| ||||
|
Theo kinh Vô Lượng Thọ th́ Đức Phật A Di Đà từng là một nhà vua. Sau khi ngộ đạo, Ngài phát tâm xuất gia và trở thành vị Tỳ kheo tên là Pháp Tạng (Dharmàkara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và phát nguyện độ hết chúng sanh trong cơi Cực lạc của ḿnh. Ngài lập 48 lời nguyện giúp chúng sanh giải thoát. Những nguyện quan trọng là nguyện thứ 18: "Ví con được thành Phật, mười phương chúng sanh muốn sanh về cơi nước con mà chí tâm tin mến niệm từ một niệm cho đến mười niệm, nếu không được sinh th́ con không thành bậc Chánh giác. Chỉ trừ những kẻ tạo tội ngũ nghịch, hủy báng chánh pháp". Nguyện thứ 19: "Ví con được thành Phật, mười phương chúng sanh phát Bồ đề tâm, tu các công đức, dốc ḷng phát nguyện muốn sanh về cơi nước con, đến lúc mạng chung, ví con chẳng cùng đại chúng vây quanh hiện thân trước người đó, th́ con không thành bậc Chánh giác". Nguyện thứ 20: "Ví con được thành Phật, chúng sanh khắp mười phương nghe danh hiệu con, nhớ nghĩ quốc độ con, vun trồng các công đức, rồi dốc ḷng hồi hướng muốn sanh về cơi nước con, nếu không được toại nguyện th́ con không thành bậc Chánh giác" (Kinh Vô Lượng Thọ, Chân Thường dịch, Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành, 1992). Qua nội dung 48 lời nguyện cho thấy con đường tu tập Tịnh độ dựa vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà và nhất tâm niệm Phật là con đường tu dễ nhất, đó là lư do tại sao Tịnh độ tông được truyền bá rộng răi nhất. Con đường tu tập của pháp môn Tịnh độ dựa trên ba nguyên tắc: 1- Niềm tin (Tín) Đây là điều kiện tiên quyết, không có niềm tin hay niềm tin không đủ mạnh th́ không thể tu Tịnh độ được. Sự tin tưởng là nền tảng khởi lên ước muốn và hướng tâm về thế giới Cực lạc. Như tất cả các pháp môn khác, niềm tin là mẹ của các thiện pháp và phát sinh công đức. Niềm tin của hành giả Tịnh độ rất rơ, tin rằng Đức Phật A Di Đà và thế giới Cực lạc là có thực, Đức Phật và Thánh chúng luôn sẵn sàng tiếp độ chúng ta, chỉ cần chuyên tâm tin tưởng và niệm Phật quyết chí văng sanh th́ chắc chắn được văng sanh. V́ vậy, các kinh sách Tịnh độ và các hành giả Tịnh độ thường nói xác quyết chứ không có thái độ lưỡng lự, phân hai. 2- Nguyện lực hay tâm mong muốn (Nguyện) Niềm tin ổn định sẽ đưa đến ước muốn văng sanh gọi là ước nguyện. Mọi hoạt động tâm lư đều hướng về Tịnh độ, mọi ước muốn đều được kích thích bằng sự nhàm chán đối với đời sống uế trược và bất an này. Nếu ta c̣n ham muốn vật chất, t́nh cảm, tư tưởng của cuộc đời này th́ ước muốn văng sanh không mạnh. Nghiệp liên kết với đời sống này không giảm th́ Tịnh độ không hấp dẫn ta được, nên có chán Ta bà mới ước mong mănh liệt về Tịnh độ được. Đó cũng là lư do tại sao người lớn tuổi ưa tu Tịnh độ hơn là giới trẻ. Biểu hiện của ước nguyện về Tịnh độ là mọi hành vi, lời nói và tâm ư đều phải thể hiện ước nguyện đó. Với lời nguyện mạnh mẽ từ bỏ uế độ văng sanh Tịnh độ, mong có khả năng để cứu độ chúng sanh. Tâm nguyện như vậy mới tương ứng với tâm nguyện của Tịnh độ, mới có cảm ứng với Phật và Thánh chúng ở Cực lạc. 3- Hành tŕ (Hạnh) Khi tâm nguyện hướng về Tịnh độ th́ mọi hành động, ngôn ngữ đều được tu tập liên tục, nghĩa là thực hành phương pháp niệm Phật, quán tưởng... đều đưa đến hợp nhất thân khẩu ư, không để cho các đối tượng của trần gian lôi kéo làm tâm bị tán loạn. Mọi công đức, thiện pháp ta có đều hồi hướng về Tịnh độ, thường th́ hành giả thiết lập cho ḿnh một thời khóa tu niệm, ví dụ như trong một ngày một đêm chia thành sáu thời khóa để tụng niệm, tạo cho ḿnh tiêu chuẩn niệm bao nhiêu lần, nhờ hành tŕ mà hành giả có thể đắc định, thấy Phật và Thánh chúng cơi Cực lạc. III. Phương pháp niệm Phật Mục đích của pháp niệm Phật A Di Đà là đưa đến nhất tâm, chế ngự mọi vọng tưởng của tâm. Niệm Phật là thực hành chánh niệm, như vậy về mặt bản chất, pháp môn niệm Phật không khác biệt với thiền quán, là cốt lơi của các pháp môn. Phương pháp niệm Phật có bốn cách: 1- Tŕ danh niệm Phật: Niệm danh hiệu Phật A Di Đà, hoặc niệm thầm hoặc phát âm thanh. 2- Quán tượng niệm Phật: Niệm Phật và chăm chú nh́n vào tượng Phật, thấy rơ tướng tốt của Phật, hoặc tướng tốt của các Bồ tát và Thánh chúng. 3- Quán tưởng niệm Phật: Quán tưởng h́nh ảnh của Đức Phật A Di Đà cho đến khi thấy được linh ảnh của Đức Phật. Pháp quán này khác với quán tượng là không sử dụng h́nh ảnh bên ngoài. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ đề cập đến 16 pháp quán. 4- Thật tướng niệm Phật: Niệm Phật đạt đến chỗ vô niệm, không c̣n chủ thể và đối tượng. Pháp quán này mang sắc thái Thiền hơn là Tịnh độ cho nên không phổ biến được. Phương pháp tu Tịnh độ được nhiều người chấp nhận và hành tŕ, nhất là Tŕ danh niệm Phật, ai thực hành cũng được, có thể niệm lớn tiếng gọi là Cao thanh tŕ, niệm thầm gọi là Mặc tŕ, mấp máy môi mà không ra tiếng gọi là Kim cang tŕ. Người xưa c̣n đưa ra 4 sắc thái niệm Phật: Ḥa hoăn niệm là niệm từ từ không cần gấp, không nôn nóng, chỉ cần bền bỉ, có thể vừa làm việc vừa niệm Phật, không cần "tu mau kẻo trễ"; thứ hai là Truy đảnh niệm, là đưa câu niệm Phật nằm trên đỉnh cao của ḍng tâm thức, nghĩa là niệm Phật luôn hiện tiền, không bị chi phối bởi công việc, quyết chí cao, ấn định thời gian và cần có kết quả rơ; thứ ba là Thiền định niệm, tức trụ tâm vào định rồi sử dụng tâm định ấy mà niệm Phật. Đây là lối tu dựa trên cơ sở truyền thống nguyên thủy, khi tâm đạt định, hướng tâm ấy về tam minh, ở đây hành giả hướng tâm về cơi Tịnh độ và Đức Phật A Di Đà; thứ tư là Tham cứu niệm, là cách niệm Phật ảnh hưởng thiền công án, như nêu câu hỏi: Niệm Phật là ǵ? Sự nung nấu nghi t́nh đến đỉnh cao sẽ bùng vỡ ư thức và giác ngộ. Sắc thái này mang dấu ấn của Thiền hơn là của Tịnh độ. C- Kết luận Tịnh độ tông chú trọng vào niềm tin của cá nhân và sự cứu độ của Đức Phật A Di Đà. Pháp tu chủ yếu là niệm danh hiệu Phật A Di Đà và quán tưởng đến thế giới Cực lạc. Đây là một tông phái được phổ biến rộng răi nhất và cũng được nhiều tông phái khác phổ biến và hành tŕ. Pháp môn niệm Phật là con đường tu tập khá phù hợp với nhiều căn cơ khác nhau. Thực ra, pháp môn niệm Phật có từ thời Phật giáo Nguyên thủy, Đức Phật dạy các đối tượng quán niệm trong đó niệm Phật là đứng đầu, v́ đây là đối tượng dễ đưa tâm vào chánh niệm, trong Phật giáo Nguyên thủy, ư nghĩa về Phật lực đă được bao hàm trong pháp niệm Phật. Qua thời kỳ tiền Đại thừa, luận sư Nagasena (Na Tiên Tỳ kheo) chủ trương thuyết cứu độ qua cuộc vấn đạo của vua Milinda (hoàng đế Hy Lạp). Vua cho rằng không thể chấp nhận được khi một người ác lại được cứu độ nếu y tin tưởng vào một vị Phật vào đêm trước ngày chết. Nagasena đáp: "Một ḥn đá dầu nhỏ cách mấy vẫn ch́m trong nước, nhưng một tảng đá vẫn nổi trên nước nếu đặt lên thuyền". Về sau, các luận sư Đại thừa triển khai triệt để hơn về thuyết Phật cứu độ và qua kinh điển, Tịnh độ tông tiêu biểu rơ cho luận thuyết ấy. Con đường giải thoát của đạo Phật căn bản là ở tâm, tức là nỗ lực cá nhân, pháp môn Tịnh độ vẫn không ngoài đường lối ấy, ḥn đá lớn nhờ thuyền chở mà nổi trên nước, nhưng vận chuyển ḥn đá ấy lên thuyền phải là công phu tự thân, để có được 10 niệm nhất tâm và sự cứu độ của Phật, hành giả phải có công phu tích lũy lớn, nghĩa là có một quá tŕnh tu tập. Sau này, khi các tông phái khác phát triển đă ảnh hưởng đến tư tưởng Tịnh độ, nhất là tư tưởng Tịnh độ tại tâm như "Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ" làm cho pháp môn Tịnh độ có tính tự lực nhiều hơn nhưng có lẽ đó không phải là bản ư của Tịnh độ tông. Để kết luận, xin dẫn lời bàn về niệm Phật của nhà vua, Thiền sư Việt Nam thời Trần là Trần Thái Tông trong tác phẩm Khóa hư lục: "Người niệm Phật có ba bậc: bậc thượng trí th́ tâm tức Phật chẳng nhờ tu chứng, thân Phật là thân ta không có hai tướng, tánh tướng không hai, tịch mà thường c̣n, c̣n mà chẳng biết. Đó là hoạt Phật. Bậc trung trí phải nương vào niệm Phật, chú ư chuyên cần, niệm Phật không quên tự nhiên thuần thiện. Niệm thiện đă hiện niệm ác liền tiêu. Niệm ác đă tiêu duy c̣n niệm thiện. Bởi niệm ư niệm niệm niệm tất diệt. Khi niệm đă diệt, ắt về chánh đạo. Tới khi mạng chung được vui Niết bàn. Bậc hạ trí th́ miệng chuyên niệm lời Phật, ta muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sinh nước Phật, ngày đêm siêng năng không thoái chuyển. Ngài kết luận ba hạng người trên đây sâu cạn khác nhau nhưng mục đích và kết quả là một, tuy nhiên bậc thượng trí nói th́ dễ làm th́ khó, bậc trung trí nếu chuyên cần nỗ lực sẽ thành tựu trong đời này nhưng nếu nghiệp nặng chưa dứt th́ khó thành tựu, bậc hạ trí lối tu lấy niệm Phật làm nấc thang bước từng bước vững chắc được qua nước Phật rồi th́ chí nguyện sẽ thành. Vậy muốn thành tựu cái siêu việt phải bắt đầu bằng cái đơn giản. |