| Hạt Bụi theo về
Là khách văng lai của thế giới sinh tử th́ gặp gỡ hay ly biệt là thường t́nh. Thế nhưng, cái lúc nhận được tin một người thân đột ngột ĺa bỏ ḿnh, là một giây phút cực kỳ khó khăn. Chấp nhận được vô thường với cơi ḷng an nhiên thật là không dễ dàng ǵ bởi mất mát nào cũng là thương tích. Đôi mắt như sẵn đau niềm đau của kiếp người cũng ướt đẫm những gịng thương cảm, tâm hồn chới với thẩn thờ. Hôm nay, lại có thêm một người gần đă vẫy tay đi xa, thêm một tấm ḷng thân cận cảm thông giă từ lên đường về theo hạt bụi, những hạt bụi t́nh cờ cho cuộc khứ lai: Ni Sư Thích Nữ Trí Hải, con người thân thuộc của khung trời văn hóa Phật Giáo Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ hai mươi, gương mặt tu nữ thạc học mà tâm hồn gắn liền với những trang chữ long lanh diệu pháp; đă bất ngờ bỏ đời, để lại biết bao bùi ngùi xúc cảm trong ḷng kẻ ở.
Tôi gặp Phùng Khánh khi cô mới vừa rời mái gia đ́nh quư phái và thâm nghiêm bên bờ sông Hương để lên đường du học. Với dáng dấp đoan trang thanh nhă cọng với một tâm hồn mẫn cảm đă dẫn dắt người thiếu nữ hoàng phái đi vào thế giới sung túc của chữ nghĩa và không khí trí thức trầm mặc của hàng hàng kệ sách thư viện. Sống ở Hoa Kỳ những năm đầu 60 với cơi ḷng ẩn mật rất Huế, khi về lại Việt Nam, Cô đă ra mắt với người đọc quê hương hai bản dịch nỗi tiếng là “Câu chuyện ḍng sông” của Herman Hesse và “Bắt trẻ đồng xanh” của Salinger; mà không lâu sau đó người đọc đều đă nhận ra gương mặt tuyệt vời của một dịch giả vừa uyên bác cẩn trọng, vừa trong sáng nghiêm túc. Măi cho tới mấy chục năm sau, Cô vẫn giữ vị trí của người chuyển ngữ tài hoa nhất. Sau ngày hồi hương không lâu, Phùng Khánh quyết định cắt ái từ thân xuất gia với Pháp hiệu Trí Hải. Cô về làm việc cho Đại Học Vạn Hạnh với phần vụ Thư Viện Trưởng – một Thư Viện Trưởng độc nhất suốt thời gian hưng thịnh của Vạn Hạnh. Thầy Minh Châu và tôi vô cùng cưng quư Thư Viện và cũng rất nễ trọng vị Thủ Thư nên đă nh́n thấy và hoà讠toàn cảm thông sự khó tính trong điều hành của Cô Thư Viện Trưởng. Biết chúng tôi vốn chịu ch́u “mệ” trí thức nên các nhân viên thư viện cũng dựa vào cô mà thách thức các nguyên tắc điều hành chung nhưng nhờ biết khéo léo quản trị, chúng tôi duy tŕ được mọi tôn ti trật tự. Trí Hải là một người rất thương quư sách, biết giá trị của sách nên Cô đă vận động nhiều cách để đem về cho thư viện những mặt sách quư hiếm, làm thuận tiện cho sự nghiên cứu xử dụng không chỉ riêng cho sinh viên Vạn Hạnh mà c̣n chung cho cả giới trí thức thành phố, không chỉ phong phú cho tầng lớp đạo gia mà c̣n quá giàu có cho những nhà t́m hiểu thế tục. Nếu tất cả sách mà Thư Viện Vạn Hạnh hiện có đă tạm là h́nh ảnh của một đại dương trí thức th́ cái Pháp hiệu định phận của Cô Thủ Thư Trí Hải (biển tuệ) đă ḥa nhập là Một khiến cho không khí Thư Viện lúc nào cũng thoảng mùi trầm hương: trầm hương tỏa ra từ ḷng sách và hồn người. Và từ xứ trầm hương đó, cô Trí Hải đă gửi tặng cho đời những trang chữ thơm tho mầu nhiệm. Nếu nghĩa của Văn là Đẹp th́ cả đời Ni Sư đă phụng sự cho cái Đẹp đó hết sức tận tụy và những ai đă có một lần để cho ḷng trầm tư theo hồn sách (trong hơn 10 tác phẩm đă được phổ biến) th́ sẽ biết cám ơn sự thanh cao c̣n lưu lại trong hồn ḿnh từ sự hiến tặng lân mẫn của người vừa mới đi xa.
Cuộc đời cô Trí Hải không chỉ là người bạn thân thiết của sách vở, Cô c̣n là nguời chị cả đáng yêu trong gia đ́nh An Sinh Xă Hội Vạn Hạnh. Từ vị trí người chị hiền lành độ lượng nầy, Cô đă là chiếc cầu nối cho bao lớp trẻ đi vào đời để phụng sự. Người chị mà đôi mắt biết thương xót đă cúi xuống thiết tha trên những nỗi đời bất hạnh, mà đôi tay biết chở che đă đưa ra nâng đỡ những mảnh sống khốn cùng, mà đôi chân vương giả đă không từng biết chối từ đi vào những xóm quê lầy lội, những đường làng tả tơi, những miền đất băo lụt hoang tàn. Mấy mươi năm dài, mặc cho thời thế đổi thay mà tấm ḷng v́ đời không lay chuyển. Khắp những chốn đau nhức bất an nhất của đất nước, người dân khổ hạnh măi c̣n giữ lại trong đôi mắt mến thương của họ h́nh ảnh tà áo màu lam dịu hiền biểu tượng của cho vui và cứu khổ đă một dạo nào thấp thoáng giữa mưa nắng đời thường. Tà áo ấy đă gắn liền với các công tác từ thiện, thủy chung cho đến ngày cuối cùng phủi tay giải nghiệp. Chọn lựa của trái tim từ bi là nhiều lúc t́nh nguyện hứng chịu khổ nạn thay cho chúng sanh, bị đau đớn riêng ḿnh cho tâm được an vui mà đi tiếp trên con đường cứu độ. Ni Sư Trí Hải đă vào đời trong ước nguyện, đă phụng sự con người như thế và hôm nay, giă đời giữa lúc đang thật hành hạnh lớn của trái tim từ bi “chúng con khổ nguyện xin cứu khổ”. Chưa có ai của Ni giới Việt Nam, trong mấy mươi năm máu lệ của quê hương đă nuôi tâm bố thí theo sáu pháp qua bờ nhiệt thành như Ni Sư Trí Hải. Chừng ấy cũng đủ cho Ni Sư, trong cuộc giă từ nầy, cất lên một tiếng cười lớn giữa biển khổ kiếp người.
Một lần mới đây thôi, Ni Sư kể cho tôi biết rằng Ni Sư đă viết và đem treo những câu thơ của Huyền Không trong vườn chùa. Cho thơ nói chuyện với hoa cỏ lá cành, cho thơ cùng thở với gió mùa, cho thơ đi vào mắt rồi ở lại trong ḷng người, cho thơ sống với một chút đất trời quê hương. Tôi ở xa mà cũng được ấm ḷng v́ những ḍng thơ viết ra ngày nào đă t́m thấy một tâm hồn bầu bạn. Mà thôi. Hết rồi. Ngày 7 tháng 12 đă là một ngày tang tóc. Thị giả của Ni Sư, khi thuật lại cho tôi nghe chi tiết về sự ra đi đột ngột và nặng nhọc nầy tôi đă không dừng được nước mắt xót thương. Tôi khóc theo niềm cảm xúc từ muôn trùng. Ngày trước, khi nghe tin Huệ Minh và Tiểu Phượng mất tích tại Rạch Giá, tôi có đau buồn nhưng niềm đau thấm chậm. Bây giờ, với cái chết trong tai nạn thảm khốc nơi vùng đất đỏ Long Khánh của Ni Sư th́ niềm đau trong tôi mănh liệt bội phần. Tôi chắp tay lạy Phật, nguyện cầu cho những người thân yêu đó có được những tái sinh thuận lợi, để nối tiếp con đường cứu độ dở dang của các vị Bồ Tát nhập thế làm lợi lạc cho đời. Hạt bụi sẽ luân hồi trở lại bằng nguyện lực vô biên.
Huyền Không
|