| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Sự thực th́ dù không biết ǵ về triết lư hay triết học, mỗi một con người sống trên mặt đất này (vẫn luôn luôn sống theo một cái ǵ đó trong đầu hay trong tim một cái ǵ đó có thể là một ư tưởng hay một cảm giác hay một t́nh cảm). Dù biết suy nghĩ hay không biết suy nghĩ, người ta cũng phải bị bắt buộc suy nghĩ một cái ǵ đó, dù cảm cái vô cảm giác, cái cảm giác lănh đạm thờ ơ lạnh lùng. Vẫn luôn luôn có một cái ǵ đó xô đẩy đời sống ḿnh đi về hướng này hay đi về hướng khác hoặc không đi về hướng nào khác. Một cái ǵ đó đă quyết định đời sống ḿnh mà ḿnh ít khi nhận ra được cái ấy là cái ǵ. Cái đó thực hơn cả đời sống của ḿnh cái đó làm ra cái ư nghĩa hay cảm giác rằng ḿnh có thực. Nhiều lúc cái ḿnh cảm thấy thực nhứt lại không thực ǵ cả, và ngược lại cái hoàn toàn không thực lại tác động quyết liệt nhứt trên vận mệnh ḿnh. Cái hoàn toàn không thực là cái ǵ ?. Đó là cái không bao giờ thể hiện và thực hiện cụ thể hữu t́nh trọn vẹn trong đời sống quá khứ và hiện tại của ta. Giống như những giấc mộng đẹp lúc ấu thơ, giống như người yêu mong đợi từ muôn kiếp không bao giờ gặp được trong quá khứ và hiện tại, giống như những hoài băo hoài vọng của tuổi trẻ, những lư tưởng siêu việt của cuộc đời, niềm hạnh phúc trọn vẹn, sự đáp ứng toàn triệt, sự kiến tánh thành Phật trong giây phứt hiện tại, sự đạt đạo và nắm lấy chân lư, sự tỉnh thức thường xuyên từ một giây phút mới qua và một giây phút đang hiện tới, ḷng yêu thương tràn trề, trí nhớ trọn vẹn, sự thông minh tột đỉnh kéo dài liên tục, cơn xuất thần liên miên từ giây phút này đến giây phút khác. Tất cả những ǵ tôi vừa kề qua đều là những cái không bao giờ thể hiện và thực hiện cụ thể hữu t́nh trọn vẹn trong đời sống quá khứ và hiện tại của ta; đó là những cái hoàn toàn không có thực trong quá khứ và hiện tại. Và trong tương lai ? Chỉ nh́n lại quá khứ và hiện tại th́ đă thấy được gần như trọn vẹn tương lai và ngược lại, tất cả mọi quan niệm thời gian theo đường thẳng một chiều, nếu ta đủ khả năng siêu việt lọt vào quĩ đạo của thời gian ṿng tṛn theo điệu rắn cắn đuôi rắn th́ tương lai xảy ra trước cả hiện tại và hiện tại đă xảy ra trước quá khứ, và hiện tại của ta chỉ là đứa con của tương lai và là mẹ của quá khứ. Như thế những cái hoàn toàn không thực ở quá khứ và hiện tại chỉ là những cái hoàn toàn không thực từ trước ở tương lai cố định. Hiểu tới mức độ này th́ tương lai, quá khứ và hiện tại cũng là những cái hoàn toàn không có thực. Những cái hoàn toàn không có thực ấy chỉ có thực mỗi khi chúng ta cần nghĩ rằng chúng có thực; chính ư nghĩ của chúng ta được thể hiện và (thực hiện qua ngôn ngữ ư niệm tạo ra cái thực và cái không thực.) Ư nghĩ hữu hạn của ta chỉ tạo ra sự thực hữu hạn. Dù nói theo duy thực và duy vật, sự thực tạo ra ư nghĩ th́ sự tạo tác ấy cũng chỉ là ư nghĩ rằng có cái này tạo ra cái kia, nhưng nếu cái này không thực và cái kia không thực và cả cái gọi là tác động cũng không thực th́ tất cả sự đi t́m lư do, lư lẽ, nguyên cớ (4 lư do của Aristote) đều mất nền tảng v́ không có cái gọi là tự có bản chất, tự có thực chất, tự có thực tính, tự có thực hữu riêng của ḿnh (nói theo Long Thọ th́ không có cái tự có bản tính thực tính nơi ḿnh. Svabhàva, cũng không có cái có bản tính thực tính nơi cái khác, Parabhàva) (Nàgàrjuna, Mùlamadhyamaka- kàrikà, kệ 3, chương 1, Quán nhân duyên, Pratyaya paŕksà: "na hi svabhàvo bhàvànàm pratyayàdisu vidyate / avidhyamàne svabhàve parabhàvo na vỉdyate /; dịch nghĩa: "không có cái tự có thực tính trong những cái có ở trong những điều kiện liên hệ tương quan / nếu không có cái tự có thực tính th́ cũng không có cái có thực tính nơi cái khác"). Tôi tự cho rằng tôi có thực hay đó chỉ là một ư nghĩ về tôi đo tôi tường nghĩ về tôi hoặc một ư nghĩ hay một h́nh ảnh về tôi do kẻ khác hay những kẻ khác tưởng nghĩ về tôi ? Ngay đến cái gọi là "tôi" chỉ là một ư nghĩ và cảm giác liên tục hay cố làm ra về "liên tục" do ngôn ngữ văn phạm cú pháp tạo thành ? Lúc nào tôi cảm thấy tôi có thực nhứt ? Lúc ăn uống, lúc làm ái t́nh, lúc yêu đương, lúc thù hận, lúc đau khổ, vui sướng, lúc đi đứng nằm ngồi, thở vô thở ra, lúc lái ô tô, lúc đi làm việc kiếm tiền, lúc đi chợ hay lúc ngó đồng hồ và nhứt là lúc trải qua tám cơn gió đời như: ĐƯỢC và THUA (chữ Pàli gọi là “làbha" và "alàbha"), DANH THƠM và TIẾNG XẤU (yasa và ayasa), CA TỤNG và KHIỂN TRÁCH (pasamsà và nindà), HẠNH PHÚC và ĐAU KHổ (sukha và dukkha). Phật giáo nguyên thủy gọi là "Tám Pháp Thế Gian" (Attha-loka-dhamma) (Hán: "Bát Phong”). Tôi cảm thấy rằng tôi có thực v́ tám điều trên, nhưng thực ra v́ tôi hoàn toàn không có thực, v́ tôi đang chết trong đời sống và cái chết là cái có thực nhứt có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chính cái chết chuyển hóa tất cả sự thực thành ra không thực, và ngay đến cái chết chỉ có thực khi tôi c̣n đeo sự sống, dù là một sự sống rất mong manh. Mỗi khi tôi thực sự chết, chết hoàn toàn th́ chính cái chết cũng không có thực. Nơi đây cũng nên nhắc lại câu tuyệt vời của nhà thần bí Đức Abraham a Santa Clara: "Kẻ nào chết, trước khi hắn chết, hắn không chết, lúc hắn chết" (Wer stirbt, che er stirbt, der stirbt nicht, wenn er stirbt) (cf. Heidegger, Ueber Abraham a santa Clara, Gesprochen beim Messkircher Schultreffen am 2 Mai 1964 im Martinsaal). Chỉ khi nào tôi mất hết mọi hy vọng trong đời sống này mà vẫn không bi quan, chỉ khi nào tôi không c̣n mong đợi ǵ nữa trong tương lai mà không phải cay đắng, chỉ khi nào tôi thấy rằng ḿnh hoàn toàn không có thực, chỉ lúc ấy cái chết sáng tạo sẽ chuyển hóa hết mọi sự hữu t́nh. Tại sao gọi là cái chết sáng tạo ? Cái chết sáng tạo không phải chỉ là chết thôi rồi không có ǵ hết (Đó là chủ nghĩa hư vô): cái chết sáng tạo là chết cái sống và sống cái chết, chết trong sự sống và sống trong sự chết; cái chết sáng tạo chuyển hớa hữu h́nh thành vô h́nh và chuyển hóa vô h́nh thành hữu h́nh, chuyển hóa cái này ra mọi cái, chuyển hóa mọi cái ra cái này, chuyển hóa mọi cái này ra mọi cái khác và không c̣n cái nào tự biệt lập ra một cái độc lập không dính líu ǵ với cái khác: tất cả đều trở thành liên hệ mật thiết với nhau, những ǵ mâu thuẫn nhứt kêu gọi lẫn nhau như người t́nh kêu gọi người t́nh, cái không thực nhứt trở thành sự thực và sự thực lại không có thực. Tôi không có thực v́ tôi chuyển hóa không ngừng thực ra không phải tôi chuyển hóa mà tôi là sự chuyển hóa; tôi là tất cả mọi sự chuyển hóa ở không gian thời gian vô tận; tôi là tất cả mọi chuyển hóa của vô tận ư tướng và của vô tận vô tưởng. V́ tất cả mọi sự đều chuyển hóa trùng trùng duyên khởi trong sự sự vô ngại pháp giới, cho nên tôi không c̣n là tôi nữa mà là hóa thân vô hạn của vô hạn vũ trụ sinh thành hoại diệt; tôi không phải là Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT lại chính là Thể Tính Toàn Diện (Samantamukha) của tôi. Tôi không thấy quán Thề Âm Bồ Tát, v́ chưa bao giờ thấy được Thể Tính Toàn Diện của tôi. Muốn thấy được sự Toàn Diện ấy, tôi phải vứt bỏ cái tôi. Tôi không thể tự vứt bỏ tôi được, v́ thực ra không có cái ǵ gọi là tự ḿnh ḿnh có và cũng không có cái ǵ gọi là cái khác. Quán Thế Âm Bồ Tát là SỰ TỈNH THỨC TOÀN DIỆN CỦA T̀NH THƯƠNG VÔ HẠN. Sức mạnh vĩ đại nhứt trên tất cả mọi sức mạnh, đó là T́nh Thương không chủ thể và không đối tượng. T́nh thương là một Tiếng Gọi, tiếng gọi tiếng thành ra Tiếng, âm thanh gọi âm thanh thành ra âm Thanh. Danh Hiệu QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT chính là Quán Thế Âm Bồ Tát, v́ chính Quán Thế Âm là Đại Âm Thanh của tất cả những âm thanh vũ trụ và ngoài vũ trụ. Quán Thế Âm không phải là biểu tượng một cái ǵ khác; Quán Thế Âm là Thực Tại của tất cả mọi thực tại và đồng thời Quán Thế Âm cũng là Biểu Tượng v́ T́nh Thương vô hạn chuyển hóa mọi biểu tượng thường t́nh thành ra thực tại. Bây giờ chúng ta hăy trở lại câu hỏi thứ nhứt "Quán Thế Âm là ai". ứng đáp lại câu hỏi thứ nhứt này cũng là đồng lúc trả lời hết mọi câu hỏi về Quán Thế Âm. |
| ||||
| 2. QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT LÀ AI ? Tôi không bao giờ tự đặt câu hỏi này cho chính tôi, cũng như tôi không bao giờ ngó lên trời rồi đặt câu hỏi: "Trời là cái ǵ ?”. Tôi có thể trả lời rằng QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT là như thế này hay là như thế kia (một cách rất uyên bác và một cách rất triết lư thượng đẳng), những việc làm ấy hoàn toàn khôi hài. Tôi cũng không muốn bắt buộc người ta hăy tin như tôi. Riêng tôi, tôi tin vào Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi tin rằng QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT có thực hơn chính tôi hay có thực hơn bất cứ người nào tôi đă gặp hay sẽ gặp trên mặt đất này. Quán Thế Âm Bồ Tát gần tôi hơn cả chính tôi đối với tôi và xa lạ hẳn đối với tôi như mỗi khi tôi bạo động nổi giận, căm thù ác độc ngu xuẩn ghen tỵ, trả thù, sát hại người khác và dù ngay những lúc như thế, (sự vắng mặt của Quán Thế Âm cũng là một sự có mặt kín đáo nào đó trong tận hơi thở tôi.) Như nét mặt hung dữ của Mahàkàla. (Hiện thân khác của Quán Thế Âm) mà chúng ta thường thấy nơi những chùa Tây Tạng. Người ta có thể cho rằng tôi mê tín dị đoan. Tôi không sợ mê tín dị đoan và lại cho rằng sự tôn thờ khoa học và sự tin tưởng vào lư trí là điều mê tín dị đoan ngu xuẩn và đáng thương hại hơn hết. Tôi không chống khoa học và không chống lư trí, dĩ nhiên tất cả mọi sự đều cần thiết, nhưng điều tôi quan tâm chính là điều quyết định nền tảng của khoa học và nền tảng của lư trí. Đó là sự không nền tảng của chính nền tảng (theo nghĩa tĩnh từ "grundlos" của Schopenhauer hay danh từ "Abgrund" của Nietzsche và của Heidegger và Hoelderlin). Đây là vấn đề quan trọng nhất của tư tưởng hiện đại. Tuy nhiên, Quán Thế Âm không phải là một vấn đề mà là sự huyền bí toàn diện của đời sống và cái chết; Quán Thế Âm là tên gọi một cái ǵ không tên nằm tận sâu thẳm nơi tâm điểm của thể tính con người; Quán Thế Âm là sự bừng vỡ Không Tính, sự đột nhập của Không Tính ngay giữa trái tim đau khổ sợ hăi của con người trên mặt đất. Quán Thế Âm là sự chuyển hóa tan vỡ của Ngũ Uẩn thành Không, chuyển hóa toàn diện Sắc thành toàn diện Không, chuyển hóa toàn diện Không thành toàn diện Sắc (Sự chuyển hóa toàn diện của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Quán Thế Âm là sự Chuyển Hóa Toàn Diện của cả thể xác và tinh thần con người, đẩy xô con người nhảy thẳng vào Hố Thẳm không thể nghĩ bàn được của cái "không sinh, không diệt, chẳng sạch, chẳng dơ, chẳng thêm, chẳng bớt", trạng thái huyền diệu mà tất cả sợ hăi đều phải tan vỡ (Abhaya). Trong kinh Saddhamla-Pundaŕka (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT c̣n có tên là Kẻ Ban Tặng cho sự An Toàn An Ninh, Trú Ẩn, Ẩn Náu (Abhayamdada) cho bất cứ ai đang lo âu sợ hăi (theo bản chữ Phạn) tức là Kẻ Ban Tặng cho Sự Không Sợ Hăi, Thí Vô Úy (theo bản dịch chữ Hán; "Thị QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT ma ha tát, ư bố úy cấp nạn chi trung, năng thí vô úy, thị cố thử Ta bà thế giới, giai hiệu chi vi: Thí vô úy giả). Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Sùrangama Sùtra) Quán Thế Âm Bồ Tát ban bố cho loài người 14 thứ không sợ hăi (14 công đức vô úy), đo ḷng bi ngưỡng đối với loài người, và từ sức mạnh của ḷng từ thiện ra 32 ứng thân để thuyết pháp mà khiến cho mọi loài được giải thoát thành tựu. Quán Thế Âm Bồ Tát đă đắc được 4 vô tác diệu đức không thể nghĩ bàn cho nên theo cơ cảm một là "có thể hiện ra rất nhiều h́nh dung nhiệm mầu, nói ra vô số thần chú bí mật. Trong đó, hoặc hiện ra một đầu, 3 đầu , 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu như thế cho đến 108 đầu, 1000 đầu, 10 000 đầu, 84.000 đầu, đầy đủ các tướng hoặc hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14, 16, 18, 20, 24, như thế cho đến 108 tay, 1.000 tay, 10.000 tay, 84.000 cái tay bắt ấn; hoặc hiện ra 2 mắt, 3 mắt. 4 mắt, 9 mắt, như thế cho đến 108 mắt, 1.000 mắt, 84.000 con mắt báu thanh tịnh; hoặc khi th́ từ, hoặc khi th́ oai, hoặc khi th́ định, hoặc khi th́ tuệ, cứu giúp chúng sanh được rất tự tại". Đó là đo Quán Thế Âm Bồ Tát đă được Đạo tu chứng viên thông vô thượng, cho nên được vô tác diệu đức thứ nhứt không thể nghĩ bàn: "Chứng được tính nghe chí diệu, nơi tâm tính không c̣n có tướng năng vân, các sự thấy nghe, hay, biết không c̣n cách biệt và đều thành một bảo giác viên dung thanh tịnh." Diệu đức vô tác thứ hai của Quán Thế Âm là có "diệu dụng hiện ra mỗi h́nh, tụng ra mỗi chú, h́nh đó, và chú đó có thể đem sức mạnh không sợ hăi mà ban tặng cho các chúng sinh"; diệu đức vô tác thứ ba của Quán Thế Âm là "đi qua bất cứ thế giới nào cũng đều khiến cho chúng sinh hy sinh thân thể ḿnh và hy sinh trân bảo để cầu xin ḷng từ bi Của Quán Thế Âm”; diệu đức vô tác thứ tư của Quán Thế Âm là "có thể đem các thứ quư báu cúng dường các bậc Như Lai ở khắp mười phương và có thể ứng đáp ḷng mong cầu của chúng sinh lục đạo trong pháp giới, ai cầu vợ th́ được vợ, ai cầu con th́ được con, cầu samàdhi (tam muội) th́ được samàdhi, cầu được sống dai th́ được sống dai, và ngay đến cầu cho được Đại Niết Bàn (parinirvàna) th́ được Đại Niết Bàn". Trước khi đi sâu vào chi tiết những ǵ cần thiết về Quán Thế Âm Bồ Tát, chúng ta cũng nên giới hạn và đào sâu danh hiệu "VÔ ÚY THÍ" (Abhayamdada). 3. QUÁN THẾ ÂM LÀ VỊ BAN TẶNG SỰ KHÔNG SỢ HĂI (THÍ VÔ ÚY) THÂM MẬT DANH HIỆU TRONG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có nhấn mạnh hai lần rằng QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT là Vị Bồ Tát hay đem sự không sợ hăi ban tặng cho chúng sinh (Thị Bồ Tát năng dĩ Vô úy Thí ư chúng sinh) , hay ban cho sự không sợ hăi (Năng Thí Vô úy). Trong bản chữ Phạn th́ có sự khác biệt quan trọng lúc hô lên danh hiệu; thay v́ "NAM MÔ QUÁN THẾ BỒ TÁT" như trong bản dịch chữ Hán của Cưu Ma La Thập, trong bản chữ Phạn th́ danh hiệu lại được nhấn mạnh thêm với chữ "KẺ BAN TẶNG SỰ AN TOÀN, SỰ KHÔNG SỢ HĂI" (Abhayamdada); tức là thay v́ hô danh hiệu "NAM MÔ QUÁN THẾ BỒ TÁT" (theo cách dịch thiếu trong bản chữ Hán, chúng ta phải gọi cho đúng theo bản chính chữ Phạn là: "NAM MÔ VÔ ÚY THÍ QUÁN THẾ BỒ TÁT MA HA TÁT” như nguyên ngữ chữ Phạn: NAMO NAMAS TASMAI ABHAYAM DADÀYÀVALOKITESVARAYA BODHI SATTVÀYA MAHÀSATTVÀETI! hay là: NAMO NAMAS TASMAI ABHAYAM DADA AVALOKITESVARÀYA BODHI SATTVÀYA MAHÀSATTVÀYA! có nghĩa là: Xin cúi lạy, cúi lạy qui ngưỡng tôn kính trước ĐẤNG BAN CHO SỰ AN TOÀN, SỰ NƯƠNG NÁU, SỰ TRÚ ẨN, SỰ KHÔNG SỢ HĂI, trước ĐẤNG NH̀N THẤY TIẾNG KÊU CỦA TRẦN GIAN, ĐẤNG BỒ TÁT BỪNG TỈNH, ĐẤNG TÔN QÚI VĨ ĐẠI! Chúng ta thấy rằng dù xưng danh hiệu tắt "NAM MÔ QUÁN THẾ BỒ TÁT" (theo Hán dịch) hay xưng danh hiệu đầy đủ theo nguyên bản Phạn (NAMO NAMAS TASMAI ABHAYAMDADÀYÀVALOKITESVARÀYA BODHISATTVÀYA MAHÀSATTVÀYATI), sự XƯNG DANH HIỆU này là tất cả nội dung bí mật sâu thẳm của toàn thể phẩm Phổ Môn của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Chỉ cần xưng danh QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT với tất cả trọn vẹn tâm hồn hợp nhứt (nhứt tâm xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát) th́ ḿnh sẽ tức th́ được đẩy thẳng vào trung tâm điểm SỨC MẠNH HUYỀN BÍ CỦA T̀NH THƯƠNG TOÀN DIỆN, SỰ GỌI TÊN (XƯNG DANH) là một cái ǵ huyền bí nhứt trong thể tính con người; mỗi khi con người gọi tên người yêu của ḿnh th́ tự nhiên bất ngờ tất cả mọi sự thơ mộng nhứt, cao đẹp nhứt đời ḿnh bỗng bừng sống đậy. Huống chi ở đây là SỰ GỌI TÊN một cái ǵ là Suối Nguồn VÔ Tận của tất cả T̀NH THƯƠNG T̀NH YÊU của cả tam thiên đại thế giới. Chỉ cần gọi tên Quán Thế Âm là đánh thức dậy tất cả cơn Bừng Vỡ vô hạn của Tinh Túy TỪ LỰC và BI LỰC huyền diệu khả dĩ phá vỡ tất cả mọi tai nạn, mọi nghịch cảnh, mọi mâu thuẫn, mọi tranh chấp, mọi đau khổ phiền lụy và tất cả mọi sự sỡ hăi thể xác và tinh thần của con người trên mặt đất. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chúng ta thấy QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT cũng đều được "những cơi nước mười phương gọi là Vị Thí Vô Úy (Vị Ban Cho Sự KHÔNG SỢ HĂI) và được Văn Thù Sư Lỵ Pháp vương tử ca ngợi trong bài kệ: "được sức mạnh tự tại vĩ đại và ban bố Sự Không Sợ Hăi cho tất cả mọi chúng sinh". Last edited by MatNgoc; 02-08-2010 at 02:13 PM. |
| ||||
| 4. SỰ SỢ HĂI LÀ G̀ ? Khi đặt câu hỏi: "Sự Sợ Hăi là ǵ ?" th́ người ta đang ở trong trạng thái không sợ hăi. Người đang sợ hăi th́ không bao giờ hỏi: "Sợ Hăi là ǵ ?”. Khi sợ hăi thực sự th́ ta không c̣n biết ǵ cả: tất cả câu hỏi đều bị tắt nghẽn đi lập tức. Khi sợ hăi, ta chỉ ú ớ, ngôn ngữ dứt bặt C̣n có một cái khác "đáng sợ" HƠN SỰ SỢ HĂI; ĐÓ LÀ: SỢ HĂI SỰ SỢ HĂI. Không sợ sự sợ hăi th́ có nghĩa là lúc thấy sợ th́ cứ sợ và lúc không thấy sợ th́ không sợ. Nhiều khi sợ trọn vẹn đẩy ta thoát ra khỏi cái hàn ngă ta hơn không có cảm giác ǵ hết. Sợ cũng có thể là bước cuối cùng đẩy ta đến sự Bừng T́nh Giác Ngộ. Tất cả những cơn ác mộng đều là điều báo hiệu sự tỉnh thức. Nói một cách mâu thuẫn thơ mộng cuộc đời càng có nhiều ác mộng th́ càng mau tỉnh mộng giải thoát; càng nhiều gian khổ, càng nhiều đau đớn th́ lại càng đến gần cơn khoái lạc tột đỉnh: càng chết th́ càng sống, càng trống rỗng th́ càng tràn trề, càng vô minh th́ càng sớm chánh đẳng chánh giác. Long Thọ đă dạy đời bằng đôi câu kệ vô cùng giản dị: "Luân hồi thực ra không hề khác ǵ Niết Bàn / Niết Bàn không hề có ǵ khác Luân Hồi" (Trung luận của Long Thọ: "na samsàrasya nirvànàtkim cidasti visesanam / na nirvànasya samsàràtkim cidasti visesanam") . Đó là mức độ cao nhứt qua trí tuệ vượt trí tuệ, nhưng chúng ta hăy trở lại mặt đất và đặt câu hỏi b́nh thường: “sự Sợ Hăi là ǵ ?” . Có hai kinh Phật Pàli nói về sự Sợ Hăi (Bnaya), kinh Bhayabherava Sutta (kinh thứ 4 trong Majjhima Nikàya (M.I, trang 16-24) và loại kinh Bhaya Sutta (nhiều kinh về sự sợ hăi bhaya như Anguttara Nikàya, I trang 178-80; 11, tr. 123; li, tr. 310). Theo kinh Bhayabherava, sự sợ hăi phát sinh từ sự ngă chấp, sự nh́n thấy sai lầm rằng có một cá thể, cá nhân riêng biệt, một bản ngă, bản vị, thành ra đeo níu vào một ngă kiến (sakkayà-ditthi). Đức Phật có kể lại rằng trước khi Ngài giác ngộ, Ngài cũng thường trải qua trạng thái sợ hăi này, và Ngài đă nh́n thẳng vào sự sợ hăi này và không t́m cách trốn tránh; theo lời Ngài: "Ta trực nhận đêm tối như là đêm tối và ban ngày như là ban ngày” (Majjhima Nikàya, I, trang 21) và khám phá ra rằng chính vọng tưỏng về cái ngă bất an phát ra sự sợ hăi, là gốc rễ của sự sợ hăi. Kinh Bhayabherava Sutta (M. I, trang 16-24) có đưa ra những lư do cắt nghĩa tại sao có những vị ẩn tu sống một ḿnh tại những nơi hẻo lánh thường hay phải trải qua nhiều cơn sợ hăi, v́ họ không được hoàn toàn trong sạch ở thân, hoặc ở ư tướng hoặc ở ngôn ngữ, v́ họ vẫn c̣n dục vọng thèm khát, c̣n đầy tham sân si, lười biếng giải đăi, tâm tính bất thăng bằng, đầy hoài nghi xao xuyến, tự ca tụng ḿnh và phỉ báng người khác đua đ̣i theo đuổi tiền tài danh vọng và tâm ư thác loạn, tư tưởng lỏng lẻo và phân tán, thần trí què quặt. V́ những lư do như vậy, sự sợ hăi mới phát khởi trong tâm thức đảo điên và phải trải qua cái cảm giác bất an bấp bênh (akkhema matthena veditabha) (Majjhima nikàya Atthakathà, I, trang 114). Niết Bàn chính là nơi trú ẩn an toàn nhứt (khem) v́ hoàn toàn dứt mất hết mọi sợ hăi. Kinh Samyutta Nikàya, IV, trang 175: "Bờ bến bên kia, an ninh và thoát ra ngoài những sự sợ hăi, chính là tên của Nibbàna (Niết Bàn)". Kinh Bhayabherava Sutta cho ta thấy rằng căn bản tâm lư của sự sợ hăi là cảm thức về nỗi bất an trùng điệp của đời sống, gây ra sự đề cao cái bản ngă một cách lộ liễu hay kín đáo tế nhị, ước vọng cố gắng tranh giành quyền lợi ảo vọng của một cái "tôi" không thực và đầy chú ư lường gạt tráo trở, chính vọng tưởng về cái cá nhân tính biệt lập của ḿnh đă nằm ở nơi cội rễ của mọi truy cầu mong đợi đáp ứng của mọi thù hận, mọi ghen tương đố ky, mọi tham lam tranh giành. V́ không thể t́m được sự an toàn vững bền trong sự đổi thay dâu biển của đời sống bấp bênh, v́ luôn luôn bị mất đất đứng, bị hụt chân và mất hết mọi nương tựa vững chắc giữa ḷng đời thác lũ, cho nên ta càng đeo níu vào một cái ǵ hoàn toàn không có thực, đó là kiến chấp về cái ngă của ḿnh. Sự sợ hăi trở thành nguyên động lực của tất cả mọi phản ứng của ta trước mọi thách thức bất ngờ xảy ra mỗi ngày mỗi đêm, khiến ta chạy trốn thoát ly tạm bợ trong những tiêu khiển. Những giải đáp rẻ tiền để trấn an những căng thẳng tội độ của tâm thức. Cái ngă càng lúc càng được cũng cố như một lư tưởng cố định và sự sợ hăi đánh mất lư tưởng này là lư do khiến ta không c̣n nhận ra lư vô thường (anicca) của mọi sự. Hiển nhiên cũng có những nỗi "sợ hăi thiêng liêng" như sự sợ hăi về nỗi nguy hiểm lúc tham luyến đeo níu những ǵ không thường định trong đời sống. Sợ cái không đáng sợ, và không sợ cái phải đáng sợ, cả hai đều nguy hiểm và khiến ta nổi lặn hụp măi trong ṿng luân hồi khổ lụy. Trong kinh Anguttara Nikàya, III, tr. 310, sự sợ hăi là đồng nghĩa với sự say đắm nhục dục. Kẻ nào say mê thèm đói dục lạc, khoái yêu dâm dục th́ không bao giờ thoát khỏi sự sợ hăi trong kiếp này hoặc trong kiếp sau. Trong kinh Anguttara Nikàya, I, tr. 178-80, chúng ta thấy rằng chỉ có sự thực hành tu chứng Bát Chính Đạo (Ariya-atthangika-magga) là mới có thể tiêu diệt hết tất cả mọi sự sợ hăi. 5. SỰ SỢ HĂI LÀ KIẾN TRÚC TƯỞNC TƯỢNG CỦA Ư NIỆM (VIKALA) VÀ SỰ LẬP THỨC CỦA FREUD, KIERKEGAARD VÀ HEIDEGGER Thế nào là kiến trúc tưởng tượng của ư niệm ? Tôi xin đưa ra một thí dụ khôi hài trích từ tác phẩm của nhà đại thông thái, đại sáng lập viên của Phân Tâm Học nhân loại Sigmund Freud, trong quyển Jenseits der Lustprinzips (Vượt qua nguyên lư khoái lạc) (x.b. Wien. 1920. G.S. vi, 189-257), đă chịu khó phân biệt những ư nghĩa dị biệt trong cái gọi là "sợ hăi": "sự hoảng sợ hốt hoảng, sự sợ hăi, sự xao xuyến băn khoăn thường bị dùng một cách sai lầm như những từ ngữ đồng nghĩa: đối với sự nguy hiểm đe dọa, nhân từ ngữ này đều có sự tinh nghĩa dứt khoát rơ ràng. Sự e sợ, xao xuyến, bồn chồn, băn khoăn, khắc khoải, thảng thốt, khổ năo, áy náy, âu lo, lo lắng, xót xa, bồi hồi (nói gọn lại trong một chữ Đức là "Angst" ám chỉ một điều kiện tâm tư nào đó, như khi ḿnh mong đợi sự nguy hiểm sắp xảy tới và chuẩn bị sẵn sàng đón nhận sự nguy hiểm ấy, dù sự nguy hiểm ấy hăy c̣n xa lạ và không được biết tới: sự sợ hăi (Furcht) đ̣i hỏi một đối tượng xác định mà ḿnh đang sợ; c̣n sự luống cuống hốt hoảng giựt ḿnh điếng hồn điếng vía hoảng sợ khiếp đảm kinh khủng khủng khiếp ghê sợ ghê gớm (nói gọn lại trong một chữ Đức là “Schreck”) là danh tử để gọi cái trạng huống một ḿnh bị rơi, bị kẹt lối, bắt buộc phải đương đầu với một cơn nguy biến mà ḿnh không kịp chuẩn bị đối phó; danh từ này nhấn mạnh tíinh cách đột ngột bất ngờ kinh ngạc”. Tôi thấy tức cười lúc đọc lại những ḍng biền biệt trên của Frend. Xin đọc tiếp một đoạn khác của Freud trong khoa giảng mở đầu về Phân Tâm Học: "Sự xao xuyến bồn chồn áy náy (Angst) th́ có liên hệ với trạng thái tâm thần thôi và không dính líu ǵ với đối tượng, trái lại sự sợ hăi (Furcht) điều động tất cả sự chú tâm của nó xoay hướng đặc biệt về đối tượng (Freud, Introductory Lectures on Psychoanalysis, ch. 25, Lon don, 1929). Đó là kiểu mẫu của sự thông minh Tây phương và nói lên tất cả ngu xuẩn của Phân Tâm Học: xây dựng kiến thiết một hệ thống ư niệm đồ sộ để vồ chụp lấy những hiện tượng được tạo ra do chính hệ thống ư niệm tưởng tượng theo điệu lư luận ṿng tṛn như vậy: "sự sợ hăi là có đối tượng; đối tượng của sự sợ hăi là chính đối tượng c̣n sự xao xuyến không có đối tượng của chính đối tượng của nó là tâm thức có đối tượng là trạng thái tâm thức của chính tâm thức". Tôi đă đùa chơi với chữ nghĩa thông thái rẻ tiền Freud đă dùng một ư niệm triết lư cận đại Tây phương "đối tượng (Gegenstanđ, Objekt, objectum) với tất cả ngây ngô triết học, cơ hồ như Kant chưa xuất hiện trong quyết định trầm trọng của sử tính tính luận Tây phương. Kant đă đẩy sự kiến trúc đối tượng của ư niệm cho đến cùng tận để lùi bước "kinh sợ" trước sự tưởng tượng cụ thể, trước “Hố Thẳm Siêu H́nh Học” (Abgrund der Metaphysik), c̣n Freud th́ lại cứ lẩn quẩn bị kẹt vào một mớ ư niệm cặn bă xây dựng trên sự phân tích duy lư và duy nghiệm và chẳng hề biết tới chính nền tảng của sự suy luận của ḿnh, chẳng hạn như "điều kiện khá tính" của chính "kinh nghiệm" (Erfahrung) về "Đối tượng tính" (Gegenstaendlichkeit) . |
| ||||
| Thay v́ lư luận dài ḍng tràng giang đại hải về sự sợ hăi hay sự áy náy xao xuyến, tôi muốn nói gọn lại ở đây cho dễ hiểu rằng sự sợ hăi và sự xao xuyến chỉ là tiến tŕnh và diễn tŕnh kiến trúc tưởng tượng của ư niệm, nói theo danh từ Phật học chữ Phạn là "vikalpa", và sự kiến trúc ư niệm tưởng tượng (vikalpa) chỉ là con đẻ của "sự vận hành ngôn hóa ngữ hiện của tâm thức ư khởi niệm hiện ngôn diễn", nói gọn lại vikalpa là con đẻ của prapanca. Cũng nên nhắc lại câu kệ dạy đời hiển đạo của Long Thọ (Nagàrjuna) trong Trung luận: Karmaklesa-ksayànmoksah karmaklesa vikalpatah// Te prspancàt prapancastu sùnyatàyàm nirudhyate// (Mũlamadhyamakàkarikà. xvii.i, 5) Chỉ có hai câu chữ Phạn ngắn gọn súc tích mà đă đúc kết được tất cả sức mạnh Tư tưởng mănh liệt của trí tuệ con người. Hiểu được hai ḍng chữ trên th́ hiểu được tất cả nhiệm mầu của việc xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát là nhứt niệm diệu nhứt huyền bí khả dĩ tiêu diệt tất cả kiến trúc ư niệm ngôn từ và chuyển hóa toàn triệt con người và xô đẩy con người nhảy thẳng vào Không Tính (sùnyatà). Tôi xin tạm dịch dài ḍng hai câu chữ Phạn trên của Long Thọ (Nàgàrjuna): "Sự giải thoát được thực hiện nhờ sự phá vỡ những hành động tác ư ô uế gây ra bởi sự kiến trúc ư niệm tưởng tượng (vikalpa) và những sự kiến trúc vọng tưởng này phát khởi tử sự vận hành ngôn hóa / ngữ động / (prapanca), chỉ lúc nào sự vận tác ngôn ngữ / lư luận này chấm dứt th́ Không tính mới bừng dậy" Không Tính (sùnyatà) hiển nhiên không có nghĩa “hư vô” theo nghĩa của Keirkegaard khi Keirkegaard xác định sự khác nhau giữa "sự sợ hăi" (Furcht) và sự áy náy xao xuyến" (Angst): “Sự sợ hăi luôn luôn là sự sợ hăi một cái ǵ xác định rơ ràng c̣n sự áy náy xao xuyến (Angst) là thực tại của tự do được coi như là một khả thể, trước khi khả thể này được thể hiện; đó là sự nghịch cảm đồng cảm là một sự đồng cảm nghịch cảm, và đối tượng của nó là một cái ǵ đó mà thực ra chỉ là hư vô, không có cái ǵ cả" (Keirkegaard, The Concept of Dread). Điều đánh buồn ở đây là con người xao xuyến hăi hùng thường trực như Keirkegaard mà cũng không thể nào định nghĩa về sự sợ hăi xao xuyến áy náy cho đàng hoàng được, v́ Keirkegaard vẫn bị nô lệ vào sự vận hành kiến trúc ư niệm theo điệu "ác cảm có tính cách thiện cầm" và "thiện cảm có tính cách ác cảm" theo kiểu thu nạp thành tựu nguyên lư mâu thuẫn của Hegel, v́ thế “hư vô” của Keirkegaard chỉ là chuyển niệm khái quát rỗng tuếch theo điệu chuyển hành biện chứng từ "tính thể" (Sein) của Hegel sang “vô thể”, “hư vô” cũng của Hegel. Đó cũng là lư do cắt nghĩa tại sao trong quyển "Hoặc là / Hoặc là" (Either /Or), Keirkegaard đă định nghĩa sự áy náy xao xuyến là một phản nghĩ, một phản tưởng một phản hồi niệm "Fot anxiety is a reflection. That anxiety is determined by reffection is shown by our use of words; for I always say: to be anxious about something by which I separate the anxiety from that about which I am anxious, and I can never use anxiety in an objective sense" (Either / Or, Princeton University Press, 1959, tr. 152-153). Mặc dù bị ảnh hưởng Hegel khi quan niệm sự áy náy xao xuyến như một 'phản hồi ư niệm" (reflection), mặc đù "hư vô" của Keirkegaard trái ngược lại nghĩa "Không Tính" của Phật giáo, định nghĩa của Keirkegaard về sự lo âu áy náy xao xuyến cũng gần đi đến “vikalpa”, CHỈ CÓ MỘT ĐIỀU LÀ chữ "reflection" của Keirkegaard hoàn toàn có nghĩa tích cực theo sự vận hành biện chứng pháp. Trong tư tưởng Tây phương hiện đại chỉ có Heidegger là đă khai mở rơ ràng ư nghĩa tính luận nền tảng của sự sợ hăi (Furcht) và ư nghĩ siêu tính luận của sự xao xuyến áy náy (Angst), nhứt là qua kinh nghiệm triệt để của Angst th́ đột hiện sự hiện diện huyền hoặc của "Vô Tính" (Nichts), một cái ǵ mà không là cái ǵ cả và rất gần Không Tính của Phật giáo, nhưng chưa triệt để vô căn để như Không Tính. Tôi không muốn nói nhiều về Hieidegger (Ai muốn đào sâu về Heidegger, xin đọc Sein und Zeit, tr. 130-140, 180-191, và nhứt là Was ist Metaphysik ? Đặc biệt về “Angst” và “Nichts”. Trạng thái cảm thức hố thẳm “Angst” của Heidegger không c̣n là một tâm thái tâm lư như nghĩa xao xuyến áy náy bồn chồn mà là một sự động đất tâm linh toàn diện, sự sụp đổ của tất cả mọi lư luận và vận hành ư niệm óc năo và sự xuất hiện rùng rợn mê ly huyền diệu của "Vô Tính" (Das Nichts) như sự "che giấu bí mật của Thể Tính" (der Schleier des Seins). Chỉ lúc nào chúng ta “được” rơi vào cảm thức động đất toàn diện trong ư nghĩa "Angst" của Heidegger th́ chúng ta mới sống trong cái chết và chết trong cái sống, chỉ lúc ấy tất cả mọi vikalpa bị lung lay và tất cả mọi pranpanca bị tắt nghẹn, và chỉ lúc ấy ngôn ngữ đột nhiên trở thành im lặng bất ngờ, và đùng một cái như tiếng sấm sét bùng nổ dậy tiếng hô tên “NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT” mới vụt thoát ra như một bông sen trắng chổi dậy vượt lên trên tất cả mọi vọng tưởng điên đảo. Lúc ấy tiếng gọi QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT không c̣n là tiếng nói thường t́nh của loài người mà chính lại là sự tập trung tất cả tinh lực âm thanh vũ trụ suối nguồn của tất cả âm thanh, năng lực huyền bí của NHỨT ÂM, NHỨT NIỆM, NHỨT TỰ, như Tự Mẫu linh thiêng A của Phạn ngữ, sự cô đọng cùng tột của tất cả Bát Nhă Ba La mật, của Trí Huệ Bừng Tỉnh Toàn Diện. 6. DANH HIỆU QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHÁ VỠ TẤT CẢ Ư THỨC VÀ VÔ THỨC CỦA CON NGƯỜI VÀ KINH NGHỆM HƯ VÔ CỦA VĂN HÀO HEMINGWAY Trước khi tiếp tục từ chuyển hóa và bên trong sự linh ứng thần diệu của việc xưng danh Quán Thế âm Bồ Tát, chúng ta hăy đi sâu thêm một tư nữa về sự sợ hăi, kinh khủng kinh hoàng, xao xuyến, và kinh nghiệm về hư vô, vô thể, vô tính. Từ đó chúng ta mới đủ chuẩn bị thần trí để đi vào cảnh giới lạ lùng linh hiển của danh hiệu Quán Thế âm Bồ Tát. Xin trở lại lănh địa tư tưởng Tây phương về sự sợ hăi, xao xuyến và hư vô. Từ Platon, vấn đề hư vô đă được đặt ra một cách quyết liệt trong những tác phẩm vĩ đại của triết học Tây phương như Sophiste và Parménide, nhưng hư vô vẫn bị chà đạp và ném vào vị thế phụ thuộc, chỉ đến Schopenhauer th́ có cái ǵ bắt đầu động đậy trong lời chú thích khiêm tốn kín đáo ở cuối cuốn sách thứ 4 cửa quyển Le Monde comme Volonté et comme Représentation (1818, lời chú thích do chính Schopenhaưer thêm nào lúc tái bản), mà cho đến nay trên 150 năm sau vẫn chưa có một triết gia Tây phương nào để ư, mặc dù lời chú thích ấy đă chuyển hóa toàn thể tác phẩm cửa Schopẻnhauer dưới một luồng ánh sáng kinh dị, lời chú thích ấy tự biện minh bằng viện dẫn Không Tính của Kinh Bát Nhă Ba la mật của Phật Giáo. Cả Nietzsche cũng đă hiểu sai lầm Schopenhauer, tuy nhiên tính mệnh của Nietzsche đă xô đẩy Nietzsche phải cưu mang tất cả hậu quả tàn khốc nhứt của kinh nghiệm hư vô mà ít có người có khả năng tư tưởng để chịu đựng nổi trên đời này. |
| ||||
| Trước Triết Lư Tây phương, kinh nghiệm về Hư Vô đă vồ chụp lấy thi hào bi kịch Hy Lạp Sophocle, trong nhưng bi kịch hùng tránh như Oedipe roi, Antigone và Oedipe à Colone, chúng ta giựt ḿnh run rẩy lạc vào một thế giới hăi hùng nhứt và bi tráng nhứt của kiếp người, sự va chạm nẩy lửa giữa thần thánh và giới hạn tất mệnh của con người. Lời choeur trong vở Antigone bắt đầu với chữ "deinon" (cái ǵ kinh khiếp, kinh dị hăi hùng lạ lùng) đă đưa ta đi thẳng vào thể tính bí mật của con người, mà từ Thượng Cổ Hy Lạp cho đến thế kỷ XX, chưa có triết gia Tây phương nào có thể tư tưởng cho tới nơi được (có thể chỉ trừ ra nỗ lực phi thường của Heidegger trong Einfuehrung in die Metaphysik). Trong nền văn học hiện đại, gần đây có Samuel Beckett và trước đây có Ernest Hemingway, một nhà văn đă bị hiểu lầm rất nhiều v́ chẳng may quá nổi tiếng Hemingway đă viết một truyện ngắn khủng khiếp chỉ gồm có 8 trang mà cô đọng lại tất cả kinh nghiệm sáng tạo cực điểm về sự sợ hăi, xao xuyến, và hư vô. Truyện nhắn nhan đề là "A Clean, Well-lighted Place" (Một nơi nào đó sáng đèn và sạch sẽ) truyện đă in trong quyển Winner Take Nothing (x b. 1933). Chúng ta hăy lắng nghe độc thoại nội tâm của nhân vật chính trong truyện, một người bồi bàn cô độc đầy xao xuyến bàng hoàng nơi quán rượu về khuya ở một nơi nào đó tại đất Tây Ban Nha: "Tắt đèn điện xong rồi, hắn cứ tiếp tục nói chuyện một ḿnh cho một ḿnh hắn nghe, phải chăng hắn đă sợ hăi ? Thực ra chẳng phải sự sợ hăi nào cả hay cũng chẳng phải sự áy náy bồn chồn xao xuyến nào cả. Đó chỉ là một cái hư vô mà hắn đă quá quen biết. Tất cả đều là một cái hư vô và con người cũng là hư vô. Chỉ có thế và ánh sáng quả thực cần thiết vậy và một sự sạch sẽ nào đó và một trật tự nào đó. Có người đă sống trong hư vô và chẳng bao giờ cảm thấy hư vô, nhưng hắn biết rơ nó, ồ tất cả là hư vô, ồ thế chỉ là hư vô nada y pues nada y nada pues nada. Cái nada của chúng con, lạy nada của chúng con, ở trên nada, nguyện danh nada cả nada nước nada trị đến xin dâng nada trên nada bằng nada vậy. Xin nada cho chúng con ngày hằng ngày nada và nada chúng con như chúng con nada nhưng nada của chúng con, lạy cho nada trong nada và chữa chúng con cho khỏi nada; pues nada. Kính mừng hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người…” Đoạn văn trên chiếu rực lên một làn ánh sáng huyền hoặc, một thứ ánh sáng trong suốt trong sự trống rỗng mênh mông của cả vũ trụ. Hai bài kinh quen thuộc của Công giáo (Kinh lạy Cha và kinh Kính mừng Maria) trở thành kinh cầu nguyện hư vô: Thượng đế và Đức Mẹ và tất cả mọi sự trở thành hư vô (sắc tức thị không). Tất cả quán cà phê, ánh đèn điện rực rỡ, những h́nh dáng con người, những bàn những ghế, tất cả trở thành hư vô. Triết gia Wỉlliam Banett đă trích dẫn đoạn văn trên trong một buổi nói chuyện ở Hội Triết Học Mỹ (American Philosophical Association) vào ngày 29-12-1957 và có nhắc đến Không Tính của Phật giáo “gợi lên ḷng từ bi bao quát tất cả mọi chúng sinh” (cf. Irrational Man, 284-285). Chữ Tây Ban Nha “nada” có nghĩa là hư vô và giọng văn của Hemingway ở trên tuôn chảy một mạch như diệu Tâm Kinh Bát Nhă. “Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư; vô sắc, thanh, hơng vị, xúc, pháp...” Khi tất cả những ǵ ta tưởng như có thực bỗng trở thành hư vô và ngay cả Thượng Đế cũng là hư vô th́ chính hư vô cũng không c̣n là hư vô nữa, và như thế chúng ta sẽ không bị rơi vào chủ nghĩa hư vô (nihilisme). Sắc tức thị không nhưng đồng thời không tức thị sắc. Chính lúc ấy, danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát trỗi dậy như Diệu Sắc, Diệu Hữu, Diệu Thể, Diệu Tính, và chuyển hóa cứu độ giải thoát chúng sinh khỏi mọi khổ ách, mọi đau khổ, mọi tai nạn; mọi sợ hăi, v́ tất cả đă được xoay tṛn nhập thẳng vào sự sự vô ngại pháp giới. Diệu sắc, Diệu Hữu, Diệu Thể, Diệu Tính ở đây chính là Diệu Âm trong phẩm Phổ Môn của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: DIỆU ÂM QUÁN THẾ ÂM PHẠM ÂM HẢI TRIỀU ÂM THẮNG BỈ THẾ GIAN ÂM THỊ CỐ TU THƯỜNG NIỆM Xin dịch lại: Tiếng huyền diệu của sự nh́n thấy tiêng kêu của thế giới. Tiếng từ tận đỉnh trời cao nổ ầm lên với tiếng thủy triều của đại dương. Tiếng bay vút lên cao làm nó vỡ tung những tiếng kêu, những âm thanh của vũ trụ. Cho nên cần phải luôn luôn tưởng nhớ. Theo nguyên văn chữ Phạn th́ có thể dịch lại như vầy: Tiếng của Quán Thê Âm là tiếng động của tất cả mây bay trên trời. Tiếng trống, tiếng mưa rào, tiếng thanh cao của phạm Thiên, Tiếng vượt xuyên qua tận cùng toàn bộ âm thanh của vũ trụ Cần nên tưởng nhớ tới Quán Thê Âm. Tất cả những ǵ thuộc về ư Thức và cả Tiềm Thức, Hạ Thức, Thượng Thức, Vô Thức của con ngời đă bị phá vỡ bởi luồng ánh sáng trong sạch từ Mặt Trời Trí Tuệ của Quán Thế Âm. Một đoạn kệ thơ mộng nhứt trong phần kệ của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: Chơn quán thanh tịnh quán Quảng đại trí tuệ quán Bi quán cập từ quán Thường nguyệt thường chiêm ngưỡng Khi dịch ra Việt văn, Ḥa Thượng Thích Trí Tịnh đă để yên chữ Hán, v́ quá súc tích thơ mộng. Tôi xin dịch lại dài ḍng theo văn chương Việt hiện nay như vầy: Ồ, cái nh́n chân thực, cái nh́n trong sạch, thanh thản, trầm lặng Cái nh́n sáng suốt tỉnh thức sâu rộng bao la Cái nh́n đầy t́nh thương, cái nh́n hiền lành yêu dấu Mà ḿnh thường hoài vọng ao ước, thường ngó nh́n mơ tưởng. Theo bản chữ Phạn th́ có thể dịch như vầy: Ồ, hỡi Người có đôi mắt trong trẻo, đôi mắt hiền lành nổi bật lóe sáng lên Trí Tuệ và sự Hiểu Biết, đôi mắt tràn trề t́nh thương và rộng lượng nhân từ; Người sao tuyệt đẹp, dung nhan tuyệt sắt và đôi mắt quá diễm kỉều! |
| ||||
| Ở đây chúng ta thấy Sắc Uẩn (Rùpa-skandha) đă bị phá vỡ và chuyển hóa thành Diễm Sắc và Diệu Sắc, nghĩa là sắc uẩn không c̣n bị giới hạn nơi thân thể, thân xác sỉnh lư và vật lư, khi “không tức thị Sắc” th́ Sắc đó là cả toàn diện vũ trụ linh động rực ngời phản chiếu trong suốt im lặng như mặt gương đài. Sắc chuyển hóa thành “Đại Viên Cảnh Trí” (mahàdarsa-Jinàna), tất cả sắc đẹp tuyệt vời của thiên nhiên trời đất vạn vật, tất cả vẻ đẹp “sắc nước hương trời” của những nàng tiên đẹp nhứt cũng trở thành cát bụi trước Mặt Gương tṛn sáng trong suốt tỏa ra từ dôi mắt (hay ngàn mắt) của Quán Thế Âm. Danh hiệu Quán Thế Âm là sự chuyển hóa toàn diện CỦA NGŨ UẨN. Thọ Uẩn (Vedanà-skandha) được chuyển hóa thành “B́nh Đẳng Tính Trí” (Samatà-jnàna), do đó t́nh thương của Quán Thế Âm không c̣n là t́nh thương hữu hạn vị ngă, đó là t́nh thương thuần túy không đối tượng, vô nhân, vô ngă, vô chúng sinh, vô thọ giả, t́nh thương không phân hai, không phân biệt, t́nh thương của tất cả đối với một, của một đối với tất cả, của một đối với một, của tất cả đối với tất cả. Một Danh hiệu quán Thế Âm được xưng hô lên th́ tất cả danh hiệu của vũ trụ được xưng hô lên đồng lúc, danh hiệu của cái ǵ nhỏ nhứt như hạt bụi hay như hạt nhân nguyên tử cũng là đanh hiệu của cái ǵ cao lớn như danh hiệu "Phạm Thiên" của Do Thái Giáo ("TA LÀ CÁI TA LÀ"; EGO SUM QUI SUM, danh hiệu Phạm Thiên khai thị cho Moi se) (Exodus 3:14, danh hiệu của MỘT LÀ TẤT CẢ (Hen Panta) của Héraclite, và TẤT CẢ LÀ MỘT (Parménide). Tưởng Uẩn (Samjnà-skandha) được chuyển hóa thành “Diệu Quan Sát Trí” (pratyaveksana-jnàna) và từ đó Quán Thế âm Bồ Tát ứng hiện ra 32 ứng thân hay trăm ngàn hóa thân, từ Phật cho đến Phạm Thiên, từ mọi h́nh tướng như chủ tể của chư thiên và những chư thiên của mọi tôn giáo khác. Thượng Đế và Đức Mẹ, từ nam thân đến nữ thân từ Avalokitesvara cho đến Phật Bà Quan Âm của Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn, cho đến công chúa Diệu Thiện, Quan Âm Nam Hải (với Long nữ và Thiện Tài) cho đến Quan Âm Thị Kính của truyền thống dân tộc, từ cái ǵ cao nhứt cho đến cái ǵ thấp nhứt và cho đến cả loài phi nhân. Khi nào con ngời có một ư tưởng t́nh thương thoáng hiện qua trái tim ḿnh th́ lúc ấy Quán Thế Âm đang ứng hiện vào ngay chính ư tớng mong manh ấy. Hành uẩn (Samskàra-skandha) được chuyển hóa thành “Thành Sở Tác Trí” (krtyànusthàna-jnàna) và hành vi tác động không c̣n vướng nghiệp và không có chủ động năng tác: tất cả mọi cử chỉ động tác trớ thành “diệu đức vô tác” và “hiệu dụng” thị hiện thần thông biến hóa đi dạo chơi lang thang khắp mọi nơi để độ thoát chúng sinh (Thị Quán Thế Âm Bồ Tát, thành tựu như thị công đức, dĩ chủng chủng h́nh du chư quốc độ độ thoát chúng sinh), nhờ sức mạnh thiêng liêng tự tại (tự tại thần lực), Quán Thế Âm đi dạo chơi khắp cơi Ta Bà thế giới (Quán Thế Âm Bồ Tát, hữu như thị tự tại thần lực, du ư Ta Bà thế giới). Thức uẩn (Vijnàna-skandha) được chuyển hóa thành “Pháp Giới Trí” (dharme-dhàtu-jnàna) tất cả Ư Thức và Vô Thức của con người bị phá vỡ tung ra, xoay tṛn trôn ốc mất hút trong trùng trùng duyên khởi của toàn thể sự sự vô ngại pháp giới, một giây phút kéo dài cả tỷ triệu kiếp, một bước đi là cả trăm tỷ dặm, một cái nh́n th́ thiên thu bừng dậy, một tiếng kêu th́ chấn động cả tỷ triệu ngàn sao, một tiếng la làm lạnh cả đỉnh trời (trường khiếu nhất thanh hàn thái hư của thiền sư Không Lộ), không gian là thời gian, mặt đất là bầu trời, một người chết là tôi đang chết ("Cái chết của bất cứ ai cũng đều giảm bớt tôi, v́ tôi dính líu với toàn nhân loại, v́ thế đừng bao giờ t́m hiểu hồi chuông báo tử đang rung cho ai đó; hồi chuông báo tử ấy đang rung cho chính mi". Hemingway đă trích câu này của John Donne để làm đề từ cho quyển tiểu thuyết For whom the Bell tolls). Ở nơi sự sự vô ngại pháp giới này, chúng ta sống với Trí Huệ tâm chứng Đương Xứ, mà Suzuki đă làm sáng tỏ một cách thơ mộng bằng hai câu trích dẫn sau đây: “Chúng ta chia ĺa từ nhiều ngàn kiếp trước mà vẫn chưa hề xa ĺa nhau dù trong một khoảnh khắc. Chúng ta nh́n mặt nhau suốt cả ngày, thế mà vẫn chưa bao giờ được gặp thấy nhau.” (The Essence of Buddhism, trang 27) “Anh đang gặp mặt tṛ chuyện với em ngay khoảnh khắc này, thế mà anh vẫn chưa bao giờ gặp gỡ em từ thiên thu vạn đại”. “Tôi đang nhập thiền ở đây mà đang rong chơi ra ngoài ngàn dặm thiên lư” (The Essence of Buddhism, trang 61) Tôi xin tạm ngưng chương này nơi đây, và để thành tựu đại bi tâm, xin hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh với thần chú Đại Bi bằng chữ Phạn cùng với hai chú linh hiện nhất của Quán Thế Âm và của hóa thân của Ngài là Tàrà, hai chú đă được tŕ tụng từ bao nhiêu thế kỷ ở Tây Tạng và đă vang động bí mật khắp vùng Hy Mă Lạp Sơn, đỉnh núi cao nhứt của toàn thể Ư Thức nhân loại và của cả Chuyển Thức trên mặt đất. Chú Đại Bi: NAMO RATNA-TRAYÀYA NAMAH ÀRYA AVALOKITESVARÀYA BODHISATTVÀYA MAHA SATTVÀYA MAHÀKARU-NIKÀYYA OM SABALA-VATI SUDHANATASYA LAMAS-KRIVANINAM ÀRYA AVALOKTTESVARA LAMTABHA NAMO ǸLAKANTHA SR̀MAHAPATASAMI SARVA-TODHU-SUPHEMASIYUM SARVASADA NAMA BHAGA MABHATETU TADYATHÀ OM ÀVALOKI LOKATE KALATI ESILI MAHÀBODHISATTVA SABHO SABHO MARA MARA MASI MASI RIDHAYUM GURU GURU GANAM TURU TURU BHASIYATI MAHÀ BHASIYATI DHARA DHARA DHIRINI SVARAYA JALA JALA MAMA BHA-MARA MUDHILI EDHYEHI SINA SINA ALASIM BHALASARI BHASA BHASIMl BHARA SAYA HULU HULU PRA HULU HULU SR̀ SARA SARA SIRI SIRI SURU SURU BUDHI BUDHI BUDHAYA BUDHAYA MAITRIYE ǸLAKANTHA TRISA-RANA BHAYAMANA SVÀHÀ SITAYA SVÀHÀ MAHÀ SITAYA SVÀHA SITAYAYE SVARAYA SVÀHÀ ǸLAKANTHA SVÀHÀ PRANILA SVÀHÀ SR̀ SIDHA MUKHAYA SVÀHÀ SARVA MAHÀ ASTAYA SVÀHÀ CAKRA ASTAYA SVÀHÀ PADMA KESAYA SVÀHÀ ǸLANKANTHE PANTA LAYA SVÀHÀ MOBHOLISANKARAYE SVÀHÀ NAMO RATNA-TRAYÀYA NAMAH ÀRVA AVALOKITA ̀SVARAYA SVÀHA OM SIDHYAN-TU MANTRA PATAYE SVÀHÀ! Và sau đây là câu chú đại linh mật thông dụng nhứt và nhắn gọn nhứt của Quán Thế Âm: OM MANI PADME HÙM! (Án Ma Ni Bát Di Hồng!) Và đây, câu chú linh hiển thông dụng nhứt và ngắn gọn nhứt của Phật Bà Tàrà, ứng Thân của Quán Thế Âm: OM TÀRE TUTTÀRE TURE SVÀHà! Chương này đă được tôi giảng tại chùa Việt Nam ở Los Angeles thứ Bảy ngày 22 tháng 10 năm 1983 dương lịch, nhân dịp ngày vía Quán Thế Âm Bồ Tát. Source: Thu Vien Hoa Sen Last edited by MatNgoc; 02-08-2010 at 02:21 PM. |