Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Tủ sách Huyền Bí, Tâm Linh

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 11-01-2007, 12:28 PM
BinhMinh's Avatar
BinhMinh BinhMinh is offline
Member
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 45
Khái niệm về Nho Giáo, Phật Giáo và Lăo Giáo ở VN

KHÁI LƯỢC VỀ NHO GIÁO VIỆT NAM

Nho giáo vào Việt Nam trong thời Bắc thuộc, qua ba thời kỳ như sau:
– 111 tcn-39: các đời Tây Hán và Đông Hán .
– 43-544: các đời Đông Hán, Tam Quốc, Tấn, Nam Bắc Triều .
– 603-939: các đời Tùy, Đường, Ngũ Quư.

Mười thế kỷ đầu công nguyên, Nho học Việt Nam chưa thịnh, chưa h́nh thành tầng lớp Nho sĩ nắm vai tṛ quan trọng trong xă hội. Thành phần trí thức ưu tú bấy giờ là những nhà tu, đặc biệt là các cao tăng. Thông qua việc học chữ Nho để đọc kinh Phật, các sư tiếp thu luôn Nho học. Thế nên, khi đất nước vừa độc lập, kể từ Ngô (939-965), Đinh (968-979), Lê (980-1009), trí thức tài đức ra giúp triều đ́nh là các đạo sĩ và thiền sư . Một số thiền sư có công dạy các tục gia đệ tử trở thành nhân tài giúp nước, như sư Khánh Vân và sư Vạn Hạnh lần lượt là thầy dạy Lư Công Uẩn; sư Trí ở núi Cao Dă là thầy của Thái úy Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Ḥa Nghĩa...

Nho học Việt Nam phát triển từ thế kỷ XI, sang đời Nguyễn th́ suy . Nho học mở đường xuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử;[1] nhờ đó thúc đẩy văn học phát triển, văn hóa được nâng cao . Không ít tiên Nho Việt Nam là tác gia, đi sâu vào triết Nho . Nhưng chiến tranh liên miên, sách vở bị cướp, đốt mất quá nhiều, tư tưởng học thuật của tiên Nho Việt Nam hầu như không c̣n lưu lại ǵ cho đời sau nghiên cứu . Nên nói đến Nho giáo Việt Nam, cái nổi bật h́nh như không phải là tư tưởng triết học, mà lại là văn chương, khoa cử, và vai tṛ chính trị của sĩ phu trong lịch sử.

1 . NHO HỌC VIỆT NAM QUA CÁC TRIỀU ĐẠI

a . Đời Lư (1010-1225)
Nho học mới hưng phát . Vua Lư Thánh tông cho lập Văn miếu, làm tượng thờ Chu công, Khổng tử, bảy mươi hai tiên hiền (1070).[2] Vua Lư Nhân tông mở khoa thi đầu tiên tên là Tam trường (1075), Lê Văn Thịnh đậu thủ khoa; mở Quốc tử giám (1076); lập Hàn lâm viện (1086), tuyển Mạc Hiển Tích làm hàn lâm học sĩ . [3] Danh nho triều Lư có Lư Đạo Thành, Trương Bá Ngọc, Tô Hiến Thành ...

b . Đời Trần (1225-1400)
Vua Trần Thái tông mở khoa thi Thái học sinh (1232); khoa Tam giáo (1247) và mở khoa Tam khôi (1247) tuyển trạng nguyên, bảng nhăn, thám hoa . Khoa ấy, Lê Văn Hưu đổ bảng nhăn, là sử gia Việt Nam đầu tiên, tác giả Đại Việt sử kư . Vua c̣n mở Quốc học viện (1253) giảng Tứ thư, Ngũ kinh.[4]

Đời Trần Duệ tông khoa thi Thái học sinh được đổi thành Tiến sĩ (1374).[5]
Đời Trần Nghệ tông, Lê Quư Ly soạn sách Minh đạo (1302), dịch thiên Vô dật ở kinh Thư (1394) để dạy thái tử (sau lên ngôi là Thuận tông), dịch kinh Thi dạy nội cung (1396) . Đời Thuận tông, Lê Quư Ly làm thái sư, nắm quyền phụ chính, cải cách thi cử, ấn định lương bổng của các quan dạy học ở địa phương .

Văn học đời Trần rất thịnh, nhờ khoa cử thúc đẩy . Danh nho có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn (viết Giới Hiên toàn tập), Trương Hán Siêu, Lê Lập, Phạm Sư Mạnh (viết Hiệp Thạch tập), Chu An (viết Tứ thư thuyết ước, Tiều Ẩn thi), Hàn Thuyên ...

c . Đời Hồ (1400-1407), Hậu Trần (1407-1413), Minh thuộc (1414-1427)
Lê Quư Ly thay nhà Trần, lập nên nhà Hồ . Nước loạn, quân Minh xâm lăng, cướp sách vở đưa về Kim Lăng; những ǵ không đem được th́ đốt, thiệt hại không kể xiết . Nhà Minh đưa Tống Nho vào Việt Nam.[6]

d . Đời Hậu Lê (1428-1788)
Nho học rất được chú trọng, được tôn là quốc học . Khoa cử thúc đẩy, h́nh thành tầng lớp nho sĩ trí thức đông đảo . Kinh đô có Quốc tử giám, Thái học viện . Vua Lê Thánh tông chia nước làm mười ba đạo, hầu hết các đạo ở đồng bằng đều lập trường công, ấn định quy chế thi cử . Năm 1463 có chừng 1400 người thi Hội ở Thăng Long; năm 1475 tăng lên khoảng 3000 thí sinh . Từ triều Lê, người thi đậu rất vẻ vang: có lễ xướng danh, lễ vinh quy, lễ khắc tên tiến sĩ vào bia đá ở Văn miếu .

Danh Nho đời Lê có Nguyễn Trăi, Lê Văn Linh, Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Lương Đắc Bằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Giáp Hải, Nguyễn Mậu Nghi, Phạm Công Trứ, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hăng, Phạm Đ́nh Trọng, Lê Quư Đôn, Lư Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên ...

e . Đời Tây Sơn (1788-1802)
Sau khi đánh bại quân Thanh giữa năm Kỷ dậu (1879), vua Quang Trung lập Sùng chính viện, cử La Sơn Phu tử Nguyễn Thiệp làm viện trưởng, với trọng trách chấn chỉnh lại Nho học Việt Nam . La Sơn Phu tử dịch xong các sách Tiểu học, Tứ thư và Ngũ kinh ra chữ Nôm, chưa kịp cải cách th́ vua Quang Trung mất.

f . Đời Nguyễn (1802-1945)
Nền học thuật gắn liền khoa cử ngày càng suy . Thực dân Pháp xâm chiếm đất nước . Cái học theo phương Tây khởi sự chen vào . Nền Nho học cử nghiệp cổ truyền dần dần mai một, chấm dứt năm 1915 ở miền Bắc, rồi 1918 ở miền Trung.[7]

2 . CÁC TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHO GIA VIỆT NAM
Nhà nho có danh đời nào cũng xuất hiện, tên tuổi c̣n ghi lại nhiều . Ngoài công lao kinh bang tế thế, tiên nho Việt Nam c̣n giúp vào việc giáo hóa, trứ tác thơ văn nhiều loại . Riêng về mặt triết học, cũng rất phong phú, không những phô diễn đạo lư cổ truyền Khổng-Mạnh, Tŕnh-Chu mà c̣n bày tỏ ít nhiều quan điểm riêng của người Việt, thể hiện hoặc tinh thần độc lập hoặc ư thức đối kháng với tư tưởng Trung Hoa . Tiếc thay, sách vở đă bị thất tán, tiêu hủy sau bao thế kỷ binh lửa.

Văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và T́m hiểu kho sách Hán-Nôm của Trần Văn Giáp là hai trong những tài liệu quư hiếm, kể ra được một phần nào sách vở c̣n giữ lại hay c̣n ghi nhận được, nhờ đó cũng giúp đời sau có cái nh́n khái lược về tư tưởng triết học của nhà Nho Việt Nam đời trước . Căn cứ hai tài liệu ấy, qua một số tác phẩm mang tính triết học, giáo dục của người Việt, có thể dẫn lại một ít nhan đề tiêu biểu như sau (không nói tới sách khảo cứu lịch sử, địa dư, sáng tác vănchương):
(1) Tứ thư thuyết ước, mười quyển, Chu An (?-1370) đời Trần soạn, nay không c̣n . Chu An tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, thụy Văn Trinh, tôn hiệu Khang Tiết Tiên sinh, người xóm Văn Thôn, làng Quang Liệt, huyện Thanh Tŕ (ngoại thành Hà Nội sau này) . Đậu thái học sinh, không ra làm quan, ở nhà dạy học, nổi tiếng đạo đức, rất đông học tṛ . Đời Trần Minh tông được mời ra làm quốc tử giám tư nghiệp . Đời Trần Dụ tông, dâng sớ xin chém bảy nịnh thần, Vua không trả lời, ông từ chức về ẩn ở núi Kiệt Đặc (sau là núi Phụng Hoàng, huyện Chí Linh, thuộc Hải Hưng sau này) . Tháng 12-1370, được đưa vào thờ ở Văn Miếu.

(2) Chu dịch quốc âm giải nghĩa, hai quyển, cũng gọi Chu dịch quốc âm ca [quyết], Đặng Thái Phương [hay Bàng] (1674-?),đời Hậu Lê soạn xong trước năm Quư hợi (1743) . Tác phẩm dùng thơ lục bát giải nghĩa từng hào (diễn ca); như quẻ Càn, hào sơ cửu Tiềm long vật dụng (rồng ẩn náu chớ nên dùng) diễn ca là:
Sơ cửu hào nghĩa tiềm long,
Bé c̣n ở dưới mà dùng làm chị[8]

Đặng Thái Phương người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An (xă Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh sau này) . Năm hai mươi hai tuổi thi đậu khoa Hoành từ, làm tri huyện Giáp Sơn (trấn Hải Dương), thăng hiệp trấn, rồi hiến sát sứ Thanh Hóa . Năm 1743 làm tham nghị xứ Sơn Nam.

(3) Tứ thư ngũ kinh toản yếu, mười lăm quyển, Nguyễn Huy Oánh (1713-1798) đời Hậu Lê soạn . Ông tự là Thư Hiên, hiệu Thạc Đ́nh, người làng Lai Thạch, huyện La Sơn, Nghệ Tĩnh . Đậu thám hoa (1748), làm quan đông các đại học sĩ (1765), thăng lại bộ tả thị lang (1766) làm chánh sứ sứ bộ sang cống triều Thanh, trở về thăng tước bá, rồi tước thạc lĩnh hầu, nghỉ hưu, lại được mời ra làm quan, thăng đô ngự sử.

(4) Tính lư toản yếu, hai quyển, Nguyễn Huy Oánh soạn . Quyển này và quyển trên nhằm tóm tắt các sách Tứ thư, Ngũ kinh, Tính lư, tiện lợi cho Nho sinh chuẩn bị thi cử.[9]

(5) Thánh mô hiền phạm lục, mười hai quyển, Lê Quư Đôn (1726-1784) đời Hậu Lê soạn . Ông tự Doăn Hậu, hiệu Quế Đường, quê làng Duyên Hà (Diên Hà?), huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái B́nh) . Làm quan giữ chức thị độc Ṭa Hàn lâm, sung tư nghiệp Quốc tử giám, làm phó sứ sang Trung Quốc, tước Dĩnh thành bá, rồi lần lượt giữ rất nhiều chức vụ quan trọng . Khi mất được truy tặng thượng thư Bộ Công, tước Dĩnh thành công . Tác phẩm rất nhiều . Khi soạn Thánh mô hiền phạm ông trích lục nguyên văn những lời nói của thánh hiền, xếp loại, chiathành mười hai đề mục, ghi rơ xuất xứ từng câu đă trích trong Dịch, Thi, Thư, Xuân thu Tả truyện, Lễ kư, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Gia ngữ, Hiếu kinh, Mạnh tử, Chu tử, Quốc sách, Quốc ngữ, Sử truyện, Tiên nho cách ngôn...[10]

(6) Thư kinh diễn nghĩa, ba quyển, Lê Quư Đôn soạn . Trong bài Tựa viết năm 1772, ông bày tỏ: “Tôi thường nghe, trị thiên hạ không thể không có chính sự, mà xưa nay người bàn về chính sự thường lấy sách Thượng thư làm gốc . (...) Tôi thật ngu lậu, nghiền ngẫm lâu năm, hiểu qua nghĩa lớn, mỗi khi đọc sách ấy chỉ cảm thấy ư vị dạt dào, lư thú vô cùng, chỗ nào xúc động mà phát minh th́ tùy ư chép lại, chứng dẫn các truyện kư, bàn bạc việc xưa nay, đều là muốn làm ấn chứng cho sách của thánh nhân . Hễ chỗ nào cốt yếu th́ thường thường nêura, ư muốn cho những người làm tôi sau này, trong khi xem sách và xét ḿnh, thấy điều hay điều phải th́ hăng hái phấn khởi; thấy điều xấu điều trái th́ sợ hăi e dè, để mà chăm lo công việc, giữ ǵn chức vụ, họa chăng có ích . C̣n như noi gương điều đă thành công, răn dè điều đă thất bại, giữ thịnh pḥng suy, sách này cũng có thể dùng làm sách để nhà vua có bên cạnh ḿnh mà xem luôn, dùng làm công cụ lấy đức trị dân . Đến như những lời truyện, lời chú của tiên nho, hoặc có chỗ giống nhau khác nhau và có chỗ đáng ngờ th́ đều có biện chính sơ qua...” [11]
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 11-01-2007, 12:31 PM
BinhMinh's Avatar
BinhMinh BinhMinh is offline
Member
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 45
(7) Dịch kinh phu thuyết, năm quyển, Lê Quư Đôn soạn . Trong bài Tựa, ông viết: “Sáu kinh là dạy về cách trí, thành chính, tu tề, trị b́nh, nhưng công việc về trời đất, về người, cùng là phép tắc của muôn vật, th́ chỉ kinh Dịch là đầy đủ (...) . Khổng tử lúc tuổi già mới thích học Dịch . Khi sửa dọn sáu kinh (...) chỉ riêng kinh Dịch th́ làm phần Thập dực, tức là mười phần chú giải của kinh Dịch (...), giải thích rộng răi, không quản nhiều lời . Văn chương của Khổng tử là ở đó mà lời nói về tính và đạo Trời của Khổng tử cũng là ở đó,cốt để chỉ vẽ cho thiên hạ và đời sau, tha thiết biết là nhường nào! Tôi từng trộm bàn, đạo trời đất vốn hữu thường, thế mà khi đầy khi vơi, lúc thịnh lúc suy, sự biến đổi xưa nay không cùng; ḷng yêu ghét, lúc hợp tan, t́nh của người và vật không chỉ một mối mà đều tóm cả ở trong 384 hào của 64 quẻ . Quẻ có tác dụng tùy thời của quẻ, hào có tác dụng tùy thời của hào, thánh nhân không có chỗ nào là không dạy người tu cái đạo khuôn xử: như thế là lành, như thế là dữ, như thế là nên lo ngại, như thế là không tai vạ, dùng h́nh tượng rất tinh mà không ngoài các đạo thường về nhân luân và nhật dụng . (...) Nay hăy đem lời nói trong Đại tượng các quẻ mà nói, (...) chỉ một câu, nửa lời, mà dùng không thể xiết, đức cao nghiệp rộng, thực là ở đó . Huống chi, thông suốtcác quẻ, nghiền ngẫm các hào, trên th́ suy đến đạo Trời, dưới th́ xét đến t́nh vật, giữa th́ tham khảo sự tích của cổ nhân, lời nói việc làm đều trung chính, khi động khi tĩnh rất kính thành, để cho giữ được tốt lành, khỏi được hung dữ, đó chẳng phải là sơ ư lập giáo của thánh nhân ru ? Tôi ngu hèn học kém, kính đọc lời dạy của thánh nhân, nghiên cứu truyện nghĩa của họ Tŕnh, họ Chu, xét thêm những lời chú thích của tiên nho, có khi xúc động mà phát minh ra, nói thêm mấy lời, gồm có năm quyển, chỉ cốt để sửa lấy tâm thân cho ít lầm lỗi . C̣n đem thi thố không nói mà tin là cốt ở đức hạnh, các sĩ quân tử học kinh Dịch th́ không những là chỉ xem tượng mà học thuộc lấy lời, xem biến mà học thuộc câu bói, c̣n cần phải cẫn thận đức hạnh để hiểu ngầm ư của thánhnhân ở ngoài lời sách nói mới được.” [12]

(8) Âm chất văn chú, hai quyển, Lê Quư Đôn soạn . Âm chất văn tương truyền là của Văn Xương Đế quân, nói về thiện ác báo ứng, bao gồm tư tưởng Tam giáo . Trong Đề từ, Lê Quư Đôn cho biết ông đă căn cứ theo Đan quế tịch, bốn quyển, của Hoàng Chính Nguyên đời Thanh (1761) và Âm chất văn chú, hai quyển, của Tống Tư Nhân đời Thanh (1776).[13] Lê Quư Đôn viết:
“Văn Xương Đế quân có bài huấn gồm 541 chữ . Các bực hiền triết xưa suy diễn ư chỉ để giúp cho người ghi nhớ mà cố sức theo . Lại chép những việc thiện ác báo ứng ngay dưới mỗi tiết, khiến cho người ta ham làm thiện mà không dám làm ác, sách ấy có quan hệ rất lớn đến việc dạy đời .

“(...) Tôi không tự xét ḿnh, nhân lấy hai sách ấy [của họ Hoàng, họ Tống] bổ thêm vào một ít, chia làm hai quyển, trong phần diễn bỏ chỗ chú cũ đi, có khi bớt những chữ rườm, thay đổi cước chú, xếp theo từng loại, tất cả là 283 việc, cốt cho lời gọn mà nghĩa sáng, việc rành mạch mà lẽ rơ rệt . Trước là để tự răn ḷng xét ḿnh, tu dưỡng tính t́nh, cố gắng sao cho đến được chỗ ít lầm lỗi, sau là để dạy con cháu, phổ khuyến nhân sĩ, mong cho đều biết sửa ḿnh theo lễ, giữ đức dựa nhân, để thành người quân tử, không đến nỗi làm kẻ tiểu nhân.

“(...) Tôi từng trộm nghĩ: Người ta không ai không có nhân tâm, không ai không có đạo tâm, nhân tâm tức là nhân dục, đạo tâm tức là đạo lư . Giữ được một phần thiên lư th́ bỏ được một phần nhân dục . Nhân dục thắng th́ làm ác, thiên lư thắng th́ làm thiện . (...) Nói về một nhà th́ nhờ đó mà có thể được lành mạnh và hưởng phước lộc; nói về một nước, cho đến cả thiên hạ, th́ nhờ đó mà có thể làm cho phong tục tốt, đưa đến cơi thái b́nh . Đạo lư ấy rất lớn, độc giả nên kính cẩn giữ lấy mà cố gắng làm theọ”[14]

(9) Vân đài loại ngữ, bốn quyển, Lê Quư Đôn soạn . Sách gồm chín đề mục, trong đó đề mục thứ nhất là Lư khí ngữ, gồm 54 điều về vũ trụ, vũ trụ luận; chủ yếu giải bày quan niệm của Tống Nho về vũ trụ luận, đồng thời có nhiều phát triển riêng của soạn giả.[15]

(10) Chu huấn toản yếu, năm quyển, do Phạm Nguyễn Du (1739-1787) đời Hậu Lê soạn . Ông tự Hiếu Đức và Dưỡng Hiên, hiệu Thạch Động, người làng Đặng Điền, huyện Chân Phúc, tỉnh Nghệ An . Làm quan, chức đông các đại học sĩ, rồi đốc đồng Nghệ An . Viết nhiều sách, riêng về đạo Nho c̣n có tác phẩm Luận ngữ ngu án ... Khi soạn Chu huấn toản yếu ông mô phỏng theo sách Cận tư lục của Chu Hy và Lữ Tổ Khiêm đời Tống, lấy toàn văn của Chu Hy chia thành loại, xếp thành tiết mục, hơn sáu trăm điềụ[16]

(11) Xuân thu quản kiến, mười hai quyển do Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) đời Hậu Lê soạn . Ông là con của Ngô Th́ Sĩ, tự Hi Doăn, hiệu Đạt Hiên và Hải Lượng Thiền sư, người làng Thanh Oai, huyện Thanh Tŕ, tỉnh Hà Đông . Làm quan, chức hiến sát phó sứ Hải Dương, rồi nhiều chức vụ quan trọng khác . Đời Tây Sơn làm quan thị lang, tước T́nh phái hầu, làm chánh sứ sang Trung Quốc . Viết nhiều sách . Trong Xuân thu quản kiến, dưới mỗi sự việc chép trong kinh Xuân thu của Khổng tử, soạn giả ghi rơ lời chú thích, trích trong các sách Tả truyện, Công Dương, Cốc Lương ... rồi ghi thêm ư kiến và lời bàn của ông . [17]

(12) Nhân thế tu tri, tám quyển, do Cao Xuân Dục (1842-1923) đời Nguyễn soạn . Ông tự Tử Phát, hiệu Long Cương, quê xă Thịnh Kháng (sau là Thịnh Mỹ), huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An [có sách ghi: phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ Tĩnh]. Làm quan, chức thượng thư Bộ Học, tổng tài Sử quán, tước An xuân tử. Viết nhiều sách.

Nhắc đến ngũ luân (khuôn phép giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn) và thập nghĩa (mười lẽ phải gồm cha từ, con hiếu, anh lành, em kính, chồng nghĩa, vợ nghe theo, lớn huệ, bé thuận, vua nhân, tôi trung), trong bài Tựa năm 1901 cho Nhân thế tu tri có đoạn ông viết: “Đời người phải có ngũ luân, có thập nghĩa, th́ trước hết làm ra các môn luân thường, môn phẩm hạnh . Đời người phải có mưu sinh, làm ăn, th́ làm ra các môn thuật nghiệp, tố lư . Đời người phải có sửa ḿnh, thu xếp việc nhà, th́ làm ra các môn trị nhà, sửa xét ḿnh. Đời người phải có tiếp xúc với người khác, th́ làm ra các môn thù tiếp và thủ ngự để kết thúc toàn bộ sách . V́ vậy, nay vậy, nay tốt, t́m rộng trong các sách, lựa lọc trích lấy, chia môn, định loại, đem ra xếp đặt chú thích, tuy đến việc làm hung ác, cũng trích lấy một hai việc để mà khuyên răn.” Sách kể ra tám mươi sự việc xảy ra ở Trung Quốc và Việt Nam, nhằm khuyên làm lành tránh dữ.[18] Có thể qua sách này t́m hiểu được triết lư đạo Nho ở Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử nhất định .

Nho giáo Việt Nam không phải chỉ là trích cú tầm chương, khoa cử, phú thi xướng họa . Có một luồng tư tưởng của người Việt, nó ḥa hợp đạo Nho với Phật, Lăo và văn hóa bản địa Việt Nam . Hiện nay, mọi việc nghiên cứu lại Nho giáo Việt Nam đều c̣n phải khởi sự, mà khó khăn lớn nhất vẫn chính là sự thất lạc tác phẩm của tiên nho qua các triều đại.

Đạo Cao Đài xuất hiện ở Nam Kỳ vào đầu thế kỷ XX với lễ nhạc, y phục, và tiêu ngữ Nho tông chuyển thế (lấy tông chỉ đạo Nho để sửa đời loạn thành trị); phải chăng, trong một chừng mức nào đó có thể coi Cao Đài như một canh tân Nho giáo trong thời đại mới ?

KHÁI LƯỢC VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

1 . TRƯỚC THẾ KỶ III
Khi bị nhà Hán xâm lăng, miền đất phía bắc nước Việt ngày nay bị đổi tên là Giao Chỉ Bộ . Vào năm 203 (triều Hán Hiến đế), Giao Chỉ Bộ lại bị đổi thành Giao Châu.

Phật học vào Việt Nam trước tiên bằng đường biển, từ phương Nam lên, do các nhà sư Ấn Độ theo thuyền buôn . Luy Lâu (vùng Dâu, Hà Bắc) có thể là cửa ngỏ để từ Việt Nam, các nhà sư, nhà buôn viễn xứ mượn đường đi vào đất Hán.[1]

Theo Thiền uyển truyền đăng tập lục, Pháp sư Đàm Thiên trong khi đàm đạo với vua nhà Tùy (thế kỷ VI-VII) đă cho biết Giao Châu có đường thông thương với Ấn Độ, nên khi ở Giang Đông (Trung Quốc) đạo Phật hăy c̣n xa lạ th́ tại thủ đô Luy Lâu của Giao Châu đă có trên hai mươi chùa Phật, hơn năm trăm nhà sư, đă biết đến mười lăm bộ kinh.[2]

Có bằng chứng cho thấy Phật giáo đă từ Việt Nam vào Trung Quốc trước khi Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam . Thế kỷ III, Ngô Tôn Quyền ở Giang Đông đă được sư Khương Tăng Hội từ Giao Châu sang truyền đạo, Tôn Quyền đă cho cất chùa Kiến Sơ vào dịp nàỵ[3]

Đại Việt sử kư toàn thư và Ngô chí (viết vào thế kỷ IV) chép lại lá thư của một người Hán là Viên Huy, gửi cho Thượng thư lịnh Tuân Úc năm 207 . Thư kể rằng Thái thú Sĩ Tiếp (Sĩ Nhiếp) ở Giao Châu mỗi khi ra đường đều có các nhà sư Ấn Độ theo xe, xông trầm đốt hương, đánh chuông khánh, thổi kèn sáọ[4]

Do miền Bắc sớm trực tiếp gặp Phật giáo Ấn Độ nên người miền Bắc có từ Bụt. (Tục ngữ: Gần chùa gọi Bụt bằng anh; Đi với Bụt mặc cà sa, đi với ma mặc áo giấy…) Bụt do gốc tiếng Ấn Buđha . Sau này tiếp xúc Phật giáo Trung Quốc nên có thêm từ Phật, mượn ở cách người Hoa phiên âm từ Buđha (tiếng Hán-Việt là Phật đà).

Về sau, việc truyền đạo trực tiếp từ Ấn sang giảm bớt dần, trong lúc theo đường bộ đạo Phật từ phương Bắc du nhập chiếm ưu thế hơn . Do ảnh hưởng từ phương Bắc xuống, hay Bắc tông, Phật giáo Việt Nam thuộc ngành đại thừa . Trái lại, do ảnh hưởng từ phương Nam lên, hay Nam tông, các lân bang như Lào, Cam-pu-chia, Thái thuộc ngành tiểu thừa.

2 . TỪ THẾ KỶ III ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIII
Trong các hệ phái Phật giáo ở nước Nam, Thiền tông phát triển mạnh nhất và có nhiều đặc sắc.

Khởi đầu với sư Khương Tăng Hội (đầu thế kỷ III), Sư có công khai sáng Thiền học Việt Nam và là người đầu tiên đem đạo Phật từ Việt Nam sang truyền cho người Hán . Phật giáo Việt Nam lúc này đă là đại thừa v́ Sư đă cùng các cao tăng khác dịch kinh Bát nhă, rồi sư Chi-cương-lương-tiếp (Kalasivi) dịch kinh Pháp hoa tam muộị[5]
Tư liệu về thế kỷ IV c̣n khiếm khuyết.

Thế kỷ V, theo Tục cao tăng truyện, có Thiền sư Huệ Thắng, là môn đồ của sư Đa.t-ma Đề-bà . Sư Huệ Thắng nhiều lần sang Trung Quốc hoằng giáọ[6]
Reply With Quote
  #3 (permalink)  
Old 11-01-2007, 12:34 PM
BinhMinh's Avatar
BinhMinh BinhMinh is offline
Member
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 45
Từ thế kỷ VI đến hết triều Lư, Việt Nam có ba ḍng Thiền lớn.

a . Phái Tỳ-niđda-lưu-chi (Vinitaruci)
Năm 580 Sư Tỳ-niđda-lưu-chi đến Việt Nam, trụ tŕ mười bốn năm ở chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), liễu đạo năm 594 . Phái này truyền được mười chín đời . Đời chót có Thiền sư Y Sơn (liễu năm 1213).

b . Phái Vô Ngôn Thông
Năm 820 sư Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam, trụ tŕ chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh), liễu năm 826 . Phái này truyền được mười bảy đời . Vua Lư Thái tông (1028-1054) là môn đệ đời thứ tám.

c . Phái Thảo Đường
Sư Thảo Đường từ Trung Quốc sang Chiêm Thành . Năm 1069, vua Lư Thánh tông thắng quân Chiêm, đưa sư về Thăng Long, phong Quốc sư . Sư trụ tŕ chùa Khai Quốc.

Phái này truyền được sáu đời . Trong hàng đệ tử có chín nhân vật đáng kể như: vua Lư Thánh tông (1054-1072), đời thứ hai: quan Tham chính Ngô Ích, đời thứ ba: vua Lư Anh tông (1138-1175) và quan Thái phó Đỗ Vũ, đời thứ tư; quan Thái phó Đỗ Thường, đời thứ năm; vua Lư Cao tông (1176-1210) và quan Quản giáp Nguyễn Thức, đời thứ sáu.

3 . PHẬT GIÁO VIỆT NAM ĐỜI TRẦN
Đầu thế kỷ XIII, ba phái Tỳ-niđda-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường dần dần sáp nhập, đưa tới sự lớn mạnh của phái thiền Yên Tử để thành một phái duy nhất đời Trần là phái Trúc Lâm.

Phái Yên Tử xuất hiện từ núi Yên Tử . Tổ khai sơn là Thiền sư Hiện Quang (liễu năm 1220) . Tổ thứ hai là thầy của vua Trần Thái tông, được tôn là Trúc Lâm Quốc sư, pháp hiệu Đạo Viên, có tên khác là Viên Chứng.
Trong hai mươi ba vị tổ của phái Trúc Lâm, tổ đời thứ sáu là vua Trần Nhân tông, pháp hiệu Trúc Lâm Đầu đà.

Trong hoàng tộc có một Thiền sư lẫy lừng là Tuệ Trung Thượng sĩ . Ngài tên thật là Trần Quốc Trung, tước Hưng ninh vương, con cả của An sinh vương Trần Liễu, và là anh ruột của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn . Khóa hư lục của vua Trần Thái tông và Ngữ lục của Tuệ Trung Thượng sĩ là hai kiệt tác trong thiền học đời Trần.

Đời Trần cũng noi theo Lư, mở khoa thi Tam giáo để chọn nhân tài ra giúp nước (đời Lư: 1195; Trần: 1247).

4 . TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX
Nhà Hồ (1400-1407) rồi nhà Hậu Trần (1407-1413) mất, quân Minh xâm chiếm Việt Nam (1413-1427) . Loạn lạc liên miên, đạo Phật suy yếu . Đuổi xong giặc, vua Lê Thái tổ (1428-1433) tổ chức khảo sát tŕnh độ các sư, đạo sĩ . Ai kém phải hoàn tục.[7]

Nhà Hậu Lê suy, ngoài Bắc Chúa Trịnh thao túng, trong Nam Chúa Nguyễn tung hoành . Phật giáo suy . Đầu thế kỷ XVIII, thống nhất xong đất nước, vua Quang Trung (1788-1792) theo gương đời Lê, lo chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn lại việc cất chùa, chỉ đạo cất các chùa lớn có quy củ, gạn lọc các phần tử kém phẩm chất ra khỏi cửa thiền, buộc hoàn tục.[8]

Từ thế kỷ XV trở đi tuy không c̣n rực rỡ như hai triều Lư, Trần nhưng đời nào cũng có cao tăng, chân tu xuất hiện . Một số ḍng thiền khác được ghi nhận như: phái Tào Động, gốc từ Trung Quốc, triều Lê Thế tông (1573-1599); phái Liên Tông, triều Lê Hy tông (1676-1705) . Hai phái này ở miền Bắc . Miền Trung có phái Liễu Quán và phái Nguyên Thiều . Phái Nguyên Thiều có từ triều Lê Huyền tông (1663-1671), gốc từ Trung Quốc, là hệ phái của ḍng thiền Lâm Tế…

Ngày 01-9-1858, phát súng đầu tiên của hải quân Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược của thực dân Pháp . Trong hoàn cảnh loạn lạc triền miên, đạo Phật bị ảnh hưởng, suy thoái dần.

Đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo đă lần lượt dấy lên ở nhiều nơi . Các cao tăng bấy lâu ẩn dật đến lúc nhập thế hoằng dương Phật pháp . Các kinh sách, tạp chí nghiên cứu đạo Phật nhờ phương tiện ấn loát tiến bộ đă có thể phổ biến rộng răi hơn.

Bên cạnh các cao tăng c̣n có những cư sĩ trí thức cựu học lẫn tân học, uyên thâm về cả thế học và Phật học . Ở cả ba miền đất nước đều có những cư sĩ tài tuệ và tâm huyết tích cực góp phần đổi mới cách thuyết giáo và giảng dạy cổ truyền của nhà thiền . Trong số đó, ba nhân vật tiêu biểu là:
- Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902-1954): đông y sĩ, sáng lập Hội Phật học Bắc Kỳ, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ (Hà Nội); phụ trách tạp chí Đuốc tuệ của Hội.
- Tâm Minh Lê Đ́nh Thám (1887-1969): bác sĩ tây y; sáng lập viên và là hội trưởng Hội Phật học Trung Kỳ (tức là An Nam Phật học hội), trụ sở đặt tại chùa Trúc Lâm (Huế); chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Viên âm, cơ quan hoằng pháp của Hội.
- Chánh Trí Mai Thọ Truyền (1905-1973): đốc phủ sứ, sáng lập chùa Xá Lợi (Sài G̣n) và Hội Phật học Nam Việt, đóng góp rất nhiều cho tạp chí Từ quang của Hội.

Sau này, việc đào tạo tăng ni tại Việt Nam đă có quy củ với các hệ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học cũng nhờ sự quật khởi từ những thập niên đầu thế kỷ XX, cũng là lúc đạo Cao Đài vừa xuất hiện . Sự trùng hợp này đối với tín đồ Cao Đài không hề là một ngẫu nhiên . Thực vậy, tại Thiên lư Đàn (Sài G̣n), Tuất thời, 30-10 Mậu Thân (19-12-1968), đức Cao Đài dạy: “Về đạo pháp các con cũng biết Thầy đến lần ba này làm sao cho nhơn loại khắp trên mặt địa cầu được sống lại ơn cứu độ lan chảy khắp năm châu . Trước đây năm, sáu mươi năm các con cũng thấy các tôn giáo như ngủ mê mà từ ngày được đạo Thầy hoằng khai th́ các tôn giáo lầnlượt chấn hưng . Sự sống đó chẳng những đến cho các con mà đến khắp hoàn cầu, nên phong trào đạo đức đâu đâu cũng sống dậỵ”


KHÁI LƯỢC VỀ LĂO GIÁO VIỆT NAM [1]
Cái học Lăo Trang trong sáu, bảy thế kỷ trước công nguyên ở Trung Quốc (thời Xuân thu Chiến quốc) [2] là một học thuật tư tưởng . Các đạo gia không chủ trương những điều huyền bí . Trước cảnh thiên hạ đại loạn họ chọn cuộc sống ẩn dật, di dưỡng thiên chân . Từ thế kỷ I, thời Đông Hán (Hậu Hán), với Trương Đạo Lăng,[3] cái học Lăo Trang biến thành một tôn giáo, gọi là Đạo giáo, Lăo giáo.

Đạo giáo phát triển muôn vẻ. Các đạo sĩ (phương sĩ) chuyên tâm vào bùa chú (phù chú hay phù lục), luyện đan . Họ được gọi là phái thần tiên đan đỉnh và phù lục . Toàn bộ kinh điển Đạo giáo rất phức tạp, gồm 5.485 quyển, gọi chung là Đạo tạng, gồm Chính Đạo tạng, Tục Đạo ta.ng.[4]
Đạo giáo có nhiều môn phái, rất phức tạp, một số phái chủ yếu là:
- Phái Chính nhất (Thiên sư đạo), phát triển mạnh ở phương Nam, tôn Trương Đạo Lăng làm Thiên sư; con cháu họ Trương đời đời làm thủ lănh . Các đạo sĩ không xuất gia, gọi là hỏa cư đạo sĩ .

- Phái Toàn chân, xuất hiện thời Liêu Kim, phát triển rộng ở phương Bắc, có cả đạo sĩ và đạo cô, đều xuất gia, gọi là mao sơn đạo sĩ.[5]

Có thể Lăo giáo du nhập Việt Nam khoảng thế kỷ II, bấy giờ đă mang màu sắc Đạo giáo . Nguyên v́ ở Trung Quốc, sau khi Hán Linh đế mất (năm 189), xă hội đại loạn, người Hán chạy sang Giao Châu lánh nạn rất đông, trong đó có nhiều đạo sĩ tịch cốc (nhịn ăn), luyện pháp trường sinh.[6]
Quan lại Trung Quốc sang đô hộ nước Nam hầu như đều sính phương thuật . Theo Đại Việt sử kư toàn thư, quyển 3, Thái thú Sĩ Tiếp (Sĩ Nhiếp) lâm bịnh, chết đă ba ngày, lại được một đạo nhân là Đổng Phụng đến cho thuốc cải tử hoàn sinh.[7] Lại chép việc Thứ sử Trương Tân (sang Giao Châu từ năm 201) hay đội khăn đỏ, đọc kinh sách Đạo giáọ[8] Đời Đường, năm 865, Cao Biền sang nước Nam đàn áp các cuộc khởi nghĩa của dân Việt . Họ Cao là một thuật sĩ có hạng, chuyên về phong thủy, ráo riết t́m phá long mạch, trấn yểm các nơi anh linh tú khí của nước Nam, cốt ư cho nước Nam không c̣n sinh ra nhân tài, anh hùng hào kiệt sẽ phải lệ thuộc dưới ách đô hộ của phương Bắc đời đời .
Reply With Quote
  #4 (permalink)  
Old 11-01-2007, 12:38 PM
BinhMinh's Avatar
BinhMinh BinhMinh is offline
Member
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 45
Đạo Lăo Việt Nam cũng khá phức tạp, vừa mang màu sắc Đạo giáo, vừa chịu ảnh hưởng các Đạo gia, và đồng thời cũng kết hợp với Thần đạo của người Việt; v́ thế, đạo Lăo ở Việt Nam có nhiều khuynh hướng .

1 . MẤY KHUYNH HƯỚNG TIÊU BIỂU CỦA LĂO GIÁO VIỆT NAM

a . Khuynh hướng phù chú và bạo động
Bùa chú trong một thời gian dài có ảnh hưởng đến sinh hoạt xă hội . Chẳng hạn, cọp được coi là loài thú có thể khu trừ tà ma, do đó nhiều nhà dán bùa vẽ h́nh cọp trước cửa để che chở gia đ́nh, và lá bùa ấy có tên “Trừ tà trị bệnh, trấn trạch b́nh an” .

Đạo giáo có sức lôi cuốn nông dân vào các hội bí mật, hoặc để tương trợ nhau chống lại cường hào ác bá, hoặc để mưu đồ quốc gia đại sự .
Đời Trần Phế đế, ở lộ Bắc Giang có Nguyễn Bổ, năm 1379 xưng vương, hiệu Đường lang Tử ỵ[9]

Đời Hồ có Trần Đức Huy cũng dùng phương thuật thu hút đông người theo,[10] bị Hồ Quư Ly dẹp năm 1403 .

Thời kháng Pháp có đạo sĩ Trần Cao Vân (1866-1916), tên thật là Trần Công Thọ, hiệu Hồng Việt, quê làng Tư Phủ, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam . Miền Nam có Thiên địa hội lôi cuốn hàng ngàn người . Có Phan Phát Sanh (Phan Xích Long) xưng hoàng đế, nổi lên đánh Pháp (cuối tháng 3.1913); nghĩa quân đeo bùa, mang giáo mác, gậy gộc, bất chấp súng đạn của giặc.[11] C̣n rất nhiều những phong trào như thế khắp cả nước, như Mạc Đ́nh Phúc (miền Bắc), Vơ Trứ (miền Trung), Nguyễn Hữu Trí (miền Nam) ...

2 . Khuynh hướng phong thủy và sấm kư
Khoa phong thủy (địa lư) ở nước Nam và việc tiên tri loan truyền sấm kư rất được quần chúng ưa thích .

Đời Trần-Hồ ở lộ Tân Hưng có Trần Quốc Kiệt làm quan chức an phủ sứ, soạn H́nh thế địa mạch cạ[12]

Đời Mạc có Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), hiệu Bạch Vân Cư sĩ, đời gọi Trạng Tŕnh, nổi tiếng v́ nhiều tiên tri kư bí .

Đời vua Lê chúa Trịnh ở làng Tả Ao, tỉnh Nghệ An, có Nguyễn Đức Huyên vang danh nhờ khoa địa lư .

Đời Tây Sơn ở huyện La Sơn, tỉnh Hà Đông có Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu tử) cũng nổi tiếng về phong thủy .

Sấm kư cũng được nhiều cao tăng sử dụng . Làng Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh, trong phái Tỳ-niđda-lưu-chi (Vinitaruci) có nhiều nhân vật lừng lẫy: sư Định Không (thế kỷ VIII, đời thứ tám); sư La Quư An (852-939, đời thứ mười); sư Vạn Hạnh (thế kỷ XI, đới thứ mười hai) ...

3 . Khuynh hướng trường sinh bí thuật
Vua Trần Dụ tông (1341-1369) cầu đạo trường sinh với đạo sĩ Huyền Vân tu ở núi Niết (núi Phụng Hoàng), huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương . Đời Trần Thuận tông (1388-1398) có quan tri huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, tên Từ Thức, người Hóa Châu . Đời Trần Hồ ở xă Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, có Trần Tu vào ẩn tu ở núi Nưa (Na Sơn) .

Đời vua Lê chúa Trịnh ở huyện Đông Thành có Phạm Viên ... Triều Lê Cảnh hưng có Nguyễn Hoăn, làng Lan Khê, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, làm quan Lại bộ thượng thư, Viện quốc công, Quốc sư Quốc lăo . Gia phả họ Nguyễn, mục Tiên khảo đạo tu lục cho biết ông tu tiên từ năm ba mươi ba tuổi (Ất Sửu 1745), đọc Đạo đức kinh . Năm bốn mươi bốn tuổi lập tĩnh thất để tu luyện ngay trong nhà . Năm bốn mươi tám tuổi thờ thần Ngũ Nhạc . Sau lại xây thêm tháp mười hai tầng để luyện khí âm dương ... V́ cuồng vọng, ông về sau đi lạc sang tà đạo . Mất năm 1792, thọ tám mươi tuổị[13]

4 . Phương hướng thanh tĩnh, nhàn lạc
Triết lư vô vi thanh tĩnh của Lăo Trang ảnh hưởng giới Nho sĩ rất nhiều, tạo cho con người xu hướng ẩn dật, ưa thích gần thiên nhiên, t́m cái thú nhàn lạc bên chén rượu cuộc cờ, tiêu dao với ngón đàn, vần thơ, hay nét thư họa ... Xu hướng này thích hợp khi con người không gặp thời, hoặc khi đă chán cuộc đời phồn tạp . V́ thế, Nho sĩ Việt Nam thời xưa luôn luôn trang bị cho bản thân tư tưởng xuất xử . Gặp thời hay, được thi thố tài năng th́ xuất, tham gia việc nước . Lúc bất đắc chí, khi tuổi già hay chán quan trường th́ xin bỏ về điền dă; đó là xử .

Đời Trần, Nguyễn Phi Khanh viết:
Bách niên phù thế nhân giai mộng,
Bán nhật thâu nhàn ngă diệc tiên .
(Cuộc đời nổi trôi trăm năm kiếp người như giấc mộng,
Ăn trộm được cái nhàn nửa ngày th́ ta cũng là tiên) .
Đời Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:
Nhưng trong mọi việc đà ngoài hết,
Được một ngày là tiên một ngàỵ[14]
Hay là:
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nh́n xem thế sự tựa chiêm bao .

Đời Lê-Mạc, có Nguyễn Hăng, quê xă Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, trấn Sơn Tây, thi đậu hương cống nhưng không làm quan, về ẩn tu ở xă Đại Đồng, phủ Yên B́nh, tỉnh Tuyên Quang . Ông lấy hiệu Nại Hiên . Triều Lê (khi trung hưng) phong tặng là Thảo Mao Dật sĩ . Ông sáng tác những bài phú như Đại Đồng phong cảnh phú, Tam Ngung động phú, Tịch cư ninh thể phú... Những bài này ca ngợi thú ở ẩn non caọ[15]

Đời Tây Sơn, có Phan Huy Ích (1750-1822), quê ở Nghệ An, lấy hiệu Bảo Chân Đạo nhân . Năm 1796 ông dựng nhà tại kinh thành Thăng Long, đặt tên là Bảo chân quán . Trong bài kư do ông sáng tác để nói về Bảo chân quán, ông bày tỏ mục đích là để sớm hôm quanh quẩn ở đó, khi dựa bao lơn uống trà, khi đến ḍng sông buông câu, khi khảy đàn nhắp rượu, khi ngâm vịnh tùy hứng...[16]

Đời Nguyễn có Nguyễn Công Trứ (1778-1858), người xă Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là một con người độc đáo, tiêu biểu chi lối sống xuất xử vẹn toàn của nhà Nho . Ông từng tự hào:
Tri túc, tiện túc; đăi túc, hà thời túc ?
Tri nhàn, tiện nhàn; đăi nhàn, hà thời nhàn ?
Cầm kỳ thi tửu với giang san,
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế ?

Khuynh hướng thanh tĩnh, nhàn lạc c̣n thấy được qua thú chơi cây kiểng và ḥn non bộ . Người ta chơi một gốc cây sù ś, nho nhỏ, uốn cành sửa lá theo ư riêng, hoặc bày vài ḥn đá con con, chông chênh trên một bể nước cạn . Thêm vào vài nhánh lá, chiếc cầu, con thuyền, lác đác một hai tượng sành tí xíu h́nh lăo tiều, ông câu, hay đôi bạn đang đánh cờ ... Đó là cả một thế giới riêng của con người đem thu nhỏ lại từ h́nh ảnh thật của thiên nhiên bao la . Chơi cây kiểng và ḥn non bộ từ lâu đời vẫn được coi như thú tiêu khiển thanh tao, giúp con người di dưỡng tánh t́nh . Nó được xếp hạng không kém bốn thú tài tử cầm, kỳ, thi, họa . Người sành chơi, khi đứngtrước một chậu kiểng đẹp, một ḥn non bộ khéo đắp, có thể dễ mê mẫn tâm hồn, đắm ḿnh trong sức tưởng tượng phong phú, và quên cả thực tại phồn tạp bên ngoài .

2 . LĂO GIÁO KẾT HỢP VỚI THẦN ĐẠO VIỆT NAM
Từ lâu đời, người Việt có một đức tin sâu sắc vào sự trường cữu của anh linh những công thần, hào kiệt . Lúc sống, làm rường cột chống đỡ sơn hà xă tắc, cứu dân giúp nước . Khi thác, trở thành thần thánh, hiển hích, âm pḥ mặc trợ cho đồng bào . Thần đạo Việt Nam giản dị như vậy, và đó cũng là một truyền thống yêu nước và ḷng kính trọng ngh́n đời của dân tộc đối với các vị anh hùng, những bậc kỳ tài của đất nước . Cái đ́nh làng, tục thờ thành hoàng, đền thờ hay lăng, miếu các danh tướng lương thần đều là nét tín ngưỡng Thần đạo của người Việt .

Đạo Lăo cũng như đạo Phật đă khéo dung hợp, ḥa nhập với những tín ngưỡng cổ truyền trong ḷng xă hội Việt Nam . Trong lúc đất nước mất chủ quyền, chính tín ngưỡng Thần đạo đă nuôi dưỡng ư thức quốc gia, khơi ḷng yêu nước, để khi thời cơ đến th́ gây phong trào khởi nghĩa, đánh đuổi ngoại xâm . Vua quan Trung Quốc đă nhiều phen thất bại khi t́m cách dập tắt tín ngưỡng bản địa này của người Việt để duy tŕ ách xâm lược của phương bắc .

Trong toàn bộ lịch sử lâu dài vừa đấu tranh giữ nước vừa ra sức dựng nước, dân tộc Việt Nam đă chiến đấu bất khuất, không phải chỉ với phương tiện vật chất hữu h́nh, mà c̣n có cả sức mạnh vô h́nh là đức tin mănh liệt vào khí thiêng sông núi, tin rằng có biết bao thế hệ anh linh tiền nhân dân tộc đang cùng đứng chung chiến tuyến với chính nghĩa của dân tộc để bảo vệ sự độc lập, thống nhất, trường tồn của Việt Nam .

Chính Thần đạo Việt Nam cũng thể hiện t́nh yêu nước Việt Nam . Người Việt theo đạo Lăo nhưng vẫn không hề mất bản sắc của ḿnh . Do đó, bên cạnh các vị thần tiên của đạo Lăo theo kinh điển Trung Quốc truyền sang, dân Việt vẫn thờ chung các vị thần của người Việt . Thí dụ, Thông thánh quán ở vùng Bạch Hạc (Việt Tŕ) đă thờ thần sông Tam Giang là vị phúc thần của địa phương . Các đạo quán khác thờ thần núi Tản Viên (núi này ở tỉnh Sơn Tây), gồm ba ngọn cao ngất, nên cũng gọi là núi Ba V́), thờ thần sông Tô Lịch, Lư Ông Trọng ... Từ đời Trần, đức Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn được thờ ở Vạn Kiếp, Chí Linh, rồi lan truyền nhiều nơi . Đời Hậu Lê, cóđền thờ bà chúa Liễu Hạnh . Các nữ thần khác cũng được dân gian thờ phụng khắp trong nước .
Reply With Quote
  #5 (permalink)  
Old 11-01-2007, 12:41 PM
BinhMinh's Avatar
BinhMinh BinhMinh is offline
Member
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 45
3 . MỘT SỐ ĐẠO QUÁN NỔI TIẾNG

a . Thông thánh quán
Ở vùng Bạch Hạc (Việt Tŕ), dựng khoảng năm 650-655, đến thế kỷ XIV th́ không c̣n.[17]

b . Thái thanh cung
Cung được dựng ở kinh thành Thăng Long, bên trái . Bên phải là chùa Vạn tuế . Vua Lư Thái tổ (1010-1028) cho cất cung và chùa này khi mới dời đô về Thăng Long.[18]

c . Trấn vũ quán
Cũng được xây dựng lúc vua Lư Thái tổ vừa dời đô về Thăng Long (1010), hiện nay nằm ở góc đường Quan Thánh và đường Thanh Niên, khu phố Ba Đ́nh, Hà Nội . Quán thờ đức Huyền Thiên Trấn vũ để hộ tŕ mặt phía bắc của thành Thăng Long . Quán này c̣n được gọi là đền Trấn vũ hay Chân vũ . Đời vua Lê Hy tông (1676-1704), tượng đức Trấn vũ được đúc bằng đồng đen cao 3,96 mét, nặng 4 tấn . Năm 1893, lại xây thêm một bệ đá cho tượng . Bệ này cao 1,20 mét.[19]

4 . Ngọc thanh quán
Quán nằm trên núi Đại Lai (Thanh Hóa) . Năm 1398, Hồ Quư Ly mưu việc dứt ngôi nhà Trần, ép vua Trần Thuận tông (1388-1398) thoái vị, và cưỡng bách vua về tu tiên ở quán này .

5 . Nghinh tiên quán (hay Vọng tiên quán)
Vua Lê Thánh tông chơi Hồ Tây, gặp một thiếu nữ xinh đẹp, xướng họa thơ rất ưng ư nên vua Lê rước lên xe đưa về cung . Khi đến cửa Đại Hưng thành Thăng Long (nay là cửa Nam Hà Nội), thiếu nữ bay lên trời, biến mất . Vua cho cất tại cửa Đại Hưng lầu Vọng tiên để kỷ niệm, sau chốn này thành quán Vọng tiên hay Nghinh tiên nằm ở phố Hàng Bông, Hà Nộị[20]

6 . Tiên tích tự
Vua Lê Hiển tông chơi hồ Kim Âu phía nam thành Thăng Long gặp hai cô tiên, nên cho cất Tiên tích tự ở đấy làm kỷ niệm . Hồ Kim Âu nay ở vị trí nhà ga đường sắt Hà Nộị[21]

7 . Đền Ngọc sơn
Đền nằm trên một g̣ đất nổi lên ở phía bắc hồ Hoàn Kiếm . Thoạt đầu nơi đây thờ đức Quan Thánh Đế quân, sau trùng tu lại, thờ Phật, gọi là chùa Ngọc sơn . Năm 1841, biến thành đền thờ đức Văn Xương Đế quân . Về sau lại thờ thêm đức Lữ tổ và đức Trần Hưng đạọ[22]

8 . Bảo chân quán
Do Phạm Huy Ích cất tại Thăng Long năm 1796 .

4 . THƯỢNG SƯ NỘI ĐẠO
Đây là một đạo trường lớn của đạo Lăo ở Việt Nam thời xưa . Đời Hậu Lê, Trần Toàn là người làng Yên Đông, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa . Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê (thời gian 1527-1529), ông từ quan về quê tu hành, đắc đạo, được Thiên đ́nh phong chức Thượng sư, lo trừ tà khử quái suốt hai vùng châu Hoan (Thanh Hóa) và châu Ái (Nghệ An) . Thượng sư đến làng Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa mở đạo trường . Vua Lê Thần tông (1619-1662) ban cho trường tên là Nội đạo trường . Lúc Thượng sư thoát xác, Vua lại truy phong là Phục ma Thượng đẳng Phúc thần và cho lập đền thờ .

Thượng sư có ba con trai là Nhật Quang, Nguyệt Quang, và Ngọc Quang, đều tinh thông đạo pháp của Thượng sư truyền dạy . Ba vị nổi danh lừng lẫy, đời xưng tán, gọi là Tam thánh Nội đạo . Sau khi Thượng sư về Trời, Ngọc Quang kế tục đạo nghiệp của cha, lănh phần điều khiển Nội đạo trường .

Triều đ́nh đă công nhận đạo trường này . Nó có uy thế rất lớn . Chi nhánh của Nội đạo trường xuất hiện khắp nơi, nào là làng Từ Quang (tức Từ Minh trước kia, huyện Hoằng Hóa), là làng Yên Đông (huyện Quảng Xương), đều ở tỉnh Thanh Hóa; hoặc ở tỉnh Nghệ An, ở hạt Huệ Lai, tỉnh Hưng Yên; hay ở Nhật Tảo (tỉnh Hải Dương), ở làng Giảng Vơ (gần Hà Nội) ...

Về sau, Nội đạo trường thờ cả bà chúa Liễu Hạnh, đức Trần Hưng đạo, đức Phù Đổng Thiên vương, thần núi Tản Viên, thần Bạch Mă...[23]

5 . THI LĂO HỌC
Triều đ́nh từng mở khoa thi Tam giáo vào đời vua Lư Cao tông (1195) và vua Trần Thái tông (1247) .

Về nội dung thi Lăo giáo, Nguyễn Đổng Chi đă sưu tầm được một đề thi và một bài trả lời các câu hỏi ra trong đề đó.[24] Nghiên cứu tài liệu này, có thể hiểu được phần nào sự học Lăo của người Việt đời trước . Sau đây là bài thi:

(1) PHÁP MÔN LÀ G̀ ?
Mọi pháp quy tôn(g), muôn đời chẳng đổi, muôn thánh ngàn thần, một môn đồng hội, ấy gọi là pháp môn vậy .

(2) PHÙ THỦY LÀ G̀ ?
Khí âm khí dương hỗn hợp mà thành ra thiêng, dùng nước đại bi phun cho ma sợ, ấy gọi là phù thủy vậy .

(3) PHÁP MÔN LẤY AI LÀM THÁNH ?
Pháp môn do Thái Thượng Lăo quân lập ra cho nên tôn Ngài làm Thánh .

(4) PHÙ THỦY LẤY AI LÀM THẦY ?
Phù thủy do Chân vũ Tiên sinh lập ra cho nên tôn Ngài làm Thầy .

(5) TỨ THÁNH, TỨ GIÁC, TỨ TUNG, TỨ DUY LÀ Ư THẾ NÀO ?
Thiên bồng, Thiên du, Bảo đức, Hắc sát gọi là Tứ thánh . Càn, Khôn, Tốn, Cấn gọi là Tứ giác . Thiên hoa, Địa hoa, Lăo hạc, Đồng trụ gọi là Tứ tung . Tí, Ngọ, Măo, Dậu gọi là Tứ duy .

(6) TAM GIỚI, TAM THANH, TAM ĐỘNG, TAM TY LÀ THẾ NÀO ?
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới ấy là Tam giới . Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh, ấy là Tam thanh . Động chân, Động huyền, Động vi ấy là Tam động . Lôi đ́nh, Linh bảo, Thái huyền ấy là Tam ty .

(7) ÔN, HOÀNG, DỊCH, LỆ SINH VÀO BUỔI NÀO ?
Vua Hoàng đế có bốn người con bất tài tên là Ôn, Hoàng, Dịch, Lệ sinh vào đời Chuyên Húc .

(8) TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI SINH ĐƯỢC MẤY CON ?
Tốn sinh ra được bốn con là Đông, Tây, Nam, Bắc . Ly sinh được chín con từ Nhất bạch, Nhị hắc đến Bát bạch, Cửu tử . Khôn sinh ra sáu con tức là Thái âm, Lục khí . Đoài sinh ra bảy con tức là Bắc đẩu Thất tinh . Ấy là Tốn, Ly, Khôn, Đoài có hai mươi sáu con vậy .

(9) HÀNH MĂN TAM THIÊN SỐ, THỜI ĐƯƠNG TỨ VẠN NIÊN LÀ G̀ ?
Số Trời thành 1.000, số đất thành 1.000, số người thành 1.000, ấy là hành măn tam thiên số . Từ Thái dịch đến Thái sơ là 10.000 năm, từ Thái sơ đến Thái thủy 10.000 năm, từ Thái thủy đến Thái tố 10.000 năm, từ Thái tố đến Thái cực 10.000 năm . Ấy là thời đương tứ vạn niên .

(10) ĐẠO CAO LONG HỔ PHỤC, ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH CHỈ VỀ THẦY NÀO ?

Đạo chí cao không thể vượt qua được, mà rồng là dương tinh, cọp là âm tinh đều phục đạo cao . Đức chí hậu không thể vượt qua được, mà quỷ là khí tán, thần là khí tinh đều sợ đức trọng . Ấy là Đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh, chính là chỉ sư Phổ Am vậy .

(11) PHÉP BẮT TÀ TRÓI QUỶ DÙNG LINH PHÙ NÀO ? ĐỌC THẦN CHÚ NÀO ?
Nếu được đàn tràng cho chỉnh túc, pháp tịch cho hẳn hoi, niệm thấy tam giới mà muôn thánh đều đến, trống đánh ba hồi mà muôn thần đều nhóm họp, trước phải gọi tướng, thứ phải sai đi . Tưởng đến thiên vơng mà kín đáo ra bùa, bắt tay ấn mà thiêng liêng chú bút, bốn chữ thánh đè năm chữ quỷ, chữ (...?) hợp với vạn linh . Dùng những bùa thiêng Bạch xà, Độc cước, đọc những thần chú Thái thượng, Tề thiên .

(12) MUỐN CHO ĐỜI NÀY, DÂN NÀY ĐỀU VÀO TRONG ĐÀI XUÂN, CÙNG BƯỚC LÊN CƠI THỌ TH̀ PHẢI DÙNG THUẬT G̀ ?
Nếu trước hết chính tâm th́ bọn tà mị không thể rục rịch . Trước hết chính thân th́ khí tà không thể xâm phạm . Tâm chính rồi th́ lấy đó ra ơn cho dân . Thân chính rồi th́ lấy đó mà giúp chúng .

Qua bài làm của thí sinh đời trước, cùng với cách ra câu hỏi như thế, có thể phỏng đoán rằng trọng tâm cái học Lăo giáo đời xưa nặng về Đạo giáo (Taoist religion) hơn là Đạo học (Taoist philosophy) .

6 . CẦU TIÊN
Cầu tiên là một phương tiện liên lạc, tiếp xúc (thông công) giữa cơi người hữu h́nh với các đấng tiên thánh trong cơi vô h́nh . Người cầu tiên có thể do nhiều mục đích khác nhau: hoặc mượn thơ phú xướng họa để tiêu khiển thanh tao, hoặc xin thuốc chữa bịnh, hoặc hỏi việc tương lai hậu vận, hoặc hỏi thiên cơ quốc sự, hoặc để học hỏi trực tiếp đạo lư với thần tiên . Thông thường các đấng thiêng liêng tùy duyên hóa độ, cũng v́ từ bi, cho nên mượn những mục đích b́nh thường của thế nhân (thơ phú, xin thuốc...) để gây đức tin, rồi dẫn dắt đến chỗ học đạo thánh hiền .

Thời kỳ Việt Nam c̣n dưới ách thực dân Pháp, ở tỉnh Nghệ An có nhiều nơi cầu tiên, gọi là thiện đàn . Ở miền Nam, đầu thế kỷ XX nhiều địa danh và các đàn tiên đă gắn liền với lịch sử khai đạo Cao Đài như đàn ở Miễu Nổi (B́nh Lợi, G̣ Vấp), ở chùa Ngọc Hoàng (Đất Hộ, tức Đa Kao), đàn Minh Thiện (Thủ Dầu Một), đàn Hiệp Minh (Cái Khế, Cần Thơ), đàn ở núi Thạch Động (Hà Tiên), đàn ở chùa Quan Âm (núi Dương Đông, Phú Quốc), đàn ở phố Hàng Dừa (đường Arras, Sài G̣n, nay là Cống Quỳnh) .

Qua mười chín thế kỷ, đạo Lăo hầu như dần dần vắng bóng ở Việt Nam . Cho đến đầu thế kỷ XX, khi đạo Cao Đài ra đời, dường như có những mối liên hệ gần gũi với đạo Lăo . Đạo Cao Đài thờ Ngọc Hoàng Thượng đế (cũng là Cao Đài Tiên ông), Diêu Tŕ Kim mẫu, Thái Thượng Lăo quân, v.v ... cũng là các đấng vốn được sùng bái, tôn thờ trong đạo Lăo cổ truyền . Bản thân các tín đồ Cao Đài vẫn coi ḿnh là học tṛ Tiên, tu đạo Tiên . Phương tiện cơ bút là một điểm tương đồng khác giữa đạo Lăo xưa và đạo Cao Đài nay . Việc dạy giáo lư qua h́nh thức thơ phú trong Cao Đài cũng cho thấy đường nét của văn hóa Lăo-Trang . Như vậy, phải chăng sau mười chín thế kỷ, đạo Lăo ở Việt Nam không hoàn toàn biến mất ? Phải chăng đă có một sự hồi phục đạo Lăo xưa trong một nền tôn giáo mới là Cao Đài ? Trả lời thích đáng câu hỏi này cần có sự tiếp tục nghiên cứu trong một chuyên khảo khác về Tam giáo Việt Nam, kể từ đầu thế kỷ XX trở đi .

LÊ ANH DŨNG
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 09:03 PM.

A vBSkinworks Design