Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Tủ sách Huyền Bí, Tâm Linh

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 11-26-2018, 09:50 PM
CatBui's Avatar
CatBui CatBui is offline
Senior Member
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 107
Hiểu đúng về vô ngă (anatta) trong Phật giáo

Cái mà người ta thường gọi là linh hồn, ngă hay cái tôi, là để ám chỉ một thực thể tuyệt đối, trường cửu trong con người, bản thể bất biến đằng sau thế giới hiện tượng hằng biến. Theo một vài tôn giáo, mỗi người có một linh hồn tách biệt như thế do Chúa tạo dựng, và linh hồn ấy sau khi chết sẽ vĩnh viễn sống trong địa ngục hay thiên đường. Số phận nó tùy thuộc vào sự phán xét của đấng sáng tạo ra nó. Theo một vài tôn giáo khác, linh hồn ấy trải qua nhiều đời sống, cho đến khi nó hoàn toàn trong sạch và cuối cùng trở thành đồng nhất với Thượng đế hay Phạm thiên Brahman, Linh hồn phổ quát hay Àtman từ đấy nó phát xuất. Linh hồn hay ngă trong con người là cái suy nghĩ, cảm giác, và nhận thưởng phạt về tất cả mọi hành vi thiện ác của nó. Một quan niệm như thế gọi là Ngă kiến.
.
Phật giáo là tôn giáo độc nhất trong lịch sử tôn giáo nhân loại phủ nhận hiện hữu của một linh hồn, Ngă hay Àtman như thế. Theo giáo lư Phật, ngă kiến là một niềm tin sai lạc, không tương ứng với thực tại, và nó phát sinh những tư tưởng tai hại về "tôi" và "của tôi", dục vọng ích kỷ không biết chán, sự chấp thủ, sân hận, ác độc, kiêu căng ngă mạn, và những cấu uế ô nhiễm khác cùng nhiều rắc rối. Nó là nguồn gốc của mọi rối ren trên đời, từ những tranh chấp cá nhân cho đến chiến tranh giữa các dân tộc. Tóm lại, tất cả mọi sự tác quái trên thế gian đều bắt nguồn từ quan niệm sai lạc này.
.
Có hai ư tưởng thâm căn cố đế trong tâm lư con người: tự vệ và tự tồn. V́ muốn tự vệ con người đă dựng nên Thượng đế để nương tựa, để được che chở, được an ninh bảo đảm, như một đứa trẻ nương tựa vào cha mẹ. V́ muốn tự tồn người ta đă sáng tạo ra ư tưởng về một linh hồn bất tử hay Àtman sẽ sống măi đến bất tận. Trong ngu si, yếu đuối, sợ hăi, khát khao, người ta cần hai điều ấy để tự trấn an, tự vỗ về; v́ lư do đó họ bám vào đấy một cách cuồng tín và hăng say.

Giáo lư Phật không dung dưỡng sự ngu si, yếu đuối, sợ hăi, khát khao ấy, mà cốt làm con người sáng mắt ra bằng cách trừ khử, tiêu diệt, nhổ tận gốc những thói này. Theo Phật giáo, những ư tưởng của chúng ta về thượng đế và linh hồn là sai lạc, trống rỗng. Mặc dù những ư tưởng ấy được phát triển sâu đậm, dệt thành những chủ thuyết, tất cả đều là những dự phóng tinh vi của óc tưởng tượng được gói ghém trong một mớ danh từ triết lư và siêu h́nh phức tạp. Những ư tưởng này đă ăn sâu gốc rễ trong tâm lư con người, gần gũi thân thiết với họ đến nỗi họ không mong nghe, cũng không muốn hiểu một đạo lư nào ngược lại.

Đức Phật biết rơ điều ấy, ngài dạy rằng giáo lư của ngài "đi ngược ḍng" (patisotagàmi), trái ngược với những dục vọng ích kỷ của con người. Bốn tuần lễ sau khi giác ngộ, ngồi dưới một gốc cổ thụ, ngài tự nhủ: "Ta đă thực chứng một sự thực sâu xa, khó thấy, khó hiểu... chỉ những bậc trí mới hiểu thấu. Những người bị đam mê chế ngự, bị vô minh vây phủ không thể nào thấy chân lư này, v́ nó ngược ḍng, nó cao siêu, sâu kín, tế nhị và khó nghĩ bàn."

Nghĩ thế, đức Phật đă do dự một lúc: "Có phải vô ích không nếu ta cố giảng giải cho thế gian Chân lư mà ta đă chứng nhập?" Rồi ngài so sánh thế gian như một ao sen: trong ấy có nhiều hoa c̣n ở dưới mặt nước, có những hoa khác chỉ vừa ló lên trên mặt nước, nhưng cũng có những bông hoa đă vươn lên khỏi mặt hồ và không c̣n động chạm với nước. Cũng thế trong thế gian này, tŕnh độ phát triển của con người khác nhau. Có một số người sẽ hiểu được Chân lư. V́ thế đức Phật quyết định giảng dạy chân lư ấy[1].

.
Lư Vô ngă là kết quả tự nhiên, là hệ luận của phân tích Ngũ uẩn và Duyên khởi (hay duyên sinh, paticca-samuppàda)[2].
.
Trong phần thảo luận về Diệu đế thứ nhất (Khổ đế, dukkha), chúng ta đă thấy cái mà ta gọi linh hồn hay cá thể được cấu tạo bởi năm uẩn, và khi phân tích kỹ năm uẩn ta không thấy có ǵ đằng sau chúng có thể gọi được là Tôi, Àtman hay Ngă, hay bất cứ bản thể trường tồn bất biến nào. Đấy là phương pháp phân tích. Ta cũng có kết quả tương tự khi xét kỹ luật duyên khởi, phương pháp tổng hợp, và theo luật này th́ không có ǵ trên thế gian là tuyệt đối. Mọi sự vật (pháp) đều giới hạn, tương đối, và phụ thuộc lẫn nhau. Đây là thuyết tương đối của Phật giáo.
.
Trước khi thực sự đi vào vấn đề Vô ngă, ta nên có một ư niệm sơ qua về luật duyên khởi. Nguyên tắc của lư thuyết này được tóm tắt trong một công thức gồm 4 ḍng:
Cái này có, th́ cái kia có (imasmim sati idamhoti).
Cái này sinh, th́ cái kia sinh (imassuppàda idam uppajjati).
Cái này không, th́ cái kia không (imasmim asati idam na hoti).
Cái này diệt, th́ cái kia diệt (imassa nirodhà idam airujjhata) [3].
.
Theo nguyên tắc điều kiện tính, tương đối tính và tính hỗ tương tùy thuộc ấy, sự tiếp tục của đời sống và sự chấm dứt của nó được giải thích trong một công thức chi tiết gọi là duyên khởi, (nghĩa là sự sinh khởi có điều kiện hay duyên) gồm 12 yếu tố:
1- Vô minh (làm) duyên (cho) hành (những hoạt động cố ư hay nghiệp) (avijjàpaccayà samkhàvà).
2- Hành (làm) duyên (cho) thức (samkhàrapaccayà vinnànam).
3- Thức (làm) duyên (cho) danh sắc (những hiện tượng tâm lư và vật lư) (Vinnànapaccayà nàmarùpam).
4- Danh sắc (làm) duyên (cho) lục nhập (5 giác quan và ư thức) (Nàmarùpapaccayà salàyatanam).
5- Lục nhập (làm) duyên (cho) xúc (động chạm, tiếp xúc) (salàyatanapaccayà phasso).
6- Xúc (làm) duyên (cho) thọ (cảm giác) (phassapaccayà vedanà).
7- Thọ (làm) duyên (cho) ái (khao khát ham muốn) (vedanàpaccayàtanhà).
8- Ái (làm) duyên (cho) thủ (bám víu, giữ lấy) (Tanhapaccayà upàdànam).
9- Thủ (làm) duyên (cho) hũu (quá tŕnh sinh ra và trở thành) (upàdànapaccayà bhavo).
10- Hữu (làm) duyên (cho) sinh (sự sống, sinh ra) (Bhavapaccayà jàti).
11- Sinh (làm) duyên (cho)
12- Lăo (già) tử (chết) ưu bi khổ năo (buồn lo đau đớn) (Jàtipaccayà jaràm maranam).
.
Đây là quá tŕnh theo đó sự sống đă phát sinh, tồn tại và tiếp diễn. Nếu ta đảo ngược công thức lại, ta sẽ đi đến sự chấm dứt của quá tŕnh:
.
Vô minh diệt th́ hành diệt, hành diệt th́ thức diệt, thức diệt th́ danh sắc diệt, danh sắc diệt th́ lục nhập diệt v.v.. cho đến khi sinh lăo, tử, ưu bi khổ năo... diệt.
Cần nhớ rơ một điều rằng mỗi yếu tố trên đây đều vừa là nhân vừa là quả, nó vừa bị định đoạt bởi (paticcasamuppanna), và vừa làm điều kiện cho (paticcasamuppàda)[4]. Bởi thế chúng đều là tương đối, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan với nhau, không có cái ǵ là tuyệt đối hay biệt lập, do đó mà Phật giáo không công nhận có "nguyên nhân đầu tiên" như ta đă thấy trước kia[5]. Duyên khởi nên xem như một ṿng tṛn, chứ không nên xem là một sợi xích[6].
.
Vấn đề ư chí tự do chiếm một địa vị quan trọng trong tư tưởng và triết học Tây phương. Nhưng theo luật duyên khởi, vấn đề này không phát sinh và không thể phát sinh trong triết học Phật giáo. Nếu toàn thể hiện hữu đều là tương đối, giới hạn và phụ thuộc nhau, làm sao một ḿnh ư chí có thể được tự do? ư muốn cũng bị giới hạn như bất cứ tư tưởng nào khác. Cái ta gọi là "tự do"chính nó cũng giới hạn và tương đối. Không thể có cái ǵ vật lư hay tâm lư có thể tuyệt đối tự do, v́ mọi sự đều tương quan và tương đối. "ư chí tự do" bao hàm ư nghĩa một ư muốn không phụ thuộc vào những điều kiện, biệt lập với nhân quả. Làm sao một ư muốn hay bất cứ cái ǵ thuộc về ư chí, có thể phát sinh mà không có những điều kiện, tách rời nhân và quả - khi toàn thể hiện hữu đều giới hạn và tương đối, nằm trong luật nhân quả? Lại nữa ở đây, ư niệm về ư chí tự do cũng liên quan mật thiết đến những ư tưởng về Thượng đế, linh hồn, công bằng, thưởng phạt. Không những cái gọi là tự do đă không tự do, mà ngay cả chính ư niệm về ư chí tự do cũng không thoát khỏi những điều kiện.
.
Theo luật duyên khởi, cũng như theo sự phân tích con người thành năm uẩn, ư tưởng về một bản thể trường cửu bất diệt ở trong hay ngoài con người, dù gọi là Àtman, Tôi, Linh hồn, Ngă, hay cái Ta, chỉ được coi như một niềm tin sai lạc (tà tín), một bóng dáng của tâm thức. Đây là lư thuyết Phật giáo về Vô ngă (anatta).
Để tránh một sự lầm lẫn, ở đây ta nên nhắc rằng có hai loại sự thật: sự thật ước lệ, Tục đế (sammutisacca), và sự thật tuyệt đối hay Thắng nghĩa đế (paramatthasaca)[7].
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 11-26-2018, 09:52 PM
CatBui's Avatar
CatBui CatBui is offline
Senior Member
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 107
Khi ta dùng thường ngày những từ ngữ như "tôi", "anh", "linh hồn", "cá nhân" v.v.. không phải chúng ta nói dối, mà nói một sự thật thuận theo quy ước của thế gian. Nhưng sự thật tối hậu là không có "tôi" hay "linh hồn". Như kinh Mahàyànasùtràlankàra (Đại thừa nhập Lăng già) dạy: "Một con người (pudagala) nên được xem là chỉ có trong sự giả lập (prajnapati) (nghĩa là theo quy ước th́ có một cá thể hay con người), chứ không phải trong thực tại (dravya)[8].
"Sự phủ nhận một linh hồn bất tử là đặc tính chung cho mọi hệ thống giáo lư Tiểu thừa cũng như Đại thừa, và như vậy không có lư do ǵ để quả quyết rằng truyền thống Đại thừa, một truyền thống hoàn toàn đồng quan điểm với Tiểu thừa trên vấn đề này, đă đi xa với giáo lư nguyên thủy của đức Phật." [9]
.
Bởi thế, thật lạ lùng khi gần đây vài học giả (như bà Rhys Davids và những người khác)[10] đă cố - một cách vô vọng - xen ư tưởng về ngă vào trong giáo lư Phật, một điều hoàn toàn trái ngược với Phật giáo. Những vị học giả này kính trọng, ngưỡng mộ và sùng thượng đức Phật và giáo lư Ngài. Họ ngưỡng mộ Phật giáo. Nhưng họ không thể tưởng tượng được rằng đức Phật, người họ xem là tư tưởng gia sâu sắc và minh bạch nhất, lại có thể phủ nhận hiện hữu của Àtman, linh hồn hay ngă mà họ rất cần đến. Họ không biết rằng họ đang t́m sự ủng hộ của Phật cho nhu cầu này, nhu cầu một hiện hữu bất diệt - dĩ nhiên không phải trong một cái ngă nhỏ nhen cá biệt với một chữ n thường, mà trong cái Ngă với một chữ N hoa.
.
Tốt hơn, người ta nên nói thật rằng họ tin vào Àtman hay Ngă, hoặc người ta có thể nói ngay rằng Phật hoàn toàn sai lầm khi phủ nhận hiện hữu của một cái Ngă. Nhưng chắc chắn không ai nên đưa vào trong đạo Phật một ư tưởng mà Phật không bao giờ chấp nhận, như chúng ta có thể thấy từ những nguyên bản Pàli c̣n lại.
.
Những tôn giáo tin có Thượng đế và linh hồn không giấu diếm hai khái niệm ấy, trái lại c̣n tuyên bố chúng ra, lặp đi lặp lại nhiều lần bằng những từ ngữ hùng hồn nhất. Nếu quả t́nh Phật cũng chấp nhận hai ư tưởng ấy, hai ư tưởng tối quan trọng trong mọi tôn giáo, th́ chắc chắn Ngài đă công khai tuyên bố chúng như Ngài đă tuyên bố những điều khác, chứ không để cho chúng bị ẩn khuất để chỉ được khám phá ra 25 thế kỷ sau khi Ngài mất.
.
Người ta đâm ra nóng nảy khi nghĩ rằng qua giáo lư Vô ngă của Phật, cái Tôi mà họ tưởng tượng ḿnh có, sẽ bị phá hủy. Đức Phật không phải là không biết đến điều này.
.
Một hôm, một vị Tỳ kheo hỏi Ngài: "Bạch đức Thế Tôn, có khi nào người ta bị dày ṿ bối rối v́ không t́m thấy được trong ḿnh một cái ǵ trường cửu?"
Đức Phật trả lời:
- Quả có như vậy, này Tỳ kheo. Khi một người có ư nghĩ "Vũ trụ là Àtman, sau khi chết ta sẽ là cái ấy, trường cửu, c̣n măi, kéo dài, bất biến, ta sẽ tồn tại như thế cho đến vô cùng", mà được nghe Như Lai hay một đệ tử của Như Lai giảng lư thuyết đưa đến sự phá hủy hoàn toàn mọi quan điểm tư duy... đưa đến sự dập tắt khát ái, đưa đến giải thoát, chấm dứt, Niết-bàn; người ấy sẽ nghĩ: "Thế là ta sẽ trở thành hư vô, ta sẽ bị hủy diệt, ta sẽ không c̣n nữa." Do vậy nó rên rỉ, lo lắng, đấm ngực than khóc, và đâm ra hoảng hốt. Như thế, này Tỳ kheo, quả có trường hợp người ta bị dày ṿ khi không t́m thấy được trong nó một cái ǵ trường cửu [11].
.
Ở một đoạn khác, đức Phật dạy: Hỏi các Tỳ kheo, ư nghĩ "ta sẽ không c̣n tồn tại, không có ǵ nữa" làm cho những người ngu sợ hăi."[12]
Những người muốn t́m một cái "Ngă" trong Phật giáo lư luận như sau: Quả thật đức Phật đă phân tích con người ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức (Ngũ uẩn), và bảo rằng không có ǵ trong những thứ ấy là Ngă. Nhưng Ngài không bảo tuyệt đối không có Ngă, nơi con người hay nơi nào khác ngoài năm uẩn.
Lập trường này không đứng vững được v́ hai lẽ:
.
Lẽ thứ nhất là theo giáo lư Phật, con người chỉ là năm uẩn kết hợp không là ǵ khác. Không có chỗ nào Phật bảo c̣n có cái ǵ khác ở trong con người, ngoài năm uẩn.
.
Lẽ thứ hai là nhiều lần Phật đă bác bỏ, bằng những lời lẽ minh bạch, hiện hữu của Àtman, linh hồn hay Ngă trong hay ngoài con người, hay bất cứ ở đâu trong vũ trụ. Đây là vài ví dụ:
.
Trong kinh Pháp cú (Dhammapada) có ba bài kệ vô cùng quan trọng và cốt yếu trong giáo lư Phật : bài 5, 6, 7 chương 20 (hay những câu thơ số 277, 278, 279).
Hai câu thơ đầu nói:
"Tất cả hành là vô thường" (sabbe samkhàrà aniccà) và
"Tất cả hành là khổ" (sabbe samkhàrà dukkhà).
[hành hay hữu vi, là những ǵ có sinh, trú và diệt; được kết hợp do các điều kiện - Dịch giả]
.
Câu thứ ba là:
"Tất cả pháp vô ngă" (sabbe dhammà anattà)[13].
.
Cần chú ư đặc biệt ở đây rằng trong hai câu đầu, chữ samkhàrà - "những sự vật có điều kiện" - đă được dùng. Nhưng trong câu thứ ba thay v́ chữ samkhàra, chữ dhammà đă được dùng. V́ sao câu thơ thứ ba đă không dùng chữ hành, samkhàrà, "sự vật có điều kiện", như hai câu trước, mà lại dùng danh từ pháp, dhammà thay vào? Chính đấy là điểm quan trọng nhất của vấn đề.
.
Danh từ hành, samkhàra[14] ám chỉ Ngũ uẩn, mọi sự vật và trạng thái bị giới hạn, phụ thuộc lẫn nhau, tương đối, mọi "pháp" vật lư cũng như tâm lư (sắc pháp và tâm pháp). Nếu câu thơ thứ ba nói: "Mọi hành (sự vật bị giới hạn) là vô ngă" th́ người ta có thể nghĩ sự vật bị giới hạn là vô ngă, tuy nhiên có thể có một cái Ngă ở ngoài những sự vật bị giới hạn đó, ở ngoài Ngũ uẩn. Chính để tránh sự hiểu lầm mà danh từ pháp (dhammà) đă được dùng trong câu thơ thứ ba.
.
Danh từ pháp có phạm vi rộng lớn hơn hành rất nhiều. Không có danh từ nào trong thuật ngữ Phật học lại có phạm vi rộng hơn chữ pháp. Nó bao gồm không những những sự vật và trạng thái có điều kiện, mà c̣n cả cái vô điều kiện, cái tuyệt đối, Niết-bàn; không có ǵ ở trong hay ở ngoài vũ trụ, tốt hay xấu, hữu vi (có điều kiện) hay vô vi (không điều kiện), tương đối hay tuyệt đối..., mà không được bao gồm trong danh từ này. Bởi vậy, thật quá rơ ràng, theo câu "tất cả pháp vô ngă" th́ không có Ngă, không có linh hồn, không những chỉ ở trong Ngũ uẩn, mà c̣n bất cứ ở đâu ngoài ngũ uẩn hay tách biệt với ngũ uẩn[15].
.
Theo giáo lư nguyên thủy, điều này có nghĩa rằng không có ngă ở trong con người (puggala) hay trong các pháp. Triết lư đại thừa cũng có một lập trường y hệt, không có một dị biệt nào về điểm đó, nhấn mạnh trên sự vô ngă của các pháp cũng như vô ngă của con người (pháp vô ngă, dhammanairàtmya và nhân vô ngă, pudgalanairàtmya).
.
Trong kinh Xà dụ Alagadddùpamasutta (Trung bộ I), Phật dạy môn đệ: "Hỏi các Tỳ kheo, các ông có thể bám lấy một ngă luận (thuyết về ngă) nếu điều ấy không phát sinh sầu, bi khổ, ưu, năo. Nhưng này các Tỳ kheo, các ông có thấy một ngă luận nào như thế hay không, một ngă luận mà khi chấp nhận nó, sẽ không phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, năo?
- Bạch đức Thế Tôn, nhất định là không.
- Chính thế, hỏi các Tỳ kheo, Như Lai cũng vậy. Này các Tỳ kheo, Như Lai không thấy một ngă luận nào mà nếu chấp nhận, sẽ không phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, năo."[16]
.
Nếu Phật đă chấp nhận một ngă luận nào, th́ chắc chắn ngài đă giảng ra đây, v́ ngài bảo các Tỳ kheo hăy chấp nhận một ngă luận nếu luận thuyết đó không phát sinh đau khổ. Nhưng theo ngài, không có một thuyết nào như thế, và bất cứ một ngă luận nào, dù tinh tế và cao siêu đến đâu cũng chỉ là giả danh và tưởng tượng, sinh ra mọi vấn đề rắc rối, kéo theo những sầu, bi, khổ, ưu năo.
.
Tiếp theo, cũng trong kinh ấy Phật dạy:
"Hỏi các Tỳ kheo, khi mà Ngă hay bất cứ cái ǵ thuộc về Ngă không thực có, th́ quan điểm tư duy này: "Vũ trụ là Ngă, ta sẽ là Ngă sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn, bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian", quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?"[17]
.
Ở đây Phật nói rơ rằng một Àtman, hay linh hồn, hay Ngă, th́ không thể t́m thấy đâu trong thực tại, và thật điên rồ để tin tưởng rằng có một chuyện như thế.
Những người t́m kiếm một cái Ngă trong giáo lư Phật trích ra một ít ví dụ mà trước hết họ dịch sai, rồi giải thích một cách lầm lẫn. Một trong những ví dụ ấy là câu danh tiếng attà hi attano nàtho trong kinh Pháp cú (XII, 4 hay câu thơ 160), đă được dịch là "Ta là chúa tể của ta", và được giải thích rằng nó có nghĩa cái Ngă lớn là chúa tể của cái ngă nhỏ.
.
Trước hết, lối dịch ấy không đúng. Attà đây không có nghĩa là ngă trong nghĩa linh hồn. Trong tiếng Pàli, danh từ attà thường được dùng như một đại danh từ, trừ số ít trường hợp được dùng theo nghĩa đặc biệt triết học để chỉ thuyết linh hồn như đă thấy ở trên.

Theo cách dùng thông thường, như trong chương XII của Pháp cú, từ đấy câu trên được trích, và trong nhiều nơi khác, attà được dùng như một đại danh từ hay đại danh từ bất định có nghĩa "chính tôi", "chính anh", "chính nó", "chính ta", "chính người ta" v.v..[18]
Kế đến, chữ nàtho không có nghĩa là "chúa tể", mà là "nơi nương tựa", "trú ẩn, giúp đỡû, che chở" [19]. Bởi thế Attà hi attano thật sự có nghĩa "Ta là chỗ nương của chính ta". Nó không dính dáng ǵ đến một cái ngă hay linh hồn siêu h́nh nào cả. Nó chỉ có nghĩa bạn phải nương cậy vào chính bạn chứ đừng ỷ lại vào kẻ khác.
.
Một ví dụ khác về sự cố đưa ư tưởng về ngă vào giáo lư Phật là câu danh tiếng Attad́pà viharatha, attasarana anannasaranà được tách khỏi mạch văn kinh Đại Bát Niết Bàn[20]. Câu này dịch sát ư có nghĩa: "Hăy là ḥn đảo cho chính ngươi, là nơi trú ẩn cho chính ngươi, và đừng xem ai khác là nơi nương cậy"[21]. Những người muốn t́m ngă trong Phật giáo đă giải thích từ ngữ attad́pà và attasaranà là "lấy ngă làm ngọn đèn", "lấy ngă làm nơi nương tựa"[22].
.
Ta không hiểu trọn ư nghĩa lời Phật khuyên A-nan (Ànanda) nếu không xét đến bối cảnh và mạch văn trong đó những lời này được thốt ra.

Last edited by CatBui; 11-26-2018 at 09:54 PM.
Reply With Quote
  #3 (permalink)  
Old 11-26-2018, 09:55 PM
CatBui's Avatar
CatBui CatBui is offline
Senior Member
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 107
Lúc ấy đức Phật đang nghỉ tại một khu làng gọi là Behuva, ba tháng trước khi Ngài mất, Bát Niết-bàn (parinirvàna). Bấy giờ Ngài đă 80 tuổi, đang lâm bệnh nặng. Nhưng Ngài nghĩ không nên chết mà không từ giă những môn đệ vốn gần gũi yêu mến Ngài. Bởi thế, một cách can đảm, cả quyết, Ngài chịu đựng tất cả đau đớn, thắng lướt cơn bệnh, và b́nh phục. Nhưng sức khỏe Ngài c̣n kém. Sau khi b́nh phục, một ngày kia Ngài ngồi trong bóng mát ở bên ngoài chỗ Ngài lưu trú. A-nan, vị thị giả tận tụy nhất của Phật, tiến đến đức Đạo sư quư mến của ḿnh, ngồi bên cạnh đức Thế Tôn và bạch:
.
"Bạch đức Thế Tôn, con đă săn sóc sức khỏe đức Thế Tôn, con đă hầu hạ Ngài trong khi Ngài lâm bệnh. Nhưng khi thấy bệnh t́nh của Ngài, bầu trời đối với con trở nên mờ mịt, và các giác quan của con không c̣n sáng suốt nữa. Tuy nhiên con c̣n một điều an ủi nhỏ này: con nghĩ đức Thế Tôn sẽ không nhập Niết-bàn mà không để lại những lời di giáo đề cập đến đoàn thể Tăng già."
.
Khi ấy đức Phật đầy từ bi và nhân ái, đă khoan ḥa nói với người thị giả tận tụy thân yêu: "A Nan, đoàn thể Tăng già c̣n chờ đợi ǵ nơi ta nữa? Ta đă nói pháp (chân lư) không phân biệt cao thấp. Về phương diện chân lư, Như Lai không có ǵ như nắm tay khép chặt của một ông thầy (àcariyamutthi). Này A-nan, nếu người nào có ư nghĩ muốn lănh đạo Tăng già, Tăng già phải tùy thuộc vào họ, th́ dĩ nhiên họ sẽ đặt ra những chỉ dẫn. Nhưng Như Lai không có ư nghĩ ấy. Vậy th́ sao Như Lai phải lưu lại những lời chỉ dẫn liên hệ đến tổ chức Tăng già? Nay ta đă già, A-nan, đă 80 tuổi. Như một chiếc xe cũ cần phải sửa chữa mới chạy được, cũng thế, thân xác của Như Lai bây giờ cũng chỉ tiếp tục điều hành nhờ sửa chữa. Bởi thế, này A-nan, hăy tự làm ḥn đảo cho chính ngươi, hăy lấy chính ngươi làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác; hăy lấy Pháp làm ḥn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không ai khác có thể làm nơi nương tựa cho ngươi [23].
.
Những ǵ đức Phật muốn truyền dạy A-nan thật quá rơ ràng. A-nan đang buồn sầu đau đớn. Ông nghĩ rằng ḿnh sẽ hoàn toàn cô độc, không người giúp đỡ, không nơi nương tựa, không người hướng dẫn, sau khi đức Đạo sư vĩ đại qua đời. Bởi thế đức Phật ban cho ông những lời an ủi, khuyên ông can đảm, tin tưởng, dạy rằng nên nương vào chính đạo và nương vào "Pháp" Ngài đă truyền, chứ đừng nương vào ai khác, vào cái ǵ khác. Ở đây vấn đề về một Àtman siêu h́nh, hay ngă, là hoàn toàn không nhằm chỗ.
.
Sau đó, đức Phật giảng giải cho A-nan làm thế nào để có thể là ḥn đảo hay chỗ trú ẩn cho chính ḿnh: ấy là nhờ sự đào luyện tâm chú ư quán sát thân, cảm thọ, tâm và các pháp (4 pháp quán, xem chương kế tiếp về Quán tưởng)[24]. Ở đây cũng thế, không có một chữ nào liên hệ đến ngă hay linh hồn.
.
Một tài liệu khác cũng rất thường được trích dẫn bởi những người muốn t́m Ngă trong giáo lư Phật. Một hôm đức Phật ngồi dưới bóng cây trong một khu rừng trên đường đi từ Benarès (Ba la nại) đến Uruvelà. Vào ngày ấy có 30 hoàng tử trẻ tuổi đang đi cắm trại cùng với những người vợ trẻ của họ trong cùng khu rừng ấy. Một ông hoàng chưa vợ mang theo một gái giang hồ. Trong khi những người khác đang vui đùa, th́ cô ta trộm một vài đồ vật quư giá và trốn mất. Trong khi đi t́m cô ấy trong cánh rừng, trông thấy Phật đang ngồi dưới gốc cây họ hỏi Ngài có thấy một người đàn bà đi qua không. Ngài hỏi có chuyện ǵ, và sau khi nghe giải thích đức Phật hỏi họ: "Các ngươi nghĩ sao, hỏi những người trẻ tuổi? Điều ǵ tốt hơn cho các ngươi: đi t́m một người đàn bà, hay đi t́m chính ḿnh?" [25]
.
Đây cũng lại là một câu hỏi rất giản dị và tự nhiên, không có lư do ǵ để đưa vào đấy những ư tưởng xa xôi về Ngă hay Linh hồn. Họ trả lời tốt hơn nên t́m kiếm chính ḿnh. Phật liền bảo họ ngồi xuống và giảng pháp cho họ nghe. Theo bài pháp mà Phật đă giảng cho họ c̣n ghi lại trong kinh điển nguyên thủy, không có một chữ nào nói về ngă.
.
Người ta đă viết nhiều về đề tài "sự im lặng của Phật", khi một du sĩ tên Vacchagotta hỏi Ngài có ngă hay không. Câu chuyện như sau:
Vacchagotta đi đến đức Phật và thưa hỏi:
- Thưa Ngài Cồ-đàm, có ngă hay không?
Đức Phật lặng im.
- Thế th́ thưa Ngài, không có ngă sao?
Đức Phật lại im lặng.
Vacchagotta đứng dậy bỏ đi.
Sau khi du sĩ (parivràjaka) rời khỏi, A-nan hỏi Phật v́ sao Ngài đă không trả lời câu hỏi của Vacchagotta. Phật giải thích thái độ của Ngài như sau:
- Này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Có ngă hay không?" , nếu trả lời: "Có" là ta đă đứng về phe các sa môn, Bà la môn chủ trương thuyết trường tồn (sassatavàda). Và này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Không có ngă hay sao?" nếu trả lời "Không" là ta đă đứng về phe các sa môn Bà la môn chủ trương thuyết đoạn diệt (uccheda vàda)[26].
.
Lại nữa, này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Có ngă không?", mà ta trả lời: "Có" th́ như thế có phù hợp với sự thấy biết của ta rằng vạn pháp là vô ngă hay không?"[27]
- Bạch Thế Tôn, hẳn là không.
- Lại nữa, này A-nan, khi du sĩ ấy hỏi: "Không có ngă hay sao?" mà ta trả lời: "Không", th́ sẽ làm cho Vacchagotta đă hoang mang lại càng hoang mang thêm nữa [28]. V́ y sẽ nghĩ: "Trước kia quả thật ta có ngă, nhưng bây giờ ta không có nữa."[29]
.
Bây giờ hẳn là ta phải hiểu rơ v́ sao Phật im lặng. Nhưng ta sẽ c̣n hiểu rơ hơn nếu xét toàn thể bối cảnh và cách Phật xử trí về những câu hỏi và người hỏi - điều mà những người bàn đến vấn đề ấy hoàn toàn bỏ qua.
.
Phật không phải như một máy tính tuôn ra đáp số cho bất kỳ câu hỏi nào, do bất cứ ai đặt ra, không cần suy xét. Ngài là một bậc Đạo sư thực tiễn, đầy từ bi và trí tuệ. Ngài không trả lời câu hỏi để phô bày kiến thức và thông minh của ḿnh, mà để giúp người hỏi trên đường đạt đến thực chứng. Khi nói với người nào Ngài luôn luôn quan tâm đến tŕnh độ phát triển của họ, khuynh hướng của họ, cấu tạo tâm thức của họ, tính t́nh họ và khả năng họ để lĩnh hội vấn đề [30].
.
Theo Phật, có bốn cách đáp câu hỏi:
1. Có khi nên trả lời thẳng câu hỏi.
2. Có câu hỏi cần trả lời bằng cách phân tích.
3. Có khi nên trả lời bằng cách hỏi ngược lại.
4. Và cuối cùng, có những câu hỏi nên dẹp, không đáp[31].
.
Có thể có nhiều cách dẹp một vấn đề. Một cách là bảo vấn đề ấy không có giải đáp, đó là cách Phật đă có lần xử dụng với du sĩ Vacchagotta ấy, khi ông đặt những câu hỏi nổi tiếng về vũ trụ trường tồn hay không v.v..[32]. Cũng với cách ấy, Ngài đă trả lời cho Màlunkyaputta và những người khác. Nhưng Ngài không thể làm vậy về vấn đề có ngă hay không, v́ Ngài đă luôn luôn thảo luận và giảng giải nó. Ngài không thể nói: "Có ngă" v́ nó trái ngược với kiến giải của Ngài rằng tất cả các pháp vô ngă. Và Ngài cũng không muốn nói không có linh hồn, v́ như thế là vô cớ làm cho anh chàng tội nghiệp Vacchagotta đă hoang mang càng hoang mang thêm, như chính anh ta đă công nhận[33]. Anh ta chưa đủ căn cơ để hiểu về vô ngă. V́ vậy trong trường hợp này, dẹp câu hỏi sang một bên bằng cách im lặng, là thái độ khôn ngoan nhất.
Reply With Quote
  #4 (permalink)  
Old 11-26-2018, 09:56 PM
CatBui's Avatar
CatBui CatBui is offline
Senior Member
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 107
Ta cũng đừng quên rằng Phật đă biết rơ Vacchagotta từ lâu. Đây không phải dịp đầu tiên mà người du sĩ thắc mắc ấy đến thăm Phật. Đấng Đạo sư đầy trí tuệ và từ bi đă lưu tâm chú ư nhiều đến con người t́m kiếm hoang mang này. Có nhiều đoạn nói đến du sĩ Vacchagotta trong các bản kinh Pàli, ông đă từng t́m đến Phật và các môn đệ Ngài khá nhiều lần, lặp đi lặp lại nhiều lần cùng những câu hỏi ấy, rơ ràng ông rất băn khoăn, hầu như bị vấn đề kia ám ảnh[34]. Sự im lặng của Phật có lẽ đă có hiệu quả đối với Vacchagotta hơn bất cứ một sự trả lời hay thảo luận hùng hồn nào[35].
.
Một vài người xem ngă có nghĩa là cái ǵ thường được gọi là "tâm" hay "thức". Nhưng Phật dạy rằng chẳng thà người ta nên xem thân xác vật lư của ḿnh là "ngă" c̣n hơn xem tâm, ư hay thức (citta, mano,vinnàna) là ngă v́ tâm, ư hay thức th́ biến đổi không ngừng ngày cũng như đêm, thay đổi c̣n mau chóng hơn cả thể xác (kàya)[36].
.
Chính cảm giác mơ hồ "có tôi" đă phát sinh ư tưởng về ngă, vốn không có cái ǵ tương đương trong thực tại: và thấy được chân lư ấy tức là thực chứng Niết-bàn, một điều không phải dễ dàng cho lắm. Trong kinh Tương ưng bộ Samyuttanikàya[37], có một cuộc đàm thoại khá làm sáng tỏ vấn đề về điểm này giữa thầy Tỳ kheo tên Khemaka và một nhóm Tỳ kheo. Những vị này hỏi Khemaka có thấy trong Ngũ uẩn một cái "ngă" nào hay bất cứ ǵ thuộc về "ngă" không. Khemaka trả lời "không". Đoạn những Tỳ kheo bảo nếu thế th́ ông ta phải là một vị La hán đă thoát khỏi mọi ô nhiễm. Nhưng Khemaka thú thật rằng mặc dù ông không t́m thấy trong Ngũ uẩn một cái ngă nào hay bất cứ ǵ thuộc về ngă, "tôi vẫn không phải là một La hán (Arahant) đă thoát khỏi mọi ô nhiễm bất tịnh. Này chư hiền, đối với Ngũ thủ uẩn, tôi có cảm giác rằng "có tôi", nhưng không thấy rơ "cái này là cái tôi". Rồi Khemaka giải thích rằng cái ông ta gọi là "tôi" không phải sắc, không phải thọ, không phải tưởng, không phải hành, cũng không phải thức, cũng không phải bất cứ ǵ ngoài chúng. Nhưng ông vẫn có một cảm giác "có tôi" đối với 5 thủ uẩn, mặc dù ông không thể thấy rơ "Đây là cái tôi."[38]
.
Khemaka nói cũng giống như mùi thơm của một bông hoa: nó không phải là mùi thơm của các cánh hoa, không phải của màu hoa, không phải của đài hoa, nhưng là mùi thơm của hoa. Ông c̣n giải thích thêm rằng ngay cả một người đă đạt đến những giai đoạn đầu tiên của sự thực chứng vẫn c̣n có cảm giác "có tôi" ấy. Nhưng về sau, khi tiến xa hơn, cảm giác ấy hoàn toàn biến mất, hệt như mùi hóa học của một chiếc áo mới giặt sẽ bay mất một thời gian sau khi ra khỏi chiếc hộp đựng nó.
.
Cuộc thảo luận này ích lợi và làm sáng tỏ vấn đề đối với họ đến nỗi sau đó, như bản kinh ghi lại, tất cả mọi người, kể cả Khemaka, đều chứng quả A-la-hán, giải thoát mọi ô nhiễm, và thế là cuối cùng họ đă đánh tan được cảm giác "có tôi ".
.
Theo giáo lư Phật, chấp rằng "tôi không có ngă" (tức là thuyết đoạn diệt) cũng sai lầm như chấp rằng "tôi có ngă" (thuyết trường tồn), bởi v́ cả hai quan niệm đều trói buộc, đều phát sinh từ ư tưởng sai lầm "có tôi". Thái độ đúng đối với vấn đề vô ngă là không nắm giữ một quan điểm hay "kiến" nào, mà cố nh́n sự vật một cách khách quan, nh́n chúng như sự thật, không có những dự phóng của tâm thức. Phải thấy rằng cái mà ta gọi là "tôi" hay "ngă" chỉ là một kết hợp của các uẩn vật lư và tâm linh, hoạt động tương quan mật thiết lẫn nhau trong một ḍng biến chuyển từng sát na, chịu chi phối của luật nhân quả, và trong toàn thể hiện hữu, không có ǵ là trường cửu, vĩnh viễn bất biến.
.
Ở đây một câu hỏi tự nhiên đặt ra: "Nếu không có ngă, th́ ai chịu những hậu quả của nghiệp (hành động)?" Không ai có thể giải đáp câu hỏi này hơn Phật. Khi một Tỳ kheo hỏi Ngài câu đó, Phật dạy: "Hỏi các Tỳ kheo, Ta đă dạy các ông thấy rơ tính duyên khởi trong mọi sự vật."[39]
.
Giáo lư Phật về Vô ngă không nên được xem như tiêu cực hay hủy diệt. Cũng như Niết-bàn, đấy là Chân lư, Thực tại, và Thực tại th́ không bao giờ là tiêu cực. Chính niềm tin sai lầm vào một cái ngă tưởng tượng không có thực mới là tiêu cực. Giáo lư Vô ngă xua tan bóng tối của tà tín và phát sinh ánh sáng trí tuệ. Nó không tiêu cực, như Vô Trước (Asanga) đă nói rất đúng: "Có một thực tại là Vô ngă" (nairàtmyàstità) [40].
Ghi chú:
[1] Mhvg. (Alutgama, 1922), p.4 ff.; MI (PTS), p.167 ff.
[2] Sẽ được giải thích sau này.
[3] M III (PTS), p.63, S II (PTS), pp. 28, 95 etc. Theo h́nh thức ngày nay: khi A có, th́ B có; khi A sinh, th́ B sinh; khi A không có, th́ B không có; khi A diệt, th́ B diệt.
[4] Vism (PTS), p.517
[5] Xem Chương Ba.
[6] V́ giới hạn sách không cho phép bàn đến lư thuyết quan trọng nhất này trong Phật giáo. Một khảo luận phê phán và tỷ giáo chi tiết đề tài ấy sẽ được t́m thấy trong một tác phẩm sắp xuất bản về Triết học Phật giáo do cùng một biên giả.
[7] Sàratha II (PTS), p.77
[8] Mh. Sùtràlankàra, XVIII 92
[9] H. Von Glasenapp, "Vedanta và Buddhism" vấn đề vô ngă trong The Middle Way", Feb. 1957, p.154
[10] Xem các sách của bà Rhys Davids: Gotama the Man, Sàkya on Buddhist Origins, A Manual of Buddhism, What was the Original Buddhism, v.v..
[11] M I (PTS), pp.136-137
[12] Được trích trong MA II (PTS), p.112
[13] Chữ Dhammà, pháp, ở đây được F.L. Woodward trong tác phẩm The Buddha Path of Virtue dịch là "all states compounded" - tất cả những ǵ được kết hợp- là hoàn toàn sai, từ ngữ này ám chỉ hành.
[14] Samkhàra trong năm uẩn có nghĩa "hành" hay "những hoạt động tâm lư" phát sinh nghiệp quả. Nhưng ở đây có nó nghĩa mọi sự vật bị giới hạn hay bị kết hợp, gồm cả năm uẩn. Danh từ Samkhàra có nghĩa khác nhau tùy trường hợp.
[15] Cf. Sabbe Samkhàra aniccà "mọi sự vật giới hạn là vô thường" Sabbe dhammà anattà "mọi pháp đều là vô ngă" M I (PTS), p.228; S II, pp., 132-133.
[16] MI (PTS), p.137
[17] Ibid, p.138. Nói đến đoạn này, S. Radhakrishnan (Indian Philosophy, Vol. I, London, 1940, p.485) viết "chính quan niệm sai lầm về sự tương tục vĩnh viễn của tiểu ngă mới bị đức Phật bác bỏ". Ta không thể đồng ư với nhận xét này. Trái lại ở đây đức Phật bài bác cả Đại ngă hay linh hồn. Như ta đă thấy vừa rồi, trong một đoạn trước, đức Phật không chấp nhận một cái ngă nào, dù lớn hay nhỏ. Theo quan niệm của Ngài, mọi lư thuyết về Atman đều là sai lầm, là bóng dáng của tâm thức.
[18] Trong bài "Vedanta and Buddhism" (The Middle Way, February, 1957), H. Von Glasenapp nói điểm này rất rơ.
[19] Và Anàtha là không nơi nương tựa, Lokanàtha là chỗ nương của thế gian, chứ không phải là chúa tể thế gian.
[20] D II (Colombo, 1929), p.62
[21] Rhys Davids (D́gha-nikàya bản dịch II, p.108) dịch: "Be ye lamps unto yourselves. Be ye a refuge to yourselves. Betake yourselves to no external refuge!" -- Hăy là ngọn đèn cho chính ngươi, chỗ nương cho chính ngươi, chớ nương tựa vào ai khác.
[22] D́pa đây không có nghĩa là đèn, mà nhất định có nghĩa "đảo". D́gha-nikàyà (Trường Bộ kinh sớ giải) (DA Colombo ed., p380) bàn về chữ D́pa ở đây nói:
"Mahàsamuddagatam d́pam viya attànam d́pam patittam katvà viharatha". "Hăy làm một ḥn đảo cho chính người, một nơi nương cậy (nghỉ ngơi) như một ḥn đảo giữa bể khơi". Samsàra, sinh tử, thường được ví như một đại dương, Samsàrasàgara, và cái ǵ cần thiết để đựơc an ổn giữa đại dương là một ḥn đảo, đất liền chứ không phải một ngọn đèn.
[23] D II (Colombo, 1929), pp. 61-62 chỉ có câu cuối được dịch nguyên văn. Phần c̣n lại của câu chuyện được kể vắn tắt theo kinh Đại Bát Niết Bàn.
[24] Ibid p.62. Về Satipatthàna xem chương VIII về Thiền định.
[25] Mhvg (Alutgama, 1929), pp. 21-22
[26] Vào một dịp khác, đức Phật đă bảo chính Vacchagotta này rằng đức Như Lai không có lư thuyết nào hết, bởi v́ Ngài đă thấy rơ bản chất của sự vật [M I (PTS), p. 486]. Ở đây cũng thế, Ngài không muốn liên kết với bất cứ lư thuyết gia nào.
[27] Sabbe dhammà anattà. Chư pháp vô ngă. Đúng y ḍng đầu kinh Pháp cú, XX, 7, đă dẫn ở trên. Woodward đă hoàn toàn sai khi dịch những chữ này là "mọi sự đều vô thường" (Kindred Saying V, p.282) có lẽ v́ sơ ư. Những lỗi này rất hệ trọng. Có lẽ đây là một trong những lư do v́ sao người ta đă có quá nhiều cuộc luận đàm vô ích về cái im lặng của đức Phật. Chữ quan trọng nhất trong câu này, chữ anatta "vô ngă", đă được dịch là "vô thường". Những bản dịch kinh Pàli ra Anh ngữ thường có những lỗi lầm lớn nhỏ thuộc loại này khi th́ v́ sơ ư và bất cẩn, khi th́ v́ thiếu chuyên môn trong ngôn ngữ của nguyên bản. Dù sao, thiết tưởng cũng không vô ích khi nhắc lại ở đây- mà vẫn không quên ơn những bậc tiền phong trong địa hạt này- rằng, chính những lỗi lầm ấy đă gây ra nhiều tư tưởng sai lầm về Phật giáo trong những người không đọc được nguyên bản. Bởi thế ta cũng lấy làm mừng khi biết rằng cô I. B. Horner, thư kư của hội Pàli Text, đă dự định xuất bản lại những bản dịch mới có sửa chữa.
[28] Xem Ghi chú số 33 bên dưới.
[29] S IV (PTS), pp. 400- 401
[30] Trí này của Phật được gọi là Indriyaparopariyattanàna, biết căn tánh chúng sinh. M I (PTS), p.70, Vibh (PTS), p.340.
[31] A (Colombo, 1929) p.216
[32] Ví dụ: S IV (PTS), pp. 393-395, M I (PTS), p.484
[33] Quả vậy, vào một dịp khác trước đấy, khi Phật giải thích vấn đề sâu xa vi tế - Vấn đề vị La-hán chết rồi sẽ ra sao - Vacchagotta nói: "Thưa Ngài Cồ-đàm, ở đây tôi bị rơi vào ngu tối, tôi hoang mang. Những ǵ mà tôi ít tin tưởng lúc bắt đầu câu chuyện với Ngài, những ǵ đó bây giờ cũng đă tan biến mất." (M I (PTS) p.489). V́ vậy mà đức Phật không muốn làm cho anh ta hoang mang thêm.
[34] Ví dụ: xem S III (PTS), pp. 257-263, IV, pp.391 f., 395 f., 398f., 400; MI, pp. 481 f., 483 f., 489 f., A V p. 193.
[35] Bởi v́ ta thấy rằng sau đó, Vacchagotta lại đến thăm đức Phật, nhưng lần này anh chàng không hỏi ǵ như thường lệ, mà lại nói: "Đă lâu nay tôi mới lại đến thăm Ngài. Tôi mong Ngài Cồ Đàm sẽ giảng cho tôi vắn tắt về Thiện và Ác". Phật dạy rằng Ngài sẽ giảng cho ông về Thiện và Ác, vắn tắt cũng như chi tiết, và Ngài đă làm thế. Cuối cùng Vacchagotta trở thành một đệ tử của đức Phật, và theo giáo lư Ngài, ông đắc quả A-la-hán, thực chứng Chân lư, Niết-bàn, và khi ấy những vấn đề ngă và các vấn đề khác không c̣n ám ảnh ông. M I (PTS), pp. 489-ff.
[36] S II (PTS), p.94. Vài người cho rằng "Như Lai Tạng" hay "Tạng thức" trong Đại thừa giáo là một cái ǵ tương tự "Ngă". Nhưng kinh Lăng già nói hẳn rằng đấy không phải là Ngă (Lanka, p.78-79).
[37] S III (PTS) pp. 126 ff.
[38] Điều này cũng chính là điều mà ngày nay phần nhiều người ta thường nghĩ về Ngă.
[39] M III (PTS) p. 19; S III, p. 103.
[40] Abhisamuc, p.31.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 03:51 AM.
[email protected]
A vBSkinworks Design