| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Cuối cùng là giác, giác là tánh, hay tâm chơn của chư Phật. Trong giác có chứa sẵn rồi năm ấm. Trong mỗi một ấm đều có chứa ảnh hưởng của bốn cái kia và cái giác. Cũng như trái dừa non có vỏ (vật, thân), lớn có thịt cơm (trí) già có (mộng) hột, th́ vỏ thịt cơm đều tiêu lần (tâm). Như vậy là trong vỏ đương ngầm tựu hột (mộng) và thịt cơm, trong thịt cơm có hột (mộng), hột (mộng) ấy sẽ nảy tượng. Trong hột (mộng) chứa thể chất của thịt cơm, nước, vỏ, cho nên nói rằng: Chúng sanh có Phật tánh, có ảnh hưởng Phật sẽ thành tựu quả Phật, và cũng có thể nói rằng: Trong Phật có chúng sanh, nhưng bởi hột giống không gieo trồng th́ không lên, bằng ương xuống ắt cũng mọc liền. Phân chia ra ngũ uẩn, chỉ rơ từng giới hạn ấy để cho dễ phân biệt, cái giác có từ đâu? Giác là ǵ? Tại sao mà có? Có để chi? Sự thật nơi năm pháp cái nầy ta thấy thân sanh tâm trước, trí sanh tánh trước. Khi có tánh rồi, tánh sanh trí sau. Có tâm rồi. tâm sanh thân sau. Như vậy là từ thân đến tánh, từ địa ngục đến Niết Bàn, là con đường tiến hóa, hay lớp học của chúng sanh cũng gọi là đạo. Từ đầu vô minh đến cuối cùng giác ngộ là đắc đạo. Nơi đó chỉ có cái biết. Từ không biết đến biết hoàn toàn. Từ vô động sanh ra động, và đến nghỉ ngơi, c̣n tồn tại hột giống, hay cái ta chắc thiệt. 10. NGŨ UẨN QUÁ THẠNH CHÚNG SANH KHỔ Sống trong cơi đời hiện tại chung quanh ta, mọi vật dường như quyến rũ ta, sa vào ṿng ham muốn măi măi không thôi. Ḱa như dinh thự lâu đài nguy nga tráng lệ, gấm vóc tố sa đẹp tốt mịn màng, cao lương mỹ vị bỉ bàng ngon quư… tất cả ngần ấy như thúc giục, như lôi cuốn con người vào ṿng bận rộn, v́ thức ăn, sự mặc cùng chỗ ở, mà thiết tưởng mỗi người trong thế gian, khó bề tránh cưỡng được ba điều ấy, một khi đă có sắc thân. Huống chi với kết quả của văn minh vật chất, cơ khí đă rực rỡ kỳ công khiến cho ngày nay, khắp nơi dẫy đầy vật chất, cung phụng cho ḷng khao khát, muốn ham, không lượng của loài người. Với bao vật SẮC hữu h́nh ấy, một khi nó quá thạnh hành, ta phát sanh ư muốn thích ưa, THỌ cảm vui chịu, TƯỞNG tượng tư lương, tính sao chiếm lấy cho kỳ được, sanh ra HÀNH vi, bởi nơi vọng THỨC. Thế rồi quanh quẩn bao nhiêu đó măi, khi chưa được cũng khổ, khi đang có cũng khổ, và khi đă mất lại càng khổ. Ngũ uẩn nầy là nguồn gốc phát sanh ra sự khổ, lại có hai pháp: khách quan và chủ quan. Như đoạn trên, chỉ về ngũ uẩn làm khách quan bên ngoài, xâm nhập vào ta, mà sanh rồi khổ, nhưng bên trong cũng có chủ quan tiếp nhận khách quan kia. Bởi ta có sắc thân, mới có thọ cảm tư tưởng hành vi và trí thức (vọng) mà tiếp nhận h́nh sắc thể chất bên ngoài, rồi mới sanh thọ cảm, tư tưởng, hành vi và trí thức (vọng). Lại cũng v́ vọng thức ta mới có hành vi, bởi có hành vi mới có tư tưởng, bởi có tư tưỏng mới có thọ cảm, bởi có thọ cảm mới có sắc thân. Như thế là ta đă mắc vào trong guồng máy của ngũ uẩn, tức là không c̣n ngũ uẩn, ngũ uẩn đều không, không ngũ uẩn gọi là giá chơn, v́ có ngũ uẩn vốn là mê vọng. 11. PHÁP DIỆT NGŨ UẨN Bởi có sắc thân, lâu ngày mới sanh thọ cảm. Bởi có thọ cảm, lâu ngày mới sanh tư tưởng. Bởi có tư tưởng, lâu ngày mới sanh hành vi. Bởi có hành vi, lâu ngày mới sanh thức trí. Bởi có thức trí, lâu ngày mới sanh giác chơn. Hễ giác chơn th́ không c̣n thức trí, hành vi, tư tưởng, thọ cảm sắc thân nữa. Không sắc thân có đâu thọ cảm. Không thọ cảm có đâu tư tưởng. Không tư tưởng có đâu hành vi. Không hành vi có đâu thức trí. Không thức trí có đâu giác chơn! Giác chơn tức là lư không, hay cũng nói ngược là: không thức trí mới gọi là giác chơn. Đến đây không c̣n mê lầm trong vọng ảnh nữa, th́ ư chí, khổ h́nh, đâu có ở tại chỗ nào? Muốn giác chơn th́ phải diệt trừ thức trí. Muốn không thức trí phải bỏ hành vi. Muốn không hành vi, phải đùng tư tưởng. Muốn không tư tưởng, phải dứt thọ cảm. Muốn không thọ cảm, phải không sắc thân. Nghĩa là hăy coi sắc thân như không có, hay là chết rồi, hết mê tríu., dứt luân hồi, không c̣n nhập thai trở lại. Giác chơn là trọn yên vui, không khổ năo, cảnh cao viễn nhứt của chúng sanh, cũng là bậc không c̣n trở lại. Ngũ uẩn cũng là nấc thang hay tŕnh độ, lớp học tiến hóa của chúng sanh, mà trong ấy cái khổ là gió làm duyên để đưa lên. Lên đến cái tột vui là Phật, Niết Bàn, hay mục đích của chúng sanh. Thế nên khổ là tiến hóa, là bài học đưa từ vật chất lên đến tinh thần. 12. NGŨ UẨN NẾU MẤT CHÚNG SANH ĐIÊN Ngũ uẩn là duyên tiến hóa của chúng sanh, từ đất,nước, lửa, gió đến lớp cỏ cây, con thú, loài người, bậc Trời và rốt ráo là vị Phật. Cho nên nói: Ngũ uẩn ví như một thân h́nh: Thức là đầu, hành là tay, tưởng là ngực, thọ là bụng, sắc là chân, gồm cả năm thể thành một thân h́nh. Có ba thứ thân h́nh: 1. Sắc ác, thọ ác, tưởng ác, hành ác, thức ác, thân h́nh đen (địa ngục). 2. Sắc thiện, thọ thiện, tưởng thiện, hành thiện, thức thiện, là thân h́nh trắng (thiên đường). 3. Sắc trong sạch, thọ trong sạch, tưởng trong sạch, hành trong sạch, thức trong sạch, là thân h́nh trong sạch (Niết Bàn). Trong sạch là thanh tịnh xuất gia giải thoát giác ngộ chơn như, khỏi bụi trần ô nhiễm. Lại nữa ngũ ấm cũng ví như một cái nhà: Thức là nóc nhà, hành là bốn vách, tưởng là đồ vật, thọ là kho lẫm, sắc là nền nhà, c̣n giác là người chủ nhà, tự do an lạc, hay mê là kẻ tội tù, nhốt để chịu khổ phạt. Mê th́ ở quanh quẩn trong cơi địa ngục, thiên đường, khổ năo. Giác th́ ra khỏi nhà ngũ uẩn, được an vui Niết bàn. Niết Bàn là kẻ ra khỏi trường, sau khi thi đậu, hết học. Luân hồi là kẻ c̣n đang học sau, c̣n mệt nhọc, mới vào trường, mới lên lớp. (Ta chỉ hiểu rơ thông đường lối vậy thôi, chớ Niết Bàn không phải nhảy một cái mà đến. Nếu ta c̣n ở lớp thấp, th́ hiểu để cố gắng và yên ḷng, lâu hay mau, mà ta quyết định, th́ có ngày đến được). Con đường chúng ta c̣n dài, ấm tứ đại sanh ra, nào có ai muốn bảo, nhưng khi đă có cái sống, cái chết rồi, th́ vui hơn là khổ. Vui đạo lư vĩnh viễn hơn vui thiện. Vui thiện nhẹ hơn vui ác. Vui ác, vui vật chất là gốc khổ sầu tai họa. Vậy ta nên đạp ác là đất, đội thiện là trời mà đi trên đường chơn lư của Phật thánh, mới đắc đến Niết Bàn vĩnh viễn được. Trái lại địa ngục vô giáng là nơi tiêu diệt, là cảnh giới của kẻ quá khổ mà điên. Cái khổ sẽ diệt mất thức trí, khổ nữa diệt mất luôn thọ cảm. Như một kẻ quá điên kia, ban đầu mất thức trí, như trẻ nhỏ chơi với trẻ nhỏ. Kế nữa mất hành vi như con thú chơi với thú, lần đến mất tư tưởng, như cây cỏ, ở nơi lùm bụi. Sau rốt thọ cảm dứt, th́ c̣n sắc thân trơ như chết, và khi sắc thân chết là đất nước ră luôn. Đó là v́ mất ngũ uẩn, mà người ta tiêu diệt. Sự tiêu diệt bởi cái khổ, khổ phát sanh tại gốc ác. Ác là trứng sâu, ăn ṃn chết cái biết, cái sống là cành cây ngũ uẩn. Chúng ta h́nh như ai cũng có con vi trùng khổ, vậy phải bắt lần, sửa chữa, nuôi cây lấy giống để đời. Khổ là chết luôn, vui là sống măi, ác là bịnh độc, thiện ấy thuốc hay. Muốn cho sắc thân thiện, th́ phải coi như là không. Sắc thân không, th́ thọ cảm được yên vui. Thọ cảm được yên vui, th́ tư tưởng được huyền bí. Tư tưởng được huyền bí, th́ hành vi được thần thông. Hành vi được thần thông, th́ thức trí được huệ sáng. Thức trí được huệ sáng, th́ chơn như được giác ngộ. Sắc thân ác, là bởi coi như có. Sắc thân có, th́ thọ cảm rối khổ. Thọ cảm rối khổ, th́ tư tưởng không linh nghiệm. Tư tưởng không linh nghiệm, th́ hành vi theo vật chất. Hành vi theo vật chất, th́ thức trí phải lưu mờ. Thức trí lưu lờ, th́ mê lầm vọng động, không c̣n biết đầu đuôi thiệt giả, xưa nay, trên dưới chi hết… Chỉ sống bằng cách nhắm mắt đưa chơn, đánh liều mặc cho cái ư dục lôi kéo trối kệ theo trước mặt, do đó mà nhục vinh lợi hại, khổ vui làm gió, xô đẩy ngửa nghiêng đầu óc đảo lộn. Rồi th́ sống chết, đến đi, c̣n mất, có không, mặc sức cho vô thường hăm hại, phạt măi một chỗ, luân hồi măi một nơi, ấy là chưa kể sự đi lui, trăm kiếp, ngàn đời không trông tiến hóa! 13. PHÁP NUÔI NGŨ UẨN Từ khi một quả địa cầu nổ xẹt tắt lửa, th́ c̣n là một lớp dày lợn cợn. Lâu về sau chất nặng lóng xuống là đất, trên là nước, trên nữa là hơi. Đất nặng dẽ, đặc dày; lâu ngày hầm nóng phát lửa, lửa cháy thổi mạnh lên, nước đất cuốn tṛn lại làm bọt, gọi quả thủy tinh. Sau đó đất nổi lên là địa cầu. Vũ trụ có vô số địa cầu không thể đếm, ví cái nổi, cái tan, dồn qua tẻ lại. Vũ trụ là vô minh hay cái không, không biết; là cảnh giới bao la, tối đen và im lặng. Bởi có địa cầu mới có nhựt nguyệt, bằng không th́ âm thầm không không. Đất nước lửa gió ở trong cái không, thành ra chơn lư tương đối, thế nên lẽ có, lẽ không, luận măi không rồi, nhơn duyên sanh hóa là sau nầy; c̣n đầu tiên ta chỉ nói là tự nhiên, trong tự nhiên sẵn chứa CÁI KHÔNG, CÁI CÓ vậy thôi. Ngũ uẩn có từ nơi quả địa cầu tứ đại, chỉ rơ trước mặt sự thật. C̣n trước tứ đại, quá xa vời, dầu có nói luận, e thêm khó hiểu. Ta chỉ biết rằng: sự sống trong vũ trụ, quả địa cầu là ngũ uẩn, th́ thân ta đây, một thể sống trong vũ trụ, cũng có đủ ngũ uẩn không sai. Ta có sắc thân, thọ cảm, tư tưởng, hành vi, thức trí. Vậy ta xét đến điều ác, điều thiện, của ngũ uẩn: Sắc thân ác sanh sát sanh. Thọ cảm ác sanh trộm cắp. Tư tưởng ác sanh tà dâm. Hành vi ác sanh vọng ngữ. Thức trí ác sanh uống rượu. Đó là năm điều hại phải răn ngừa, v́ ác ví như con sâu, sanh nơi cây và trở lại ăn hại chết cây. Nó sanh tại nhánh nào th́ nhánh đó phải chết trước, và lần hồi sẽ chết hết cây. Sát sanh th́ sắc thân phải chết. Trộm cắp th́ thọ cảm phải chết. Tà dâm th́ tư tưởng phải chết. Vọng ngữ th́ hành vi phải chết. Uống rượu th́ thức trí phải chết. Vậy những ai muốn nuôi cái sống, th́ phải nuôi ngũ uẩn để sanh giác chơn, như trồng cây lấy trái vậy. Sắc thân thiện sanh nhơn ái. Thọ cả thiện sanh nghĩa ân. Tư tưởng thiện sanh lễ phép. Hành vi thiện sanh tín thiệt. Thức trí thiện sanh trí huệ. Trí huệ mới kết quả chơn, thiện là sống, ác là chết. Nhơn ái nuôi sắc thân. Nghĩa ân nuôi thọ cảm. Lễ phép nuôi hành vi. Trí huệ nuôi thức trí. Có thức trí mới được giác chơn. Giác ngộ rồi mới biết chơn như. Muốn chơn như phải thường giác ngộ. Ấy là pháp tu vắn tắt, nếu ai hành như thế, cũng thấy rơ sự giải thoát, v́ hết tham, sân ,si, là hết khổ, không khổ tức là đạo. |
| ||||
|
14. NGŨ UẨN CỦA THỜI CUỘC Cơi đời ngày nay có bởi do ngũ uẩn. Như một người kia, từ nơi xứ sở yên vui tĩnh mịch của ḿnh, đi qua một xứ văn minh khác, thấy mọi vật máy móc tối tân tinh xảo, sáng chế lạ lùng như: nhà cất cao ngất ngưởng chọc trời, xe không đẩy mà chạy, thuyền không chèo mà vượt biển khơi. Người có thể bay trên hư không hay lăn xuống dưới đáy nước, bằng máy bay, tàu lặn… mỗi mỗi vật SẮC, đều lạ lùng kỷ diệu, khiến người sanh THỌ cảm thích ưa. Khi về xứ hằng lo nhớ TƯỞNG tượng, mới khởi sự thi HÀNH tạo sắm. Càng kinh nghiệm, khéo léo, mở mang THỨC trí càng phân biệt. Bởi có thức trí phân biệt mới cố chấp say mê, sanh t́nh vọng ư chí, cho đến đỗi lăng quên đường đạo đức; lạm dụng cơ khí, để làm cho thỏa ḷng tham vọng bất công, gây ra sự oán cừu sân giận, hai khối chạm nhau, chiến tranh khổ, con người mới giác ngộ, bỏ cái trí, là chơn như không mê vọng nữa, cũng gọi là nín nghỉ hết mê lầm. Tức là chừng nào con người được học, được kinh nghiệm, mới nhận ra cái vô ích, vố lư của ḿnh. Mới thấy điều thiện là cần, và trau dồi cái giác chơn là quí báu nhứt. Chừng đó sự tu tự nhiên mới hay vậy. 15. CHƠN LƯ CỦA NGŨ UẨN Về thuyết ngũ uẩn, rất cần cho sự hiểu biết của chùng ta, v́ sau ki hiểu biết, ta mới có sự tu tập đúng theo chơn lư, lối tu rất tự nhiên, có thể cải thiện cho đời sống của chúng ta nếu chúng ta nhận ra cuộc sống con ít nhều khuyết điểm. Ta có thể t́m tất sẽ thấy ngũ uẩn có nhiều pháp khác nhau, hầu như tương phản như thuyết ngũ uẩn của vũ trụ vạn vật, kể từ quả địa cầu mới nổi đất, nước,cỏ, cây, thú, vật sinh ra, và tiến hóa cho đến lớp người, Trời Phật… Thuyết ngũ uẩn của một đời người, từ lúc ở trong bào thai đến khi sanh rra, tuần tự theo lớp tuổi của sắc thân tiến hóa… Thuyết chũ uẩn của con người, từ khởi điểm của vọng thức cho đến lúc có sắc thân, hay từ lúc có thân h́nh lần lần đến thức trí… Thuyết ngũ uẩn bởi vọng mê tríu mà khổ… Thuyết ngũ uẩn chia hai pháp: có và không, thiện ác, giác và mê lớn và nhỏ, thân và tâm, chủ và khách… Thuyết lư vốn không cùng, cho nên ngũ uẩn phải bị phân tách ra từng loại pháp môn, nhưng tóm lại cũng không ngoài chơn lư: “ Làm cho con người mau giác ngộ”. Để khi giác ngộ rồi, con người t́m ra lẽ sống an vui, không c̣n khổ năo với sự vọng lầm, chấp lấy cơi đời là thật, cái thân ta là thật. Chính nghĩa hai chữ chơn lư, chơn là không vọng tự nhiên, lư là lẽ, lẽ thật tự nhiên. Chơn như tự nhiên là gốc vốn nguyên xưa. Nếu ta đang rối khổ, mà hiểu được lẽ tự nhiên chơn như, là sẽ hết khổ. Có thiện có chánh cũng đến tự nhiên chơn như, không ác không tà cũng đến tự nhiên chơn như: Kẻ tối trong Niết Bàn cũng yên vui, người sáng trong luân hồi cũng yên vui. Thế là sao cụng được, cũng xong, chỉ cần nên biết cái tự nhiên chơn như là đủ. TÓM LẠI: chúng sanh, sanh rra là bởi ấm, do nhơn duyên chuyền nẩy, cái nầy cái kia sanh cái nọ. ái có sanh càng hóa, lâu lắm mới được thân người, khó lắm mới có thân người, ai mà sống đúng chơn lư, th́ sẽ trọn vui trọn sống, đến Niết Bàn một kiếp một chẳng sai ngoa. Vậy chúng ta phải đến với giác chơn. |