, là sự im lặng của tâm chơn, chớ không phải ở đâu cả. Chơn Lư TAM BẢO 42. Ngày xưa ít học mà nên nhiều, ngày nay học nhiều mà nên ít, là bởi trọng học tài quên tu đức. Chơn Lư TÔNG GIÁO 43. Phép linh là phụ thuộc, chỉ có trí huệ, tâm chơn mới thật là của cải! Chơn Lư THẦN MẬT 44. Một cục sắt đỏ dưới nhát búa của người thợ rèn lửa văng tứ phía, cục sắt ấy bể lần. Sự phóng tâm loạn vọng làm tổn hại tâm người cũng y như thế. Chơn Lư THẦN MẬT 45. Địa ngục vô số đếm! Tâm địa ngục nhốt trói cũng gọi là địa ngục! Cái khổ ép ngặt cũng là địa ngục! Tham sân si cũng là địa ngục! Sự ích kỷ cũng là địa ngục! Địa ngục lớn địa ngục nhỏ, tùy theo việc làm, lời nói ư niệm, giáo lư chẳng hay cùng. Chơn Lư GIÁC NGỘ 46. Cảnh giới địa ngục là sắc thân ác khổ, chết là thất bại. Cảnh giới thiên đường là thức trí thiện vui, sống và thành công. C̣n cảnh giới Niết Bàn là chơn tâm tuyệt đối, b́nh đẳng sáng rỡ, không có chi chi cả. Chơn Lư GIÁC NGỘ 47. Tâm Niết Bàn yên hơn cảnh Niết Bàn, trí thiên đường vui hơn là cảnh thiên đường, thân địa ngục khổ hơn là cảnh địa ngục, v́ cảnh ngoài dễ mau dời đổi, chớ cảnh trong th́ th́ khó lâu dời đổi đặng. V́ thế nên kẻ đă giác ngộ rồi, th́ không chăm chú những việc bên ngoài kia nữa. Chơn Lư GIÁC NGỘ 48. Chúng ta nên biết tự ḿnh biết ghê sợ tội lỗi, hổ thẹn tội lỗi, và dứt trừ tội lỗi của chính ḿnh, tốt hơn là để người chế trị. Chơn Lư GIÁC NGỘ 49. Phật là người giác ngộ, Chúng ta sớm nên giác ngộ. V́ sự giác ngộ tâm chơn quư báu hơn cái thiện lành thức trí, và cái thiện lành thức trí cần ích hơn là sắc thân vật chất, ác quấy, tội lỗi, danh vọng, vui chơi, cái có nơi ngoài tứ đại. |
| ||||
|
Chơn Lư GIÁC NGỘ 50. Người ở đời nếu không tu th́ khó sống an vui, mà tu sái phaép th́ lại càng khó sống an vui hơn nữa. Chơn Lư KHUYẾN TU 51. Khi chúng ta bị người đánh đập, th́ chúng ta vội đánh lại họ, mà chẳng chịu tự đánh lấy cái nết hạnh xấu xa, không nghiêm chỉnh của ḿnh. Chơn Lư ĐI TU 52. Kẻ trí trau tâm, chớ chẳng giồi thân. Nói ít mà nên. Làm ít mà hay, lo ít mà đặng, là bởi nơi tâm đă trọn tốt. Một người địa ngục tối cao quan trọng, mà tâm tánh xấu xa, th́ cơ thâm họa diệt thâm, chớ có ích chi mà chúng ta vội t́m tham muốn. Chơn Lư ĐI TU 53. Tài học sao cho bằng đức hạnh. Đức hạnh mới được bền dài cao quư hơn. Chơn Lư ĐI TU 54. Hạnh phúc của ta ở nơi tâm ta; sự nghiệp của ta lớn nhỏ là tùy nơi tâm ta lớn nhỏ. Đạo quả trong ngoài, kết thành một lượt không mau không chậm Chơn Lư ĐI TU 55. Trong đời ai cũng phải ăn mà sống. Nhưng bởi có cái sống trước. Vậy th́ muốn sống là chớ sát sanh, muốn ăn th́ không nên trộm cắp. Chơn Lư ĂN VÀ SỐNG 56. Mạng người quư báu. Chúng ta nên phải biết rằng, cái sống khó t́m, khi chết đi đâu c̣n sống lại; chớ của cải trước sau mau chậm, có ngày ta kiếm được. Vậy th́ chúng ta muốn sống là phải làm cho mọi người được sống. Ta muốn ăn là phải làm cho mọi người có ăn. Chơn Lư ĂN VÀ SỐNG 57. “ Ai không cho, cho kẻ đă hỏi xin, là người ấy có tội với công lư; nhưng cũng đừng xin thái quá, để phải mích ḷng người”. Chơn Lư ĂN VÀ SỐNG 58. Trời Phật cứu độ ta là bằng pháp bảo, ta mà được cứu độ hay chăng. Là bởi tự nơi ḿnh, xét lại hành vi của ḿnh. Chơn Lư ĂN VÀ SỐNG 59. Phật là chỗ đến của tất cả chúng sanh, cũng như toàn giác là chỗ đến của tất cả sự học: chơn như là chỗ đến của tất cả phước đức thiện lành, từ bi, trí huệ. Chơn Lư CHƯ PHẬT 60. Đạo là con đường của tất cả chúng sanh, mỗi người mỗi tự đi , chớ không có TÊN ĐẠO Ǵ cả; giáo là sự dạy học để tu hành, chớ không có phải TÔN GIÁO G̀ cả; và phái là sự làm việc giúp ích lợi chung cho nhau, chớ không phải PHÁI G̀ cả. Chơn Lư TRƯỜNG ĐẠO LƯ 61. Trong đời mà có tai nạn từ nạn nhỏ đến nạn to là đều bởi tại chúng sanh nhân loại có ḷng tham. Chơn Lư NGUỒN ĐẠO LƯ 62. Trần thế cũng như một cái h́nh người: Sĩ là đầu trên xuôi thuận, nông là ḿnh bụng , kế đó công là tay, đến thương là chân dưới thấp; thân h́nh này mà ngay như thế th́ vận cuộc sanh chúng tất cả b́nh yên. Chơn Lư NGUỒN ĐẠO LƯ 63. Ta đă không muốn cái ǵ, th́ đừng bắt kẻ khác phải chịu cái ấy, và ta muốn ǵ và họ không muốn ǵ? Trả lời được câu ấy, là ta thấy ra tất cả thế giới chúng sanh ngay. Chơn Lư CON SƯ TỬ 64. Trong đời nếu chúng ta mà tự biết chê ḿnh chỗ sái quấy, và biết khen tán việc tốt phải của người, th́ quư báu lắm; cũng như ai biết hy sinh ḿnh, để giúp cho kẻ khác nên th́ người ấy tức là bậc Thánh nhân. Chơn Lư CON SƯ TỬ 65. Ngày giờ qua như câu chữ, năm tháng như hàng trương, mỗi kiếp sống là một quyển tập. Vơ trụ như một kho tàng Pháp bảo, mỗi quả địa cầu là một quyển sách to. Chúng sanh như những học tṛ, xung quanh là bạn lữ, kẻ dạy dỗ ví những ông thầy; chúng sanh chết đi sống lại, như thay thầy đổi bạn, lên lớp xuống lớp lăng xăng; vạn vật biến h́nh như sửa tập, các pháp thấp cao, sai khác không như một, là bài vở. Chơn Lư ĐI HỌC 66. Đừng nghe ai xưng tặng mà gọi là vinh, đừng thấy ai dâng của cho mà thấy là lợi, đừng thấy ai khóc lóc, tŕu mến, níu kéo, mà động t́nh thương ở lại, v́ đó là ma vương cám dỗ. Chơn Lư ĐI HỌC 67. Ông thầy giáo th́ phải giữ ǵn lời nói, làm cha mẹ là không đặng say sưa rượu thịt, như vậy là con dân , mọi người sẽ hết ḷng, ḷng người là mạnh hơn hết, được ḷng người là được tất cả sự thành công. Chơn Lư ĐỜI ĐẠO ĐỨC 68. Cơi thiên đường là cơi ḷng trong sạch cao thượng. Cảnh thiên đường là cảnh trí rộng lớn mát mẻ. Xứ thiên đường là sự thông minh xán lạn đẹp tươi. Chơn Lư XỨ THIÊN ĐƯỜNG 69. Ở trong đời, ta nhịn đói một buổi không sao; chớ tham ác th́ trong một giờ, phải chết khổ sớm vậy. Chơn Lư VỊ HUNG THẦN 70. Đức Phật khi xưa, cũng tội lỗi mê muội như chúng ta, nhưng nhờ Ngài sớm nghe qua tỉnh ngộ, không v́ nghe lời thẳng mà giận, biết nín lặng mà nghe, biết dằn ḷng mà sửa, do đó mà được chỗ hơn người. Chơn Lư VỊ HUNG THẦN 71. Người sanh ra ở đời, nói chuyện Phật, thấy h́nh Phật, th́ ai cũng thấy được, nhưng khi ḿnh làm Phật th́ ít ai muốn chịu làm, v́ lẽ không phải dễ dàng như gió thoáng qua, hay nói suông được. Chơn Lư PHẬT TÁNH 72. Có không tham vọng, tâm ta mới no đủ; có không sân si, tinh thần mới sáng láng mát mẻ trong sạch; Thân, khẩu, ư không vọng động th́ tâm hồn mới an trụ cứng cỏi. Chơn Lư PHẬT TÁNH 73. Khất sĩ là giải thoát trói buộc phiền năo vô minh vọng động để sống bằng chơn như trí huệ, an lạc, thong thả, rảnh rang, không c̣n tạo nghiệp, th́ luân hồi sanh tử khổ mới đặng dứt. Chơn Lư PHẬT TÁNH 74. Thấy tánh thành Phật! Mà thấy tánh là thấy cái chơn như, không vọng động, thấy cái giải thoát các pháp, các sở chấp, do sự giác ngộ trí huệ là Phật của ḿnh; chớ chẳng phải thấy bằng nói, nghe, chữ viết, suy gẫm tưởng tượng. Chơn Lư PHẬT TÁNH 75. Người tu là bao giờ cũng phải thấy lại nơi ḿnh, thấy cái Phật tánh của ḿnh, xem lại ḿnh có giống y như Phật chăng. Chơn Lư PHẬT TÁNH 76. Học là để tu, chớ không phải học là để học mà sanhḷng ngạo mạn. Chơn Lư HỌC ĐỂ TU 77. Chơn lư vơ trụ ở bên trong nền đức hạnh, thánh tâm, yên lặng, tự nhiên ( như dốt nát ), chớ chẳng phải ở nơi ngoài sự khoe khoang loạn vọng của kẻ phàm phu, có sự hơn thua, giỏi dở, khen chê, cao thấp. Chơn Lư HỌC ĐỂ TU 78. Những ai muốn bỏ phàm phu làm thánh, trua đạo bỏ đời, th́ phải nên cần “ học để tu”, khi tu là phải xem ḿnh như dốt nát, lơ lơ dường ám độn; đối với ai cũng phải nên chịu sự sút kém nhẫn nhường. Có như thế mới đặng chưởng trau đức hạnh. Chơn Lư HỌC ĐỂ TU 79. Đạo Phật là con đường giác ngộ của người giác ngộ, của chúng sanh chung. Chơn Lư ĐẠO PHẬT 80. Nào ai có ngờ đâu, chính người khổ nạn cực nhọc, vui chịu thiệt tḥi măi, kẻ ấy mới ắt phải giàu to tâm trí, an lạc, vĩnh viễn sau này, đó mới gọi là phép tu vậy. Chơn Lư TU VÀ NGHIỆP 81. Sự trả nghiệp ấy là phép tu tâm, là sự lập công tu đức, quư báu nên hay lắm, có trả nghiệp nhiều mới đặng nhẹ nhàng khỏe khoắn thêm lên, cũng như sự tắm rửa; nhờ vậy tam nghiệp của tâm mới thanh tịnh văng sanh tịnh độ. Chơn Lư TU VÀ NGHIỆP 82. Thân trong sạch ấy là xứ Phật. Miệng trong sạch ấy là Pháp Phật. Ư trong sạch ấy là con Phật. Tâm trong sạch tức là Đức Phật. Chơn Lư TU VÀ NGHIỆP 83. Thân giới là xứ Cực Lạc Tịnh Độ, c̣n tâm định là Phật A- DI- ĐÀ. V́ giới năng sanh định, định năng phát huệ, lẽ ấy rất thường. Biết như thế là tự lo tu, không c̣n trông đợi cầu vái ỷ lại nữa. Chơn Lư VÔ LƯỢNG CAM LỘ 84. Cả thảy Chư Phật đều là pháp cả! Pháp là sáng suốt hơn hết, là sống dai hơn hết, là mát mẻ ngọt ngào hơn hết. Cơi Pháp sẽ chứa độ tất cả sự khổ năo của chúng sanh. Chơn Lư VÔ LƯỢNG CAM LỘ 85. Người cư sĩ thuở xưa thờ phượng Chư Phật Thánh là bằng đức tin tư tưởng và bằng giáo lư trí huệ. Chơn Lư THỜ PHƯỢNG 86. Nếu tâm càng tự cao, giải đăidễ duôi, là tức th́ sa địa ngục trọn vẹn, v́ địa vị càng cao là tánh mạng càng nguy hiểm, cũng như người trèo núi, càng lên cao là đáy hố sẽ càng xa sâu thêm măi. Chơn Lư THỜ PHƯỢNG 87. Nếu thái hóa th́ có ngày bất cập. Sao cho bằng sự thường bền là tốt hay hơn hết. Đạo là mực trung, lợi ích cho cả ta và người mới phải. Chơn Lư THỜ PHƯỢNG 88. Đạo Phật khi hẹp th́ phải mở rộng, và khi rộng là phải thu hẹp, rộng hẹp phải biết tùy duyên mới gọi là phương tiện thiện xảo của trí huệ Phật. Chơn Lư THỜ PHƯỢNG 89. Sự thờ phượng là để dung ḥa kẻ chết với người sống, là pháp tạm trau tâm, giồi trí, thân tập sống chung, chớ đâu phải tư riêng ta người, kiến họ. Chơn Lư THỜ PHƯỢNG 90. Thân này là của tất cả, tất cả là của thân này, tiếng ta là chung toàn thể, chẳng phải riêng tôi. Chơn Lư PHÁP CHÁNH GIÁC 91. Giữ tinh là tŕ giới, không dâm dục làm đầu; điều ḥa khí là nhập định, không nói bậy làm gốc; dưỡng thần là không tưởng loạn làm nên. Chơn Lư SỔ TỨC QUÁN 92. Ba phép tinh, khí, thần hay giới, định, huệ, nơi người mà biết giữ ǵn đều đủ, tức là lục căn thanh tịnh, thất t́nh đoạn phủi, tam độc tiêu trừ, ngũ uẩn khỏi qua, tứ tướng dứt sạch, nhân ngă không c̣n … nên trí huệ thần thông, quả linh đạo lư, giác ngộ chơn như đặng đều đủ. Chơn Lư SỔ TỨC QUÁN 93. Tội lỗi chẳng phải hại cho xác thân không thôi, mà là nó sẽ giết hại tâm hồn ta nữa. Chơn Lư SÁM HỐI 94. Cái biết tham lam dục vọng của ta, là hột non nớt, có ngày bị hủy bỏ. Cái biết trong sạch thiện lành, là như hột lớn cứng già cũng được khá; nhưng sao bằng chính cái biết định yên chơn như, mới phải hột chín cứng khô, sống măi để đời, kêu là giác chơn, Phật, hay là ta đó. Chơn Lư SÁM HỐI 95. Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả, tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chơn lư vơ trụ. Chơn Lư H̉A B̀NH 96. Đạo của sống là xin nhau sống chung, đạo của biết là học chung, đạo của linh là tu chung. Đạo đây là chơn lư vơ trụ của chúng sanh chung, chớ không phải tông giáo tư riêng. Chơn Lư H̉A B̀NH 97. Lễ giáo là một chơn lư rất quư báu, là một phép tắc rất diệu mầu, là nấc thang thiện lành tránh ác. Chơn Lư LỄ GIÁO 98. Đời không lễ giáo là đám rừng hoang ly loạn. Chơn Lư LỄ GIÁO 99. Mục đích của sống là biết, biết là học. Cái sống là xin. Tất cả chúng sanh là đang xin lẫn nhau; tiến ra từ trong cái ác, cái bất công, cái mê muội. Chơn Lư ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ 100. Phật là giác chơn, là cái biết thật tự nhiên, là nghĩa lư của tiếng Phật, mục đích của cái biết nơi ḿnh, chớ không phải mê tín mờ quáng, mà tự trói ḿnh trong chữ Phật, tiếng đạo, hay tông giáo riêng biệt. Chơn Lư ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ 101. A- La- Hán là bậc mà không c̣n sự vui khổ của bên ngoài trần thế, là bậc mà tâm sống với cái thật, cái không vọng động, vô vi của bề trong. Cái sống ấy mới thật gọi là bền vui và có được. Đạo Phật khất Sĩ Việt Nam |