| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Sư dốc chí cầu quả Phật Vô thượng Bồ đề nên nhiếp niệm nơi núi rừng, ở yên chốn vắng vẻ, tư duy Phật pháp, mở rộng quy mô to lớn, c̣n măi với trời đất, gầy dựng nền tảng cho tông và giáo, quần sanh được lợi lạc, pháp giới đều thấm nhuần ân đức. Sư từng chọn nơi phúc địa Việt Nam, với cảnh chùa Quỳnh Lâm, Hoa Yên là hai cảnh danh lam, khiến trở thành như trên hội Linh Sơn nước Tây Thiên Trúc, là cột trời ở Việt Nam, bảo phường của Phật Tổ, nêu cao đây là Cực lạc. Người dân thường th́ thuế vụ đầy đủ, làm thích tử tu hành th́ đốt hương chúc Thánh: “Mạch nước lâu dài, Thiền tông sáng rỡ, tượng pháp lưu truyền, độ người vô lượng.” Từ đó Sư hăng hái phát chí nguyện lớn, khuyến hóa mọi người khắp nơi đem tiền của kết duyên lành, góp phần công đức, rồi ra sức tạo dựng đài “Cửu Phẩm Liên Hoa.” Qua chín năm th́ hoàn thành ba đài ở ba nơi: 1. Đài Cửu phẩm ở chùa Quỳnh Lâm, núi Tiên Du. 2. Đài Cửu phẩm ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử. 3. Đài Cửu phẩm ở chùa Linh Ứng, huyện Thanh Hà. Sư lại khắc in các Kinh Pháp Hoa... đem hết ḷng làm Phật sự để đền đáp ân Phật. Tượng đức Di Đà nổi bật trên đài Cửu phẩm, và thêm tu sửa tượng điện, gác chuông chùa Long Động, trong ngoài được vuông tṛn, công đức viên măn, cũng không quên nguyện lực, quyết chí công phu chỉ cầu quả Phật. Núi Yên Tử vốn là chỗ tu hành, tùy thời dạo đi qua lại chùa Hoa Yên, Long Động và am Thiền Dược, được thú ở yên lặng lẽ, lại có phước duyên sanh ra gặp được Phật pháp. Triều Lê niên hiệu Chính Ḥa (1680 - 1705), đức Giác Hoàng Cổ Phật sanh trở lại để mở bày hiển rơ tạng Kinh. Mây từ nhuận khắp, mưa pháp thấm đều, từ hàng Thích tử cho đến muôn dân đồng được hưởng ân huệ. Vua tôi mừng tụ hội, đúng thời tiết nhân duyên, Phật pháp hiện tiền. May được chứng quả mà gánh vác Phật pháp, thay Phật tuyên dương. Đă rơ biết pháp tánh rỗng rang vắng lặng, tṛn đồng thái hư; Chân như trong lặng nhiệm mầu, vốn không một vật. Tuy trong ánh tịch quang vốn không một pháp, mà phương tiện chỉ bày có nhiều cửa. Xét ngày xưa có thực hành, ngày nay mới có thể học theo. V́ vậy Kinh Kim Cang phần ba mươi hai. Hội giải câu “Như như bất động”, Thiền sư Xuyên Lăo nói: “Một câu rốt sau mới đến lao quan. Liền được chư Phật ba đời bốn mắt nh́n nhau, sáu đời Tổ sư có phần thối thân.” Đáng bảo là sông ng̣i toàn đóng băng, nước chẳng thông thoát; tột mắt đều là gai góc, không chỗ đặt chân. Đến trong ấy thêm một mảy tơ, như trong mắt để kim; bớt một mảy tơ, dường trên thịt lành khoét thành thương tích. Chẳng phải v́ đoạn dứt yếu tân, bởi do người biết pháp e ngại. Tuy nhiên như thế, Phật pháp chỉ như trên đây, bèn thấy trên đất bằng chết ch́m, đâu có đèn đèn mồi sáng măi. Thượng tọa Xuyên ngày nay chẳng khỏi đoạt thức ăn trong miệng cọp mạnh, giành hạt châu dưới hàm rồng dữ, mở toang cửa mầu của bậc Thánh trước, người hậu học có lối tiến thân. Buông ra một đường, lại đâu có ngại? Nói th́ toàn bày pháp thể, nín th́ riêng lộ chân thường, động th́ chiếc hạc mảnh mây, tịnh th́ an non sắp núi, tiến một bước như voi chúa xoay đầu, lùi một bước tợ sư tử gầm rống, pháp vương pháp lệnh đang hành, liền hay tự tại đối với pháp. Chỉ như một câu rốt sau, làm sao nói? Lại nói được chăng? Mây ở đầu non nhàn quá đỗi, Nước chảy dưới khe rất rộn ràng. TỤNG: Được chỗ thảnh thơi hăy thảnh thơi, Mây tự bay cao nước tự trôi. Chỉ thấy mây đen nhồi sóng lớn, Thuyền câu ch́m đắm chửa nghe rồi. Âm: Đắc ưu du xứ thả ưu du, Vân tự cao phi thủy tự lưu. Chỉ kiến hắc vân phiên đại lăng, Vị văn trầm khước điếu ngư chu. Xưa nay không lối nào khác, người thông suốt th́ cùng chung một đường. Chư Phật đều có để phương tiện, vốn thuật lại chí nguyện tiếp nối công phu. Tâm mong người trở thành rường cột cho Phật pháp, để làm mẫu mực cho người sau soi xét noi theo. Tôi theo khắp các Kinh trong Đại tạng, mở bày tâm địa ra nơi từ chương (chữ nghĩa) mà soạn thành một bản luận lưu truyền, đặt tên là “Kiến Tánh Thành Phật.” Nhằm nêu rơ nguyện lực ra đời, và giúp lo gánh vác sứ mạng Như Lai, đời đời tiếp nối ngọn đèn Phật Tổ, làm sáng rực con mắt của trời người. Đời sau ai là người có chí lớn, giữ ǵn gia phong của Phật, pḥ tŕ tượng pháp an ổn lâu dài, th́ phước tuệ trang nghiêm tối thắng. Hoặc kẻ thấy đài Cửu phẩm hư đổ và các Kinh bản cũ mục, th́ hăy khuyến hóa đàn na, cùng nhau góp sức hưng công tu bổ lại, tự rất mừng vui cho ḿnh, thật đă làm được nhân duyên tốt đẹp. Nếu hay hết ḷng đền đáp ân Phật, sẽ sớm được Di Đà thọ kư. Kệ cảnh tỉnh đàn na: Quyến thuộc đều bỏ đi, Tiền của trả lại người. Chỉ căn lành ǵn giữ, Đường hiểm lương thực đầy. Âm: Quyến thuộc giai xả khứ Tài hóa tán hoàn tha Đản tŕ tự thiện căn Hiểm đạo sung lương thực. Nghĩ đến lạnh hăy lo dệt áo ấm, chớ đợi sau khi đă lạnh. Nghĩ đến khát hăy lo đào giếng, chuẩn bị trước khi chưa khát. Lo sẵn cầu đ̣, làm phước niệm Phật, in Kinh tạo tượng, như gấm thêm hoa, lấy làm công án văng sanh Tây phương, cửu huyền thất tổ cùng chung được vượt lên chín phẩm hoa sen nơi thế giới Cực lạc. Kinh nói: “Ḿnh được độ rồi độ người, tự lợi rồi lợi tha, người đă biết tỏ bày cho người chưa biết, người giác trước chỉ dạy cho người giác sau.” Như một trăng hiện thành các trăng nơi ngàn sông, trăng trăng rọi sáng rực; tợ một ngọn đèn mồi truyền cho đèn nơi muôn nhà, đèn đèn nối tiếp sáng măi. Chính quyển Luận này là tâm tông của Phật Tổ. Chính quyển Luận này là Kiến tánh thành Phật. Diệu lư của luận này như tia lửa mặt trời, được chừng một mảy tơ th́ sáng rỡ không cùng tận. Xem học mà ngộ đạo th́ như uống nước cam lồ. Người lượng cao quán sâu th́ suốt tột đáy nguồn của phá Hội rằng: Bủa lưới giăng ngang sông, Được cá một mắt lưới. Kinh Lục đầy pháp giới, Ngộ đạo không một chữ. Âm: Hội Vân La vơng bố hoành giang, Đắc ngư nhất mục vơng. Kinh Lục măn pháp giới, Ngộ đạo vô nhất tự. Bản tánh rỗng lặng, tṛn đồng thái hư, trong lặng nhiệm mầu và tṛn sáng, trọn không một vật. Nên biết, ngàn Kinh muôn Luận đều là lời nói chỉ mặt trăng, đâu ích ǵ với lư này. Tin tức ấy như thế! Như thế! Rơ biết muôn pháp, tạm đồng với hoa đốm trong không. Nếu là bậc thượng cơ, ngại ǵ một tiếng cười! Bài kệ ngộ đạo: Phật Tổ trong ba đời, Bốn mắt cùng nh́n nhau. Xưa nay không hai lối, Thành Phật sát na thôi. Âm: Tam thế chư Phật Tổ, Tứ mục cộng tương quan. Cổ kim vô nhị đạo, Thành Phật sát na gian. Đó là chân không vô tướng, là cha mẹ của trời đất muôn vật, làm nền tảng cho thế giới sanh linh, suốt cả xưa nay, chẳng sanh chẳng diệt. Mây tụ th́ tối mà chân không chưa từng tối. Mặt trời soi th́ sáng mà chân không chưa từng sáng. Ẩn hiển cùng bày, sắc không chẳng hai, trời đất muôn vật, chỉ một thể nguyên thần, vô trụ vô vi. Chợt hiện ra mặt thật xưa nay, ĺa danh ĺa tướng, mở toang then chốt trên đảnh môn hướng thượng, đèn tâm của Phật Tổ truyền sáng măi không cùng tận. Khi hiển mà nói, th́ có tám muôn pháp môn. Với mật mà ngộ, th́ chỉ bốn mắt nh́n nhau. Tôn kính chúc rằng: Quốc gia có măi, ngôi báu kim luân cùng với trời đất c̣n hoài. Phật đạo không cùng, nối Tổ truyền tông đồng với Thứu Phong chẳng mất. Kính Đề Tựa. Trường thủy, hàng hậu học truyền giữ Tổ Thiền, Thích tử Trương Viết Đức tự Tính Phương giữ bản này. Triều Lê niên hiệu Chính Ḥa thứ 19 (1698), ngày lành mùa Đông năm Mậu Dần khắc in lại. Bản khắc in lưu trữ tại chùa Long Động, núi Yên Tử, nay lại dời ra lưu trữ tại chùa Quỳnh Lâm để cho người sau hiểu rơ. Thích Tử Chân B́nh ghi chép. |