Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Tủ sách Huyền Bí, Tâm Linh

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:33 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
Những chuyện luân hồi hiện đại

Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch

I. GIÁO SƯ SYLVIA CRANSTON VÀ CAREY WILLIAMS

Giáo Sư Sylvia Cranston là một chuyên gia khảo cứu về luân hồi từ 30 năm nay. Bà là tác giả của các cuốn sách nổi tiếng về luân hồi như An East-West Anthology, Reincarnation in World Thought, Phoenix Fire Mystery...

Bà đă từng đi diễn giảng tại Hoa Kỳ, Gia Nă Đại, Anh, Ái Nhĩ Lan và đă xuất hiện nhiều lần trên các đài vô tuyến truyền thanh truyền h́nh.

Giáo Sư Carey Williams, người Hoa Kỳ, chuyên dạy Y Tế, phụ trách nhiều lớp giảng dạy về sự sống chết của con người.

Chúng tôi xin trích dịch một vài chuyện trong cuốn Reincarnation, A New Horizon In Science, Religion and Society của hai tác giả do nhà Xuất Bản Julian Press, New York, phát hành năm 1984.

-ooOoo-

-1-

TRƯỜNG HỢP LY KỲ CỦA GEORGE RITCHIE ĐĂ CHẾT RỒI SỐNG LẠI, HIỆN NAY LÀ BÁC SĨ, ĐĂ THẤY NHỮNG G̀ KHI HỒN L̀A KHỎI XÁC.

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Trường hợp lạ lùng của bệnh nhân George Ritchie đă chết rồi sống lại (hiện đang là Bác Sĩ Tâm Trí) đă khiến cho các Khoa Học Gia cũng như các nhà Tâm Lư Học đặc biệt chú ư. Bác Sĩ Raymond Moody đă bỏ ra 5 năm để nghiên cứu trường hợp đặc biệt này. Bác Sĩ Raymond Moody vừa là Bác Sĩ vừa là nhà Phân Tâm Học, là tác giả cuốn sách nổi tiéng "Life After Life"với số độc giả cả triệu người đă phổ biến trường hợp của George Ritchie đến thế giới Tây Phương. Cuốn sách do Bác Sĩ Raymond Moody viết để tặng Bác Sĩ George Ritchie, trước đây là một bệnh nhân trong Quân Đội. Câu chuyện có thật này đă được đưa lên màn ảnh với tựa đề Beyond And Back. Cuốn phim này đă làm chấn động dư luận.

Lúc 20 tuổi, George Ritchie, một sinh viên y khoa với hoài băo trở thành bác sĩ, đă phải gia nhập Quân Đội. (Sau này George Ritchie đă trở thành vị bác sĩ trẻ tuổi nhất tốt nghiệp tại Đại Học Đường Virginia). Khi chiến tranh chấm dứt cũng là lúc George Ritchie tốt nghiệp y khoa. Bác Sĩ George Ritchie là Chủ Tịch Hàn Lâm Viện Nội Khoa và Ngoại Khoa Richmond, chuyên về tâm trí và đă trở thành Viện Trưởng Viện Tâm Trí của Bệnh Viện Towers ở Charlotsville. Bệnh Viện này đă sát nhập với Đại Học Đường Virginia. Hiện nay Bác Sĩ George Ritchie có một pḥng mạch riêng tại Richmond và là Chủ Tịch Sáng Lập Viên Đoàn Thanh Niên Quốc Tế.

Tài liệu này được viết theo trong cuốn "Return From Tomorrow" của Bác Sĩ George Ritchie và trong băng ghi âm của Bác Sĩ có nhiều chi tiết chưa được tiết lộ.

Là một người lính được huấn luyện tại trại Barkeley, Texas, George Ritchie nhận định rơ giá trị của một người lính bộ binh trong Quân Đội Hiện Đại với cơ khí hóa tối tân. V́ nhu cầu cần Bác Sĩ để phục vụ cho Quân Đội nên George Ritchie được tuyển chọn gửi đi huấn luyện tại Đại Học Đường Y Khoa Virginia. Nhưng chẳng may trước hôm đi, George Ritchie bị bệnh nặng, hai lá phổi bị sưng, phải vào nhà thương điều trị. Thời đó thuốc Penicilline được coi là phát minh kỳ diệu nhưng cũng không chữa nổi căn bệnh xưng phổi, bệnh t́nh của George Ritchie rất trầm trọng.

Người phụ trách trông nom khu George Ritchie điều trị đă thấy George Ritchie tắt thở. Được báo cáo Bác Sĩ trực đến khám nghiệm, xác nhận George Ritchie đă chết và ra lệnh làm thủ tục đem George Ritchie vào nhà xác. Chính trong khoảng thời gian 9 phút này việc lạ lùng đă xảy ra.

Bác Sĩ Donald G. Francy, Y Sĩ Trưởng của Trại Barkeley gọi trường hợp của George Ritchie sống lại là một trong những sự lạ lùng và ly kỳ nhất chưa từng bao giờ có. Trong một bài đă được kiểm chứng, Bác Sĩ Francy viết như sau:

"Bệnh nhân George Ritchie đă chết hẳn rồi lại sống lại rất mạnh khoẻ là một trường hợp chưa từng có. Điều đáng lưu ư là một người bị bệnh tim, khi tim ngưng đập có thể dùng cách này hay cách khác để làm tim đập lại. Nhưng trường hợp của George Ritchie với bệnh sưng phổi, cơ thể đă bị nhiễm độc, các cơ quan trong người đều bị phá hủy th́ việc làm cho trái tim đập lại không thể thực hiện được. Hơn nữa, George Ritchie đă chết ít nhất là 9 phút, th́ bộ năo hư hỏng không thể toàn vẹn được."

Bây giờ là khoảng thời gian sau khi George Ritchie đă được xác nhận là thực sự chết nhưng anh cảm thấy tinh thần tỉnh táo thấy ḿnh như trong một thân xác vật v́ khác lạ được chuyển đến một căn pḥng nhỏ trong lúc t́nh trạng trở nên nguy kịch. Lúc này khoảng nửa đêm. Ư nghĩ đầu tiên của anh là phải đi chuyến xe buưt sáng sớm để tới Trường Y Khoa tại Richmond để kịp dự lễ khai giảng khóa mới. Nhưng lạ lùng thay! Quần áo của anh đâu rồi? Anh t́m khắp nơi trong pḥng. À! có lẽ ở dưới giường chăng?

"Tôi đi ṿng quanh, rồi lạnh cứng. Có người nào đó đang nằm trên giường tôi ḱa! Tôi lại gần, đó là một người đàn ông c̣n trẻ, tóc mầu nâu cắt ngắn, nằm ngay đơ. Nhưng... không thể như thế được! Chính tôi vừa ra khỏi cái giường này mà. Tôi thắc mắc, khó hiểu sự kỳ lạ này. Thật là quá lạ lùng nghĩ đến việc này - nhưng không c̣n th́ giờ nữa!"

Anh phải đi t́m người phụ trách nơi đây để lấy lại quần áo. Ritchie trông thấy một trung sĩ đang đi ngoài hành lang, anh chận lại và yêu cầu ông ta giúp đỡ. Nhưng người này không thấy anh và cũng không nghe thấy anh nói cứ tiếp tục đi thẳng khiến anh phải tránh ra nhường lối cho ông ta đi.

Nóng ḷng tới Trường Đại Học, Ritchie ra khỏi bệnh viện rồi bay theo hướng bắc về Richmond với một tốc độ nhanh chóng. Anh phân vân không biết đi có đúng đường không.

"Một con sông rộng ở dưới tôi. Tôi thấy có một cái cầu dài, cao và tít đằng xa bên kia sông có một hành phố lớn mà tôi chưa bao giờ đến cả. Tôi muốn đáp xuống kiếm người hỏi thăm. Tôi từ từ ngưng lại, ngay dưới tôi có hai con đường chập lại làm một và tôi bị cuốn hút bởi một luồng ánh sáng xanh chiếu ra từ một bảng hiệu gắn đèn nê-ông của một ṭa nhà có mái ngói đỏ. Tấm bảng hiệu "Past Blue Ribbon Beer" treo ngay trên cửa sổ và trước nhà bảng hiệu "Cafe" lơ lửng trên cửa ra vào...

Trên con đường nhỏ dẫn vào quán Cafe bán đêm này, có một người đang rảo bước. Tôi bèn xuống đi bên cạnh và hỏi:

"Làm ơn cho tôi biết đây là thành phố nào?"

Ông ta vẫn tiếp tục đi thẳng... Chúng tôi tới quán Cafe.Ông ta xay tay nắm cửa bước vào. Có lẽ Ông ta bị điếc hẳn? Tôi lấy tay trái đập lên vai của Ông ta. Không có ǵ cả mà h́nh như tay tôi vừa để vào khoảng không. Rơ ràng tôi thấy ông ta mà, tôi c̣n nhận ra ông ta có một cḥm râu đen ở cầm cần phải cạo đi nữa."

Mọi suy nghĩ Ritchie tựa hẳn vào một người đàn ông đang mắc dây điện thoại ở kế bên và đi xuyên qua.

Trước khi đi đến phần kế tiếp, chúng tôi thấy cần phải báo cáo là, một năm sau đó, bất ngờ Ritchie đă khám phá ra tên của thành phố này. Trên đường trở về trại Barkeley trước khi đi công tác tại Âu Châu, Ritchie cùng những người bạn sinh viên y khoa đi xe hơi về trại. Đến ngày thứ ba họ tới Tiểu Bang Missisipi, một Tiểu Bang mà chưa bao giờ Ritchie đặt chân tới cả. Khi đến vùng ngoại ô của Vicksburg, Ritchie đă tả lại như sau:

"Thành phố này tuy xa lạ nhưng h́nh như rất quen thuộc. Tôi đă biết rơ từng nét cong của bờ biển, từng khúc rẽ đường. Nơi đó, tôi biết rơ đường phố như thế nào! Tôi biết chắc chỉ c̣n một con đường ngắn là tôi có thể đến ngôi nhà trắng có mái ngói đỏ, có chữ Cafe bằng nê-ông gắn trên cửa ra vào. Khi xe tới gần tôi nhận được ra con đường nhỏ mà tôi đă cùng một người không nhận ra tôi đi tới quán này. Cũng c̣n cả cột điện thoại mà tôi đă đứng ở đó rất lâu... bao lâu? Giờ nào, ngày nào với loại thân h́nh nào?"

Trong cơn thoát xác, Ritchie cảm thấy đi Richmond thật phù phiếm không ai thấy và nghe được anh cả.

"Nếu tôi có trở về gia đ́nh th́ cũng chẳng ai thấy tôi? Ư tưởng cô đơn xâm chiếm tôi, dù sao tôi cũng phải về ngay nơi mà mọi người thấy tôi và nghe được tôi chứ.'

Rồi George Ritchie nghĩ đến cái xác hăy c̣n đang nằm tại bệnh viện. Ritchie đă vội vàng quay trở về bệnh viện tại Trại Barkeley. Tới nơi Ritchie đă phải xục xạo t́m lại cái xác nằm tại một trong hai trăm căn pḥng của 5 ngàn binh sĩ đang ngủ. (Lúc đó Trại Barkeley có 250 ngàn khóa sinh)

Đèn không được sáng, thật khó khăn mới nh́n được mặt họ.Cả giờ rồi, đă toát cả mồ hôi, qua hết pḥng này đến pḥng khác mà vẫn không kết quả. Đột nhiên anh nhớ ra! Tay trái anh có đeo một cái nhẫn hội viên Phi Gamma Delta. Và tiếp tục t́m kiếm, anh đă t́m được cái xác một người đàn ông trong một căn pḥng nhỏ, phủ một tấm chăn và tay trái có đeo chiếc nhẫn.

"Tôi tiến lại từ từ, mắt dán chật vào cái bàn tay đeo nhẫn. Tôi khiếp hăi. Dưới ánh đèn mờ ảo, tôi thấy bàn tay đó thật trắng và thật mềm. Trước đây, tôi đă nh́n thấy bàn tay này ở đâu rồi nhỉ? Tôi đă nhớ ra: Cha Dabney nằm trong pḥng khách Moss Side. Tôi lùi lại gần cửa ra vào. Người nằm trên giường đă chết. Tôi cảm thấy khó chịu như trước đây tôi đă phải ở chung với người chết trong một pḥng... Nhưng... cái nhẫn là của tôi mà, vậy chính là tôi mà - vậy th́ một phần của tôi nằm trên cái giường này, phủ bởi tấm chăn. Vậy có nghĩa là tôi đă... Đó là lần đầu tiên tôi đă trúc nhận đến chữ 'chết" liên quan đến những ǵ đang xảy ra cho tôi. Nhưng tôi chưa chết mà - sao tôi có thể chết trong khi tôi vẫn c̣n thức đây? Tôi bấu vào tấm chăn, cố gắng kéo xuống để mắt tôi nh́n được phía ngoài. Nhưng vô ích, tất cả các cố gắng của tôi cũng không đủ để tạo một cơn gió nhẹ thoáng qua căn pḥng im lặng nhỏ bộ này. Sau cùng thất vọng tôi ngồi xuống giường. Tôi nghĩ: Tôi đă thoát ra khỏi xác nên không tiếp xúc lại được. Đây là chính là lúc tôi cảm thấy da thịt tôi và tôi (h́nh hài và linh hồn) ở hai hành tinh riêng biệt."
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:34 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
Chợt George Ritchie thấy trong pḥng tự nhiên sáng hẳn lên. Anh nh́n vào cái bóng đèn 15 watts và chắc chắn cái bóng đèn này không thể sáng đến thế được!

"Tôi ngạc nhiên thấy ánh sáng càng ngày càng rúc lên ở trong pḥng, tất cả các bóng điện trong bệnh viện thắp lên cũng không thể sáng như thế, tất cả những ngọn đèn trên thế giới cũng không thể sáng như thế, sáng như cả triệu ngọn đèn dùng để bàn cùng cháy lên một lúc."

Bây giờ George Ritchie nhận thấy không phải là ánh sáng mà là một người đang bước vào pḥng, nói đúng hơn là một Người được làm bằng ánh sáng.

"Con Người này đă tỏa ra sức thần thông của chính ḿnh xưa hơn cả thời gian và hiện đại, hơn bất cứ ai mà tôi đă được gặp."

Người này đă nh́n thấy suốt cuộc đời của anh." Người này đă biết đến cả những ǵ khó ưa trong tôi, Người đă chấp nhận và thương yêu tôi".

Người này đă hỏi anh: "Anh đă làm được những ǵ trong đời?" Câu hỏi được nhắc đi nhắc lại nhưng anh lẩn tránh. Cuối cùng là anh cũng phải trả lời là chẳng làm được ǵ trong suốt cuộc đời.

Không thể nào trong một vài chương mà có thể kể hết được. Con Người Thiên Thể này đă dẫn dắt Ritchie đi; sau này Ritchie gọi là "Một Cuộc Kinh Lư Giáo Dục". Ritchie đă được dẫn đến thế giới thiên thể ở tầng trời cao nhất. Ỏ thế giới thiên thể này Ritchie đă nh́n thấy cảnh các linh hồn đam mê nhục dục Những người nghiện rượu được kéo ra khỏi các quán rượu, các quán cà phê và đây là địa ngục của họ: Những người nghiện rượu trông thấy người khác đang uống mà không được động đến cái ly. Ritchie nh́n thấy những người khác v́ say mê ái dục mà trở thành bất lực. Đây là địa ngục của họ, Ritchie đă nh́n thấy những người tự tử v́ thất vọng. Ritchie cũng được dẫn đến thăm một văn pḥng mà người thoát xác đang la hét và bắt người làm phải thi hành công việc như thế nào nhưng các người làm này đâu c̣n tuân lệnh nữa. Đây là ông chủ đă quá cố của Ritchie.

Tuy đă được Southern Baptist (một tông phái Tin Lành) dậy dỗ nghiêm khắc Ritchie cũng vẫn thấy giật ḿnh. Anh thấy Anh đang ở trong một Thư Viện Vĩ Đại có nhiều cuốn sách nói về vũ trụ mà chưa ai viết - và cuốn Thánh Kinh chỉ là một mà thôi.

Khi được đưa tới tầng trời thứ ba th́ Ritchie bị ngất ngây bởi vô lượng ánh sáng của người Đồng Hành Thiên Thể mà sau này Ritchie nghĩ là Đấng Tối Thượng, Tối Cao hơn cả. Đó là Đức Chúa Christ với người Thiên Chúa Giáo - Đức Phật với người Phật Giáo - Khrisna (Phạm Thiên) với người Ấn Độ Giáo - Messiah Giáo Chủ với người Do Thái Giáo - Có lẽ tất cả đều đúng.

Đă đến lúc phải trở về với nhiều nuối tiếc. "Những bức tường đă ngăn chận chúng tôi. Những bức tường rất hẹp như những cái hộp; rồi trong khoảnh khắc tôi nhận ra được cái pḥng của bệnh viện mà tôi đă bỏ đi trong một thời gian". Anh cố gắng nhập vào cái xác đang nằm trên giường, Anh cố gắng mở mắt nhưng không sao mở mắt được v́ bị tấm chăn phủ mất. Anh muốn dở hai tay nhưng không thể được và cảm thấy như đang nâng hai thanh sắt nặng. Anh chậm chạp xích hai bàn tay lại gần nhau và xoay cái nhẫn vài lần.

Rồi đầu óc Ritchie lại mờ đi. Ritchie lại rơi vào t́nh trạng hôn mê và h́nh như lại chết một lần nữa. Chính sau này thân xác anh cử động được nhưng đầu óc anh vẫn mê man mất 3 ngày. Lần này khi mở mắt ra anh nh́n thấy cô y tá đang nh́n anh mỉm cười và nói: "Thật vui mừng ông đă trở lại với chúng tôi, đă có lúc chúng tôi tưởng không thành công".

Sau này Ritchie được biết khi người trông nom bệnh viện trở lại để sửa soạn đưa Ritchie vào nhà xác th́ đôi tay anh đă được đổi vị trí. Nguyên lúc Bác Sĩ khám nghiệm phủ mặt Ritchie, đặt hai cánh tay thẳng và để đôi bàn tay úp xuống. Nhờ vậy Ritchie đă nh́n thấy cái nhẫn của ḿnh. Nhận thấy có sự thay đổi (đôi tay không ở vị trí có) người trông nom (binh nh́) vội cấp báo Bác Sĩ. Sau khi khám nghiệm lại cẩn thận, vị Bác Sĩ đă một lần nữa tuyên bố Ritchie đă chết hẳn.

Tuy nhiên người trông nom bệnh viện này không thừa nhận lời tuyên bố của Bác Sĩ đề nghị: "Có thể chích một mủi Adrenalin vào thẳng tim cho Ritchie sống lại". Về việc này, George Ritchie đă nhận xét như sau: "Việc này không thể có được, thứ nhất là v́ một người binh nh́ đâu có thể tranh căi với cấp sĩ quan chỉ huy của ḿnh, hơn nữa lại là một bác sĩ chuyên môn có bằng cấp, thứ hai lời đề nghị của người trông nom trên phương diện y khoa chuyên môn thật là lố bịch và buồn cười. Bệnh sưng phổi đă làm tê liệt tất cả các bộ phận trong cơ thể việc tiêm thuốc kích thích tim không thể chấp nhận được. Về trường hợp của tôi, bất cứ một nhà y khoa nào cũng không thể làm ǵ hơn được. Ấy thế mà đề nghị cho một người đến canh chừng của người trông nom bệnh viện với Bác Sĩ cho rằng việc này không hữu lư đă được chấp thuận và đề nghị này lại thành công!

Thời gian b́nh phục thật là khó khăn. Khi trở về Richmond, Ritchie chỉ như một bộ xương, không ai có thể tin được Ritchie có thể theo học lớp y khoa. Phải mất đúng một năm Ritchie mới hoàn toàn b́nh phục. Sau đó Ritchie được chuyển trở lại Trại Barkeley và được gửi sang phục vụ một đơn vị ở Âu Châu. Khi chiến tranh kết liễu, Ritchie đă tiếp tục học lại, đậu Bác Sĩ và đă trở thành một Bác Ś chuyên khoa về tâm trí.

Bác Sĩ George Ritchie đă viết như sau:

"Khi tôi xin vào nội trú tại Đại Học Đường Virginia, một người bạn đă khuyên tôi đừng nên cho Ban Tuyển Chọn biết chuyện tôi đă xuất hồn v́ những người chấm điểm có thể nghi ngờ tôi. Người đầu tiên phỏng vấn tôi là Bác Sĩ Wilfred Abse, Giáo Sư Ngành Phân Tâm Học, Tâm Lư Học thuộc Viện Tâm Trí và là một trong những người đứng đầu trong Ngành Phân Tâm Học tại Virginia. Ngay khi bước vào pḥng Bác Sĩ Abse đă nói với tôi:

"Tốt, này Bác Sĩ Ritchie h́nh như Ông đă được gặp Chúa Christ. Tôi tưởng rằng cơ may của tôi đă bị ném qua cửa sổ. Bác Sĩ Abse là người Do Thái, một người nghiên cứu về triết học Freud. Ông ta đă trực tiếp phỏng vấn tôi. Tôi đă nói hết sự thực và không dấu diếm chút nào về việc xảy ra tại Trại Barkeley, Texas.

Không thể ngờ được hai tuần lễ sau cuộc phỏng vấn tôi nhận được thư thông báo Ban Tuyển Chọn đă chấp nhận tôi vào nội trú và tôi đă trở thành một Bác Sĩ về tâm trí.

Những năm sau này, Bác Sĩ Abse trở thành người bạn thân của tôi. Trong một câu chuyện giữa chúng tôi, Bác Sĩ Abse đă cho biết: "Mọi người nơi đây đều biết rơ câu chuyện xuất hồn của Anh; nếu trong cuộc phỏng vấn Anh dấu diếm th́ tôi đă không chọn Anh v́ cho Anh là một người không có tinh thần vững vàng, một người như vậy ắt hẳn không thể phân biệt đâu là sự thật, đâu là ảo tưởng."

Cũng tại Bệnh Viện này, Bác Sĩ George Ritchie đă tiến tới chức vụ Viện Trưởng Viện Tâm Trí.

-ooOoo-
Reply With Quote
  #3 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:35 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
MỘT NGƯỜI NÔ LỆ DA ĐEN MÙ L̉A TRỞ THÀNH NHẠC SĨ LỪNG DANH

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Chú mù Tom sanh năm 1849 tại Georgia,Hoa Kỳ trong thời kỳ chế độ nô lệ c̣n đang mạnh mẽ. Là một người da đen, chào đời vào thời này, lại bị tàn tật ngay từ lúc mới sanh, thật là một bất hạnh!

Trong một tạp chí, Webb Garrison đă viết một bài với tựa đề "CHÚ MÙ TOM VÀ SỰ HUYỀN BÍ CỦA ÂM NHẠC". Ông đă ghi như sau:

"Hầu hết mọi nông dân tại Georgia trong một trăm năm qua đă đặc biệt chú ư đến việc thương mọi nô lệ. Trong đó có Perry H. Oliveer ở Quận Moscogee. Bởi thế khi người nô lệ da đen của ông sanh ra một đứa con trai mù th́ tự nhiên ông phải thất vọng vô cùng. Ít lâu sau trong một cuộc đấu giá nô lệ, ông đem bán người mẹ cho Tướng James Bethune ở Columbus, Georgia. Sau đó ông mới đem thằng nhỏ da đen bị mù ra khỏi nơi dấu và nói rằng: "Tôi quên không cho Ngài biết người đàn bà nô lệ này c̣n đứa con trai. Tôi đồng ư cho không đứa nhỏ này" (Theo Coronet, tháng 7 năm 1952 ). Người mẹ đáng thương cùng đứa con trai mù 1 tuổi đau ḷng từ bỏ căn nhà và bạn bè để về làm nô lệ cho người chủ mới xa lạ. Tướng James Bethune đặt tên cho đứa trẻ là Thomas Green Bethune, nhưng cả thế giới này chỉ biết Chú là "Chú Mù Tom". Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "My Antonia" bà Willa Cather đă thuật lại cuộc đời của Chú mà bà gọi là Người Mù Arnault.

Trong nhiều bài tường thuật về sự kỳ diệu này, bài có giá trị nhất là bài của Bà Ella May Thornton, Quản Thủ Thư Viện Georgia, 1 Quản Thủ được xếp vào hàng danh dự của các Tiểu Bang. Đó là Bài "Sự Huyền Bí Của Chú Mù Tom" của Bà đăng trong tập "The Georgia Review" xuất bản mùa đông năm 1961. Sau đây là một đoạn:

"Lúc Tom c̣n nhỏ đang phải bồng trên tay th́ Tom đă tỏ ra rất nhậy cảm trong bất cứ một tiếng động nào và đặc biệt về âm nhạc. Tất cả những người trong gịng họ Tướng James Bethune lúc bấy giờ phần đông đều thông minh, học thức và giàu ḷng từ thiện đều công nhận tài năng khác thường của đứa bộ da đen này.

Khả năng kỳ diệu về âm nhạc được khám phá khi chú Tom mới lên 3 tuổi. Vào một buổi chiều trên thềm ngôi biệt thú, th́nh ĺnh giọng của Chú vang lên ḥa ca với giọng hát của các ái nữ Tướng Bethune. Không những Chú đă ca phần êm dịu ở phần đầu bản nhạc nhưng phần thứ hai mới là khó hát nhất... Thế mà Chú đă trọn vẹn hát hết bản nhạc một cách tài t́nh không gượng gạo.

Cuộc tŕnh diễn bất ngờ lần sau vào năm Chú lên 4 tuổi, cũng vào một buổi chiều các thiếu phụ trẻ tuổi sau khi đă chơi dương cầm mấy tiếng đồng hồ tản mác quanh biệt thự. Bỗng nhiên họ được nghe lại những bản nhạc mà họ đă chơi từ lúc đầu. Mọi người vội vă trở về pḥng khách, họ sửng sốt thấy một chú Mọi đen nhỏ xíu đang say sưa dạo nhạc trên đàn dương cầm với những bản mà chú vừa được nghe.

Trước đây không một ai trong gia đ́nh Tướng Bethune cho phép Chú Tom được chạm vào cây đàn. Ella May Thornton c̣n nhấn mạnh thêm: "Một đứa trẻ nô lệ mà đánh đàn dương cầm th́ làm sao có thể dấu nổi một gia đ́nh đông đúc như gia đ́nh Tướng Bethune!".

Tạp chí Nghiên Cứu về âm nhạc xuất bản Tháng 8 năm 1940 đă ghi nhận như sau: Ngay khi bắt đầu chơi dương cầm, Chú đă biết sử dụng các phím đàn trắng và đen, Như vậy chứng tỏ Chú đă từng hiểu biết về dương cầm của âm nhạc Tây Phương. Các phím đàn dương cầm sắp xếp không như nốt thường mà do óc sáng chế kỳ diệu cuả một người có biệt tài về âm thanh. Thật khó sử dụng đối với một đứa bộ bị mù và chưa từng được ai chỉ dẫn huấn luyện. Bà Thornton nhấn mạnh: "Chú có thể chơi các bản nhạc cổ điển nổi tiếng một cách thành thạo, khác hẳn những người chơi đàn 'bằng tai' thường thấy. Chú Tom đă dùng các ngón tay ḿnh một cách rất chính xác nhà nghề. Cho nên năm 1862, một chuyên viên điêu luyện về âm nhạc nói là Chú Tom chơi đàn giỏi được như vậy, chắc chắn phải được học ở 'Nhà Trường'". Mặc dù thần kinh Chú Tom hoàn toàn bị giới hạn nhưng nếu cho Chú vào học tại các Trung Tâm dành cho các trẻ em chậm phát triển th́ thật sai lầm. Chú Tom có một bộ óc điện tử có thể ghi và tŕnh tấu lại các bản nhạc dù mới chỉ nghe có một lần. Với khả năng siêu việt Chú có thể lập lại chính xác một bản nhạc mới dài 20 trang. Ngoài ra Chú Tom c̣n có khả năng sáng tạo nữa. Bà Thornton nhớ lại "Thời bấy giờ ở Columbus, Georgia có rất nhiều giáo sư âm nhạc; trong đó có giáo sư Carlo Patti, anh của Bà Adelina. Tướng Bethune đă nhờ Giáo Sư Patti chỉ dạy thêm nhạc cho Chú Tom. Chính Giáo Sư là người đă từng dậy nhạc cho các ái nữ của Tướng Bethune, nhưng ông từ chối và nói như sau: "Tôi không thể chấp nhận lời yêu cầu, Thế giới chưa bao giờ thấy được một sự lạ như thế ở một người da đen, và từ xưa tới nay chưa từng thấy một hiện tượng nào như thế. Tôi không thể dạy cho Chú thêm một chút ǵ nữa, tầm hiểu biết của Chú về âm nhạc c̣n hơn cả chính tôi đă biết và đă học - trường hợp thần đồng này quả là một ngoại lệ và sự việc này đă biến thành một hiện tượng hữu h́nh. Tôi không thể hiểu nổi. Tất cả những ǵ tôi có thể giúp Chú ấy là cho Chú ấy nghe những bản nhạc hay và chính Chú ấy sẽ tự ghi lại và tự tấu được không cần sự hướng dẫn hay chỉ bảo của tôi."

Vào lúc 8 tuổi Chú bắt đầu tŕnh diễn các bản ḥa tấu trước công chúng. Lúc 12 tuổi, trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc, Chú Tom tŕnh diễn tại Nữu Ước trong một cuộc ḥa tấu ngày 19 Tháng Giêng năm 1861. Trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc này, Chú đă tŕnh diễn rất nhiều lần tại các thành phố sau chiến tuyến của cả hai phe bảo thủ và thống nhất. Ḥng ngàn binh sĩ cả hai phe lâm chiến đă được dự thính nghe Chú tŕnh diễn. Một số khán giả này đă tường thuật lại một cách thích thú và trung thực về tài năng của Chú trong các Nhật Kư, Tùy Bút, Phỏng Vấn xuất bản trên các báo chí sau đó. Năm 1866 và năm 1867, Chú đă đi tŕnh diễn tại các Quần Đảo thuộc Anh Cát Lợi, tại Lục Địa và trên khắp nước Mỹ. Chú đă tŕnh diễn tại Ṭa Bạch Ốc và chính Chú điều khiển buổi tŕnh diễn này.

Chú Tom không bị giới hạn về một loại nhạc nào cả, Chú có thể tŕnh diễn Nhạc Khúc của Beethoven, Mendelsohn, Bach và Chopin và cũng có thể chơi các bản nhạc bất luận về loại ǵ.

Nguồn cảm hứng đến với Chú trong lúc Chú ngồi dạo dương cầm khiến cho Chú sáng tác được những bài ngẫu hứng cùng những bản trường ca bất hũ có tới cả ngh́n bản. Các sáng tạc với âm điệu tuyệt vời cùng những lời nhạc rất hay có thể nói lên Chú Tom đă nắm được trọn vẹn khoa học và kỹ thuật về âm điệu nhạc lư. Chỉ có thể cho rằng tất cả các yếu tố tạo thành sức mạnh âm nhạc đó đă có sẵn trong con người Chú Tom.

Ella May Thornton đă kết thực bài tham cứu bằng một câu hỏi: "Một câu được đặt ra để hỏi các Nhà Tâm Lư Học, các Nhà Vật Lư Học, các Nhà Khoa Học cùng các Chuyên Gia về Âm Nhạc có thẩm quyền có thể giải thích về trường hợp này của Chú Tom không? Sau một thời gian nghiên cứu tôi đă không t́m được câu trả lời. Chỉ có thể giải thích được đó là Luân Hồi và người ta đă kết luận rằng ở một thời điểm nào đó, ở một nơi nào đó, ở một kiếp nào đó Chú Tom đă là một nhà nhạc sĩ siêu đẳng."

Sự hiện diện của Chú Mù Tom ở Âu Mỹ đă có một ư nghĩa đặc biệt. Trong giai đoạn cuối cùng của chế độ mọi nô người da đen tại Hoa Kỳ, Chú Mù Tom đă chứng tỏ cho hàng triệu khán thính giả trên thế giới biết rằng một người nghèo, bị khinh rẻ, bị coi là chậm tiến, một người da đen thất học đă làm nên sự nghiệp vĩ đại mà không một người da trắng nào dù tài giỏi đến mấy nữa cũng không làm được. Phải chăng tài năng này Chú đă có từ kiếp trước? Cho nên các giáo sư đă t́m được sự giải thích, đó là Luân Hồi. Tương tự như thế trường hợp của Bà Sơ Teresa, một Tu Sĩ Ky-Tô-Giáo, Giáo Sư Mỹ Thuật tại Chủng Viện Brooklyn, có mặt trong một buổi thuyết tŕnh về luân hồi của Hội Thanalogy Foundation tại Đại Học Đường Columbia, được hỏi bởi một học sinh rằng có phải những nét vẽ điêu luyện của Sơ là do sự huấn luyện và thực hành sau nhiều năm kinh nghiệm mà có phải không? Sơ Teresa đă xác nhận là do tiền kiếp của Sơ mà có.

Trong những chuyện luân hồi do Tiến Sĩ Ian Stevenson điều tra đă chứng minh được có luân hồi nên con người đă có những khả năng đặc biệt, điều mà những khả năng đến với con người từ lúc nào và phát triển từ bao giờ chúng ta không phát hiện được. Ian Stevenson đă nêu lên thí dụ: "Trong hiện kiếp chúng ta biết đi đứng nhưng không ai có thể nhớ lại chúng ta đả biết tự lúc nào. Con người tuy không nhớ được những ǵ ở tiền kiếp song những tài năng và những cá tính đặc biệt ở kiếp trước đă là các chất liệu cho chúng ta trong kiếp này."
Reply With Quote
  #4 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:36 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
-3-

BÀ SHAKUNTALA DEVI, MỘT NHÀ TOÁN HỌC ĐẠI TÀI

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Bà Shakuntala Devi, Nhà Toán Học Thần Đồng này đă được cả Quốc Tế công nhận và biết đến. Bà là người sanh trưởng tại Ấn Độ. Bà đă du hành qua nhiều nước trên thế giới và đă làm cho các nhà toán học sửng sốt ngỡ ngủng với tài năng xuất chúng của Bà.

Bà đă t́m được đáp số của các bài toán c̣n nhanh hơn cái máy điện tử tối tân nhất. Trong chuyến du hành sang nước Mỹ năm 1977, tài nghệ siêu việt của Bà đă được các báo chí ca ngợi. Bà đă được US National Standard trao giải thưởng Univac 1108 v́ tính được 23 căn số của 201 con số trong 50 giây. Tên Bà đă được ghi trong cuốn Guiness Book of World Records (Cuốn Sách Ghi các Thành Tích Kỷ Lục Trên Thế Giới). Bà có thể tính nhanh hơn máy điện tử mà không phải chuẩn bị trước. Muốn được như Bà, máy điện tử cần phải có 13,466 chỉ dẫn và 4,883 dữ kiện. Nếu nói là may mắn, theo máy điện tử th́ kết quả sự may mắn đó là 1 trong 598 triệu lần.

Tài năng của Bà đă được khám phá khi Bà mới lên 3 tuổi. Lúc ấy cha mẹ Bà thấy Bà có tài năng kỳ lạ về những con số nên đă đem Bà đến Học Viện Địa Phương để t́m hiểu. Trước mặt các vị Giáo Sư của Đại Học Đường Bengalore, Bà đă chứng tỏ tài năng phi thường qua những đáp số về Logarithms (Đối Số) về căn số của con số phức tạp và về tổng số chỉ trong ít phút. Tên tuổi của Bà đả trở nên lừng lẫy. Học vấn của Bà chỉ ở mức trung b́nh nhưng Bà cho biết: "Tôi rất thích các con số và say mê các con số, mọi sự trên đời dù là nghệ thuật, khoa học hay triết lư, tất cả đều căn cứ trên những con số". Khi c̣n nhỏ tuổi, tài năng phi thường của Bà được coi như thiên phú và Bà cứ tưởng rằng tất cả mọi người đều giống như Bà nghĩa là cũng có tài như Bà về toán học và Bà đă ngạc nhiên vô cùng khi thấy sự thực không phải như vậy.

Người ta đặt câu hỏi: Bà du lịch ṿng quanh thế giới để phô trương tài năng của Bà mục đích để kiếm tiền phải không? Không phải như vậy.

Ngày 3 Tháng 1 Năm 1974, tờ báo Ottawa Citizen phỏng vấn Bà với tựa đề: "NGƯỜI ĐÀN BÀ TÍNH TOÁN GIỎI BẬC NHẤT TRÊN THẾ GIỚI". Bà nói: "Tôi tin rằng những thành tích của loài người là quan trọng nhất, điều đó chứng tỏ con người vẫn c̣n siêu việt hơn máy móc. Thế giới c̣n chưa hiểu hết được khả năng của trí tuệ con người, nó vô cùng tận, tôi đă chứng tỏ cái khả năng ấy".

Trong một cuộc phỏng vấn khác trên Đài Vô Tuyến Truyền H́nh tại Ottawa của chương tŕnh "This Day" (Ngày Nay) để trả lời câu hỏi tại sao Bà lại có tài năng đặc biệt đó, Bà cho biết người Ấn Độ giải thích là bởi sự "LUÂN HỒI", kiếp trước Bà ở Ai Cập. Điều không thể chối căi là đă có rất nhiều các nhà toán học kỳ tài trên đất nước của các vị Pharaohs (Những nhà Vua nổi tiếng Ai Cập). Kim Tự Tháp Cheops (Một kỳ quan trên thế giới) với lối kiến trúc hoàn toàn dựa trên căn bản toán học phức tạp đến nỗi các điều tra viên, 1 thế kỷ qua đă cố nặn óc mà vẫn chưa t́m được hết mọi bí ẩn.

-ooOoo-

-4-

CÔ BÉ BLANCHE BATTISTA

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Câu chuyện Luân Hồi này do Bác Sĩ người Anh Raynor Johnson điều tra và chính Bác Sĩ Johnson đă giới thiệu gia đ́nh Battista với Mục Sư Tiến Sĩ Leslie Weatherhead, Cựu Chủ Tịch Hội Methodist Conference Anh tại Melbourne, Úc Đại Lợi. Tiến Sĩ Weatherhead đă kể lại trong một bài thuyết giảng về đề tài: "Một Trường Hợp Luân Hồi".

Đại Úy Battista và vợ, đều là người Ư có sanh một người con gái tại La Mă và đặt tên là Blanche. Đại Úy Battista có mướn một người vú em Thụy Sĩ nói tiếng Pháp tên Marie để trông nom Bé Blanche. Marie thỉnh thoảng dạy bộ Blanche bài hát ru con bằng tiếng Pháp. Bé Blanche rất thích bài này thường hát đi hát lại mỗi ngày nên thuộc ḷng. Chẳng may Bé Blanche bị chết nên Marie phải trở về Thụy Sĩ.

Đại Úy Battista viết: "Tiếng hát Ru con từ nay đă im bặt trong gia đ́nh nhưng âm vang của nó vẫn nhắc nhỡ chúng tôi nỗi đau buồn về cái chết của đứa con nên chúng tôi cố tránh không nghĩ đến các kỷ niệm."

Bé Blanche chết được 3 năm, người mẹ, Bà Signora Battista mang thai. Lúc thai được 4 tháng, Bà đă thấy một giấc mơ lạ lùng trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Bà cả quyết thấy rơ ràng Bé Blanche hiện ra và nói với Bà bằng giọng quen thuộc như hồi nào: "Mẹ ơi con sẽ trở về với mẹ". Rồi Bé Blanche biến mất. Đại Úy Battista hoài nghi, nhưng đến tháng 2 năm 1906, vợ ông sanh một bộ gái và ông cũng đặt tên cho đứa con gái này là Blanche. Đứa con mới sanh giống hệt như đứa con gái trước.

Chín năm sau cái chết của đứa con gái đầu, khi đứa thứ hai được 6 tuổi th́ một việc bất ngờ đă xảy đến. Đây là lời của ông:

"Trong khi tôi và vợ tôi đang ở trong pḥng đọc sách kế cận pḥng ngủ th́ cả hai chúng tôi đều nghe thấy giọng hát ru con bằng tiếng Pháp vẳng ra từ pḥng ngủ của đứa con gái chúng tôi đang ngủ. Lấy làm lạ chúng tôi liền vào xem th́ thấy con gái chúng tôi đang ngồi trên giường và hát bài ru con với một giọng Pháp rất tự nhiên. Bài hát này chưa được ai trong chúng tôi dạy cho con gái cả. Vợ tôi hỏi con đang ca bài ǵ đó th́ nó trả lời đang ca bài hát bằng tiếng Pháp. Tôi liền hỏi: "Ai dạy con bài hát hay vậy?" Nó đă trả lời: "Không ai dạy con cả, bài hát này đă có sẵn trong đầu óc của con".

Blanche, người con gái Ư Đại Lợi, khi luân hồi đă báo cho mẹ biết là sẽ trở lại và Blanche hăy c̣n nhớ bài hát bằng tiếng Pháp mà trước Blanche đă được Marie, người trông nom em dạy em ở tiền kiếp.

-ooOoo-

-5-

"LÀ MỘT QUÂN NHÂN, TÔI CHIẾM CỬA THÀNH"

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Câu chuyện sau đây được giải thưởng hạng nhất trong một cuộc thi toàn quốc với chủ đề: "Một sự trùng hợp lạ lùng mà tôi biết".

Cuộc thi này do Tạp Chí "The American Magazine" tổ chức và câu chuyện được đăng trong Tháng Bảy Năm 1915. Dù chỉ là một sự trùng hợp hay một sự ǵ khác nữa, độc giả có thể tự ḿnh phán xét lấy. Người kể lại chuyện này là một thiếu phụ tại Minneapolis.

Nội dung của câu chuyện ngắn có thực này rất đơn giản nhưng rất giá trị v́ được ghi lại trung thực từ nhiều năm qua, tài liệu lịch sử hiện c̣n lưu trữ là những bút tích hiện hữu đă chứng minh cụ thể.

Người đàn bà đáng tin cậy nhất kể lại câu chuyện ấy như sau:

"Anne, cô em gái cùng mẹ khác cha của tôi nhỏ hơn tôi 15 tuổi là một đứa bộ kỳ quặc ngay từ tấm bộ. Nó không giống một ai trong gia đ́nh, da nó ngăm ngăm trong khi mọi người khác đều trắng trẻo ḍng dơi thừa hưởng Tô Cách Lan - Ái Nhĩ Lan của cha ông.

"Ngay khi biết nói rành rẽ, nó thường kể những câu chuyện hoang đường về nó. V́ thấy khá ngộ nghĩnh, tôi đă dùng bút chờ ghi lại những điều nó nói trong nhật kư của tôi. Tôi có bổn phận phải trông nom nó - mẹ tôi rất bận rộn - và tôi rất hănh diện về bà. Ở một đứa trẻ như nó không thể nào có được những câu chuyện hoang đường, với lại cái trí óc non nớt của nó làm sao có thể hiểu được những việc đại loại như thế.

Điều đáng nói nữa là tất cả mọi việc nó làm đều như một thói quen; nó chẳng bao giờ giải thích là tại sao nó lại làm như vậy. Nếu bạn nh́n cách thức nó cầm ly sửa lên và uống một hơi cạn ly sửa th́ bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên và bật cười v́ nó mới có 3 tuổi đầu.

Những việc như thế làm mẹ tôi khó chịu và bà thường quở trách nó. Là một đứa trẻ ngoan, cố gắng vâng lời, nhưng rồi sau đó lại đâu vào đó.

"Mẹ à! Con không thể làm hơn thế được, từ trước đến nay con vẫn làm như vậy mà". Nó nói với mẹ tôi bằng giọng trẻ thơ pha nước mắt.

Qúa nhiều việc xảy ra do thói quen về cách ăn nói, cách suy nghĩ và cách hành động của nó nên cuối cùng chúng tôi không để ư đến nữa và cho nó là một đứa trẻ hoàn toàn khác hẳn những đứa đồng tuổi.

Năm nó lên 4 tuổi một hôm cha tôi làm nó phẫn uất điều ǵ đó, nó tức ḿnh ngồi ngay dưới đất trước mặt chúng tôi và bảo rằng nó có ư định đi xa.

" -Trở về thiên đường, nơi con từ đó đến đây hả?" Cha tôi châm biếm hỏi. Nó lắc đầu

"-Con không đến với Cha từ thiên đường". Nó b́nh thản xác nhận. Thái độ này vẫn thường thấy ở nó.

" -Trước tiên con sẽ lên mặt trăng - Cha có biết ǵ về mặt trăng không? Trên đó cũng có người nhưng muốn lên rất khó".

Đó là một dự định hoang đường, tôi lấy bút ghi vào nhật kư.

Cha tôi tiếp: "-Vậy ra con từ mặt trăng đến với chúng ta à?

"-Ồ! Không phải " Nó trả lời cha tôi với một thái độ điềm tĩnh.

- Con đă ở đấy nhiều lần, có khi là đàn ông, có khi là đàn bà.

Vẻ b́nh thản của nó khiến cha tôi bật cười làm nó tức giận. Nó không thích bị diễu cợt.

"-Đúng vậy, đúng vậy." Nó phản đối ngay:

"Một lần con đă đến Gia Nă Đại lúc đó con là đàn ông, ngay cả tên con con c̣n nhớ nữa mà".

Cha tôi chế nhạo:

"- Ái Chà! Ái Chà! Một đứa con gái nhỏ tại Hoa Kỳ lại là một người đàn ông Gia Nă Đại Thế con c̣n nhớ tên là ǵ?" Nó suy nghĩ một chút rồi trả lời:

- "Lishus Faber", Nó nhắc lại và cả quyết đúng là tên Lishus Faber. Nó nói rơ rành rẽ nên tôi đă ghi lại trong nhật kư của tôi cái tên "Lishus Faber".

"-Này Lishus Faber, thời đó anh làm nghề ǵ? Cha tôi vẫn hỏi nó với điệu bộ diễu cợt.

"- Con là quân nhân và con đă chiếm được cửa thành". Nó trả lời cha tôi một cách cao ngạo của một người thắng trận.
Reply With Quote
  #5 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:38 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
Tất cả đều đă được tôi ghi vào nhật kư. Đă rất nhiều lần, chúng tôi cố gắng hỏi nó giải nghĩa thêm các câu nói của nó nhưng nó một mực chỉ nhắc lại câu trên và tỏ vẻ tức giận v́ chúng tôi đă không hiểu. Trí tưởng tượng của nó ngừng lại khi nói đến giải nghĩa. Dù chúng tôi sống trong một cộng đồng có kiến thức và t́m mọi cách để t́m hiểu câu chuyện như một người t́m hiểu câu chuyện có liên quan đến những đến những đứa con yêu quư của ḿnh nhưng không một ai có thể ức đoán được.

Vài người khuyến khích tôi cố gắng đi xa hơn nữa và tôi đă bỏ một năm để nghiên cứu lịch sử Gia Nă Đại với hy vọng t́m thấy một trận chiến nào đó có người "chiếm được cửa thành". Tất cả đều vô vọng. Cuối cùng tôi được một quản thủ thư viện giới thiệu với tôi một cuốn tài liệu, một cuốn sách dầy cũ và rất ngộ nghĩnh với chữ s's viết giống như f's. Đă một năm qua tôi không c̣n hy vọng ǵ t́m hiểu được. Thế mà một cuốn sách cổ xưa sống động v́ có nhiều h́nh vẽ với nhiều truyện ngắn đă giúp tôi t́m thấy câu chuyện thật bất ngờ.

Câu chuyện nói về thành tích chiến đấu của một đội quân nhỏ, chiếm đánh một thành phố cũng không có ǵ quan trọng. Một viên Trung Úy trẻ với toán quân của ông - với gịng chữ hiện ra trước mắt tôi - "Chiếm Cửa Thành"; Viên Trung Úy này tên là "Aloysius Le Febre" (Trùng hợp với tên và câu nói của đứa em nhỏ ngây thơ của tôi đă nói trước đây với cha tôi! ).

Về việc em gái tôi cho rằng con người đă có lần sống trên mặt trăng thật là kỳ lạ, tuy nhiên theo quan điểm của các nhà thông thiên học, sự việc rất có thể v́ mặt trăng trước đây là một hành tinh có người sanh sống và là nơi ở xa xưa của chúng ta. Điều đáng quan tâm là giờ đây người ta đă khám phá ra những viên đá do các phi hành gia mang về từ mặt trăng đều đă có lâu đời hơn các viên đá hiện tại trên trái đất.

-ooOoo-

-6-

CÓ PHẢI VỊ BÁC SĨ TÂM LƯ NGƯỜI HOA KỲ ĐĂ SỐNG Ở THẾ KỶ THỨ 17
TẠI ÂU CHÂU KHÔNG?

Tác giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Không phải chuyện b́nh thường khi một nhà tâm lư học viết khảo luận, nhất là cuốn sách đó nói về luân hồi. Và nhất định một câu chuyện như vậy phải được nghiên cứu kỹ lưỡng - nếu không cũng là chính kinh nghiệm bản thân của tác giả về tiền kiếp, khiến cho tác giả mạnh dạn viết thành sách. Nhà Tâm Lư Học này là Bác Sĩ Tâm Lư Frederic F. Flach; ông là giáo sư chuyên khoa tâm lư của Đại Học Y Khoa Nữu Ước và cũng là Bác Sĩ Tâm Lư của Dưỡng Đường Payne Whitney ở Bệnh Viện Nữu Uớc. Ông có pḥng mạch riêng rất đông khách. Cuốn sách của Bác Sĩ Flach có tựa đề "Fridericus" được xuất bản vào năm 1980.

Đầu tiên Bác Sĩ Flach chú ư đến luân hồi trong lúc khảo cứu đề tài "Sức Mạnh Kỳ Bí Của Phiền Muộn". Thật là hy hữu - một đồng sự của ông đă khám phá ra bản luận án số 1620 bằng tiếng La Tinh của một Bác Sĩ người Thụy Sĩ cùng tên Frederich F. Flacht nghiên cứu một đề tài như ông. Lúc đó ông cho chỉ là một sự trùng hợp lạ lùng nhưng ông không khỏi không nghĩ phải chăng vị Bác Sĩ Thụy Sĩ kia chính là ông thời nay.

Sau khi phát hành cuốn sách Fridericus, Bác Sĩ Flach đă kể với phóng viên ông tin tưởng mănh liệt chính ông là Bác Sĩ Fridericus.

Vị Bác Sĩ Thụy Sĩ ở tại Basel " là một Bác Sĩ chuyên về tâm lư giống như tôi hành nghề này rất hiếm ở thời ấy. Có một sự trùng hợp lạ lùng giữa những điều vị Bác Sĩ Thụy Sĩ viết và điều tôi nghiên cứu". Ông nói: "C̣n một sự trùng hợp khác nữa là miền Âu Châu mà Fridericus tới,những thành phố mà Fridericus đi qua trong đời cũng chính là những nơi mà gia đ́nh tôi đă sống. Gia đ́nh tôi một phần gốc ở gần Zurich. Có một thị xă mang tên Flach. Một phần khác ở ngay phía Bắc biên giới, tức là phía nam của Đức Quốc bây giờ. Một phần khác nữa th́ từ Strasbourg đến. Nếu bạn khoanh tràn khu vực đó th́ thấy đúng là Bác Sĩ Thụy Sĩ đă đến từ vùng đó.Ông là một Bác Sĩ hành nghề tại Thị Xă Worms ngay phía bắc Strasbourg, và ở tại Basel, Heidelberg và Mulhouse. Lại nữa ông lấy vợ hai lần. Tôi cũng lấy hai lần vợ. Ông ta có ba người con, tôi cũng có ba con.

Năm 1977, Bác Sĩ Flach đi Âu Châu để t́m hiểu thêm về Fridericus (Bác Sĩ Thụy Sĩ). Bác Sĩ Flach nói:

"Mục đích chính của tôi là t́m mọi dấu vết của Fridericus. Tôi đă đến Basel, Worms, Heidelberg,Strasbourg và Mulhouse.Tôi muốn biết cảm nghĩ của tôi khi đến các vùng này. Tại Basel tôi cảm thấy rất quen thuộc - một cảm giác ấm cúng như được về nhà."

Cuốn sách "Fridericus" được viết theo quan điểm của một Bác Sĩ Tâm Lư được huấn luyện kỹ càng, có nhiều kinh nghiệm. Và thật là thích thú khi theo dơi các lập luận để giải quyết vấn đề chính được nêu lên bởi bốn chuyên gia khác nhau. Trong đó đa số cuộc đối thoại xoay quanh vấn đề có hay không có luân hồi.

Trường hợp của Bác Sĩ Flach không có nhiều chi tiết không là một trường hợp đặc biệt nhưng cũng là dấu hiệu đáng quan tâm trong hiện đại. Điều chắc chắn là 50 năm về trước đây không một nhà tâm lư nào lại dám đề cập đến vấn đề (Luân Hồi) như vậy.

-ooOoo-

-7-

MỘT TRƯỜNG HỢP KỲ LẠ TẠI LEBANON

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

Vào năm 1962 khi Tiến Sĩ Stevenson đến Ba Tây để điều tra một vụ luân hồi gặp một người di cư gốc Lebanon cho Tiến Sĩ biết rằng ở làng anh ta, làng Kormayel có rất nhiều trường hợp tái sanh. Anh ta có viết thư giới thiệu Tiến Sĩ với người anh họ của anh ta hiện c̣n đang sống ở đó, nhưng mọi đến 2 năm sau Tiến Sĩ mới đến thăm được. Vào thượng tuần tháng 3 năm 1964, Tiến Sĩ Stevenson, không báo truớc đă tự đến nơi đó và được biết người mà Tiến Sĩ Stevenson muốn gặp đă đi Beirut để tránh mùa đông lạnh lẽo của miền quê hương rừng núi này.

Dân làng Kormayel biết được nhiệm vụ của Tiến Sĩ Stevenson đă báo cho Tiến Sĩ biết có một em bộ 5 tuổi tên Imad Elawar đă luôn luôn nhắc về tiền kiếp của em từ khi một tuổi. Đối với dân bản xứ, việc này không xa lạ v́ có nhiều trường hợp tương tự. Trên thực tế Tiến Sĩ Stevenson thấy dân nơi đây không theo Hồi Giáo mà theo đạo Druse và tỷ lệ luân hồi tại đây được coi như cao nhất thế giới. Hai trăm ngàn người Druse phần lớn sống tại Lebanon, Syria, miền Bắc Do Thái và Jordan. C̣n một thiểu số di cư sang Hoa Kỳ và Ba Tây.

Tiến Sĩ Stevenson đă t́m được người cha em Imad và ông này lại chính là người anh họ với người bạn của ông tại Ba Tây. Câu chuyện trở nên hấp dẫn và có giá trị đặc biệt v́ ông có thể điều tra trước hai gia đ́nh liên hệ về cả quá khứ lẫn hiện tại để biết rơ sự tồn tại của mỗi gia đ́nh. Vén đươc màn bí mật ông có thể quan sát em nhỏ ngay tại nhà về tính t́nh của em và cũng về việc lần đầu em gặp lại những người thân tiền kiếp của em. Sau hết trước khi đi kiếm những người này, Tiến Sĩ Stevenson đă ghi 50 dữ kiện mà em Imad đă nhớ được.

Bây giờ bắt đầu vào chuyện.

Imad sanh ngày 21 tháng 12 năm 1958, khi bắt đầu biết nói th́ lời nói đầu tiên của em là những tên Jamileh và Mahmoud. Khi biết nói trôi chảy rồi th́ em tiết lộ nhiều chuyện ở kiếp trước, tên những người mà em biết, tài sản mà em có và vài biến chuyển có xảy ra trong đời em. Em kể lại em là người của gia đ́nh Bouhamzy sống ở làng Khriby cách làng Kormayel một con đường núi khúc khuỷu dài 25 dậm. Trong gia đ́nh hiện thời của em chỉ có cha em là người đă đến Khriby để dự tang lễ của một người Druse nổi tiếng.

Imad đă nói về những người mà em nêu tên và lớn tiếng hỏi họ sống với nhau ra sao. Trong giấc ngủ em cũng nói như vậy. Cả thảy có 14 tên em nhắc đến. Người được nhắc nhiều nhất là Jamileh, một phụ nữ đẹp mà em say sưa so sánh với người mẹ kém hấp dẫn hiện tại. Em nói Jamileh mặc bộ quần áo mầu đỏ do em mua tặng và mang giầy cao gót - loại giầy mà ngày nay các phụ nữ trong làng cũng ít dùng. Mẹ của Imad cho biết khi lên 3 tuổi em có nói em muốn cao bằng Jamileh và một hôm nằm trên giường với mẹ em đă yêu cầu mẹ hăy cư xử như Jamileh.

Em c̣n nhớ thời tiền kiếp em thích đi săn em có một cây súng hai nàng. Để mô tả cây súng có hai nàng em dùng hai ngón tay chập lại với nhau. Về tài sản em có một căn nhà, một xe hơi nhỏ mầu vàng, một chiếc xe buưt và một chiếc xe vận tải chở đá.

Về những chuyện ở kiếp trước em nhớ một lần em có đánh một con chó. Nhưng chuyện làm em khổ tâm nhất là một tai nạn xe cộ nghiêm trọng đă xảy ra. Một chiếc xe vận tải đă đụng phải một người đàn ông (tức là em) làm găy hai chân và cán nát bụng. Người đàn ông được chở đi Bác Sĩ và đă phải giải phẫu. Bà mẹ và Bà Nội của em cho rằng việc này rất đáng quan tâm v́ ngay khi mới biết đi em vẫn hay nói rằng em sung sướng biết mấy khi có thể đi lại được! Người cha em cho tất cả những chuyện trên là nhảm nhí và gọi em là đứa điêu ngoa, v́ vậy em chỉ dám kể cho những người đàn bà trong nhà mà thôi.

Tuy nhiên mọi người trong nhà đều thấy một hôm lúc Imad lên 2 tuổi đă chận một người lạ mặt ngoài đường ôm chầm lấy ông ta mừng rỡ. Người lạ mặt liền hỏi "Em biết tôi sao?" - "Vâng, ông là người hàng xóm của tôi " em trả lời. Người này là Salim Aschar, người làng Khriby ngày xưa ở cạnh nhà Imad sự thực này măi sau mới khám phá ra được chứ vào lúc này cũng chưa ai biết em là người của gia đ́nh Bouhamzy. Tuy nhiên điều này không ngăn cản gia đ́nh hiện tại của em đi đến kết luận - ḥan toàn không chính xác như chúng ta sẽ biết sau này. Nghĩa là lúc đầu Tiến Sĩ Stevenson đă được người ta cung cấp những tin tức sai lạc.
Reply With Quote
  #6 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:39 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
Đây là câu chuyện mà cha mẹ em đă cung cấp:

Những lời nói đầu tiên khi em mới biết nói là Mahmoud và Jamileh, chính là tiền thân của em và người vợ. Mahmoud đă bị xe vận tải đụng chết. Chuyện này không những đă do Imad kể lại mà chính em là một đứa trẻ rất sợ hăi mỗi khi nh́n thấy xe vận tải lớn và các xe buưt. Ngay cả lúc c̣n chập chững biết đi em vẫn thường chạy trốn khi nh́n thấy 2 loại xe trên.

Một chuyện nhỏ nữa là ngày hôm sau Tiến Sĩ Stevenson cùng Imad và cha em đến Khriby. Em đă tỏ ra xúc động như là em đă xa cha mẹ lâu năm nay mới được về thăm lại. Trên đường đi em đă cho Tiến Sĩ Stevenson biết thêm về kư ức của em. Nhưng cuộc viếng thăm này không mang lại một kết quả cụ thể nào để chứng minh câu chuyện bí mật về tiền kiếp của Imad v́ đúng là có Mahmoud Bouhamzy, nhưng hiện nay người này c̣n đang sống. Vợ anh ta không mang tên Jamileh và căn nhà cũng không như Imad đă mô tả.

Ngày hôm sau đó, Tiến Sĩ Stevenson quyết định một ḿnh đến Khriby để điều tra lấy. Tiến Sĩ đă thấy một người Bouhamzy tên Haffez có người cha bị xe cán gẫy hai chân và đè nát bụng. Và mặc dầu đă phải giải phẫu hai lần song ông ta vẫn chết. Vợ ông ta cũng không phải là Jamileh và căn nhà cũng không giống như Imad mô tả. Sự điều tra của Tiến Sĩ Stevenson cho đến ngày ấy cũng chưa đi đến kết quả cụ thể.

Bất ngờ một tia sáng tự nhiên lóe lên! Haffez cho biết ông ta có một người anh họ rất quyến luyến với cha của Haffez và vô cùng đau xót trước tấm thảm kịch tai nạn ấy. Người này tên Ibrahim Bouhamzy có một người chú tên Mahmoud có một người t́nh nhân tên Jamileh. Mối quan hệ giữa hai người Mahmoud và Jamileh đă làm cho dư luận xôn xao. Vẻ đẹp của Jamileh rất thanh tú, nàng ăn diện theo thời trang đúng như Imad đă mô tả. Hơn thế nữa căn nhà mà Imad nói đến đúng là căn nhà của Ibrahim Bouhamzy. Ibrahim đă chết v́ bệnh lao vào khoảng trên 20 tuổi và đă bị bán thân bất toại lối một năm trước khi chết. Imad sung sướng biết bao khi được đi ṿng quanh nơi này! Sau khi Ibrahim chết, Jamileh đă lấy chồng và chuyển đến một làng khác.

B́nh luận về sự thất bại lúc đầu Tiến Sĩ Stevenson nói: "V́ sự suy luận sai lầm của gia đ́nh Imad cộng thêm vào sự quá tin tưởng vào ḷng thành thật của họ khi họ cung cấp các tin tức, hơn nữa giữa đám người Hồi và người Cơ Đốc Giáo xung quanh th́ người Druse vẫn được tiếng là thành thực".

Khi Tiến Sĩ Stevenson quay trở lại gia đ́nh Imad và báo cho họ kết quả điều tra của ḿnh, cha mẹ Imad không được vui v́ quan hệ của Imad với Jamileh ở tiền kiếp làm gương mặt của Bà mẹ Imad sa sầm đau khổ.

Hôm sau Tiến Sĩ Stevenson dẫn Imad và người cha đến nhà Ibrahim để xem Imad có thể nhận ra được điều ǵ kể từ khi Ibrahim chết vào năm 1949.

Theo lời Imad trước khi đi nhà này có hai cái giếng, một cái đầy nước c̣n một cái th́ cạn. Tiến Sĩ Stevenson đă đích thân đi xem những cái giếng này. Cả hai đều đă bị lấp từ khi Ibrahim chết. Thực ra đây không phải là giếng nước mà là 2 cái hầm xây bằng bê tông để chứa nước cốt nho. Theo như Tiến Sĩ Stevenson miêu tả, có một bộ phận đặc biệt được chế ra để hầm được luân phiên điều chỉnh nghĩa là hầm này đầy th́ hầm kia cạn.

Đến lúc này th́ xuất hiện 3 người đàn bà cùng dẫn Imad đi ṿng quanh nhà. Ba người này là mẹ, chị của Ibrahim và người hàng xóm. Imad đă trả lời đúng 13 câu hỏi liên quan đến những người thân ở tiền kiếp. Tuy nhiên, Imad không nhận ra người mẹ mặc dù Imad vẫn thường nói rất thương yêu mẹ. Giờ đây người mẹ đă già và thay đổi hẳn. Người chị liền hỏi: "Thế em có biết ta là ai không?" Imad trả lời ngay: "Chị Huda". Rồi chỉ một bức tranh sơn dầu trên tường và bảo đó là em Fuad. Một bức ảnh lớn được đưa ra và chỉ vào Imad họ hỏi: "Ai đây? Em của em hay là người chú của em? " Imad trả lời: "Tôi đấy "

Người chị tiền kiếp lại hỏi Imad: "Trước khi chết em có nói một câu ǵ em c̣n nhớ không?"

Imad trả lời: "Chị Huda! Gọi Fuad cho em". Đúng như vậy, Người em Fuad vừa ra khỏi nhà một lúc Ibrahim muốn gặp em lần cuối nhưng không kịp, Ibrahim đă chết liền sau đó. Ibrahim rất thương em, một tấm h́nh nhỏ của Fuad được trao cho Imad để làm kỷ niệm. Imad nâng niu và hôn tấm h́nh này rất là âu yếm.

Trong khi đi xem nhà, Huda đă được Imad cho biết bà mẹ có lần bị cái cửa dẫn ra sân kẹp ngón tay. Tiến Sĩ Stevenson nhận thấy ngón tay của Bà mẹ hiện nay hăy c̣n bị dẹp v́ tai nạn này.

Một người hỏi Imad: "Khi em ngủ th́ chiếc giường được đặt như thế nào?" Imad cho biết cái giường để theo h́nh chữ thập. Rồi một câu hỏi thích hợp khác được nêu lên: "Khi em đau ốm, những người bạn đến nói chuyện với em bằng cách nào?" Imad trả lời:

"Qua cửa sổ".

-"Tại sao?"

-"V́ họ không dám vào pḥng sợ lây bệnh Và cũng v́ thế mà cái giường được kê như trên." Imad trả lời.

Một câu hỏi thử thách khác:

"Thế cây súng được dấu ở đâu?" Imad chỉ đằng sau cái tủ quần áo trong một cái hộc trên tường. Mẹ của Ibrahim xác nhận là đúng và thêm vào chỉ có Bà Cô và Ibrahim là biết chỗ dấu súng mà thôi.(Việc này được giữ bí mật; ở thời đó có súng là bất hợp pháp).

Trường hợp này có hai diễn biến rất hay. Những diễn biến này được khám phá bởi Mahmoud, người chú của Imad trong một vài lần tiếp xúc với Tiến Sĩ Stevenson khi Tiến Sĩ Stevenson trở lại Lebanon để phỏng vấn các nhân chứng.

Mahmoud là tên một trong hai người mà Imad thường nhắc đến lần đầu tiên khi c̣n nhỏ. Khi Imad đến Khriby, Imad đă không gặp được Mahmoud, nhưng đến mùa hè năm 1970, Imad 12 tuổi, Mahmoud, người chú bất thần đến thăm nhà Imad. Imad không nhận được ra là Mahmoud. Khi Mahmoud đưa một tấm h́nh cho Imad coi, tấm h́nh này Mahmoud có bộ ria mép, hỏi Imad h́nh này là ai th́ Imad đă trả lời: "Đó là h́nh Chú Mahmoud". Sau đó người chú có mời Imad về Khriby ở với ông ta vài ngày. (Imad đă không đến Khriby từ khi Tiến Sĩ Stevenson và Imad đến đó vào năm 1964).

Diễn biến thứ hai khiến người chú xúc động vô cùng xảy ra khi Imad và ông ta đang đi bộ tại Khriby. Thấy một người đàn ông trên đường, Imad đă chặn lại và xin phép nói chuyện. Người chú hỏi Imad: "Con muốn nói ǵ với người đó? Ông ta là một cựu quân nhân đấy" Imad trả lời chính là lư do mà Imad muốn tṛ chuyện. Imad đă nói chuyện rất lâu với người này và người này cho biết Imad chính là Ibrahim tái sanh và nhắc lại với người này về những thời trước đă cùng sống với nhau như thế nào. Người cựu quân nhân này đă xác nhận với người chú Mahmoud là chính ông ta và Ibrahim đă gia nhập Quân Đội Pháp một ngày và đă cùng sống với nhau trong quân ngũ.

Trong phần kết luận, Tiến Sĩ Stevenson đă báo cáo trong số 57 điều Imad nói về tiền kiếp trước khi gặp những người thân có th́ Imad đă nói trúng 51 điều. Những điều đúng này gồm có cả cái xe hơi mầu vàng, xe buưt, xe vận tải mà Imad thường nhắc tới và nói những thứ trên là thuộc của Imad ở tiền kiếp.
Reply With Quote
  #7 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:42 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
II. TIẾN SĨ IAN STEVENSON

Tiến Sĩ Ian Stevenson sanh ngày 31 Tháng 10 Năm 1918 tại Montreal, Gia Nă Đại. Cha ông là phóng viên của Tạp Chí Time, Luân Đôn. Ian Stevenson học về y khoa và tâm lư tại Đại Học Y Khoa Mac Gill, Montreal, Gia Nă Đại và đậu Y Khoa Bác Sĩ năm 1943. Tiến Sĩ Ian Stevenson đă phục vụ tại Bệnh Viện Saint Joseph, Tiểu Bang Arizona, Hoa Kỳ, Viện Đại Học Louisana, New Orleans từ Năm 1947 đến Năm 1957. Bắt đầu năm 1957 Tiến Sĩ điều khiển Ngành Tâm Trí và là Viện Trưởng Viện Tâm Trí tại Đại Học Virginia, Charlotsville.

Tiến Sĩ là tác giả của nhiều bài khảo luận về Bệnh Tâm Trí đăng trên các Tập San Y Học. Ngoài việc trị bệnh cho các bệnh nhân Tiến Sĩ c̣n phụ trách giảng dạy tại các Trường Đại Học Hoa Kỳ.

Tiến Sĩ là một nhà phân tích về tâm trí có biệt tài và đến năm 48 tuổi Tiến Sĩ đă đạt đến nấc thang danh vọng cuối cùng; thế mà Tiến Sỉ bỏ nghề y khoa chuyên môn để bước sang một lĩnh vực khác, đó là công cuộc điều tra và nghiên cứu về Luân Hồi.

Trong một cuộc phỏng vấn, Kư Giả Eugene Kinkaid của tờ New Yorker đă hỏi Tiến Sĩ lư do g̀ đă khiến Tiến Sĩ bỏ nghề y khoa chuyên môn để đi theo một nghề không chính thống. Tiến Sĩ đă trả lời:

"Tôi không đồng ư các phương pháp áp dụng để chữa trị các bệnh nhân tinh thần. Lư thuyết của ngành tâm trí hiện nay cho rằng cá tính của một con người là do ảnh hưởng của tính chất di truyền hoặc là ảnh hưởng thời gian của người cha hay người mẹ trước và sau khi sanh, Song rất nhiều trường hợp tôi đă khám phá ra chúng ta không thể đồng ư với lư thuyết trên cả về tính cách di truyền lẫn ảnh hưởng thời gian."

Tiến Sĩ Ian Stevenson đă giải thích trong việc nghiên cứu về luân hồi Ông đă phải dùng đến nhiều phương pháp chuyên môn của một nhà sử học, một nhà luật học, một nhà tâm trí học và t́m các dữ kiện qua những chứng nhân, tài liệu như nhật kư, giấy khai sanh, báo cáo giảo nghiệm, hồ sơ bệnh lư, tin tức của các báo chí vân vân...

Tập San về Bệnh Thần Kinh và Trí Năo (The Journal of Nervous and Mental Desease) số 165 Tháng 9 Năm 1977 đă dành riêng nói về công cuộc nghiên cứu luân hồi, về có sự sống sau khi chết của Tiến Sĩ đă khiến cho các độc giả cùng các nhà khoa học gia rất chú ư đến những chứng minh của Tiến Sĩ. Cũng trong Tháng 5 Năm 1977 Tiến Sĩ đă đăng một bài khảo luận "The Explanatory Value of The Idea of Reincarnation" nêu vấn đề luân hồi trên tập san này.

Phản ứng của các độc giả ra sao? Tiến Sĩ Eugene Brody, nhà xuất bản tờ báo cũng là một nhà tâm trí học của Viện Đại Học Y Khoa Maryland trong một cuộc phỏng vấn đă cho biết như sau: "Tôi đă nhận được lối 300 đến 400 lá thư của các Khoa Học Gia yêu cầu cho in lại số báo trên. Quả là đă có nhiều người chú trọng đến vấn đề này."

Tiến Sĩ Ian Stevenson đặc biệt khảo cứu các trẻ em trên thế giới cả Đông lẫn Tây có kư ức về tiền kiếp. Ông đă xuất bản 5 cuốn sách về luân hồi, trong đó có cuốn "Children Who Remember Previous Life" (Những Thiếu Nhi C̣n Nhớ Tiền Kiếp) do nhà Xuất Bản University Press of Virginia, Charlotsville phát hành năm 1987 mà chúng tôi xin trích dịch vài truyện trong tác phẩm này.

-ooOoo-

-8-

GOPAL GUPTA

Tác giả: Tiến Sĩ Ian Stevenson

Gopal Gupta sanh ngày 26 Tháng 8 Năm 1956 tại Dehli Ấn Độ. Cha mẹ của Gopal thuộc giai cấp trung lưu, học vấn không đáng kể. Từ lúc lọt ḷng đến lúc 2 tuổi không có ǵ đặc biệt.

Khi Gopal bắt đầu biết nói từ khoảng 2 đến 2 tuổi rưỡi, có một người khách đến thăm gia đ́nh Gopal. Cha của Gopal sai Gopal đem cất cái ly người khách vừa uống xong. Gopal đă làm cho mọi người ngạc nhiên. Em nói rằng: "Con không thể làm việc đó v́ con là một Sharma (thuộc Bà La Môn, một giai cấp thượng lưu của Ấn Độ). Trong cơn giận giữ, Gopal đă làm vỡ cái ly. Cha của Gopal bắt Gopal giải thích lư do. Gopal liền kể lại vài chi tiết về tiền kiếp của em. Em cho biết trước kia em ở thành phố Mathura, cách xa Dehli 160 dậm về phía nam. Em là chủ nhân một hăng thuốc Sukh Shancharak, có một căn nhà rất lớn, có nhiều đầy tớ, có hai người anh và một người vợ. Em đă căi nhau với một trong hai người anh và đă bị bắn chết.

Gopal cho biết ở tiền kiếp em thuộc ḍng dơi Bà La Môn nên từ chối không chịu cất ly v́ người Bà La Môn thường không bao giờ cầm những vật dụng ǵ mà người giai cấp thấp hơn đă đụng tới. Gia đ́nh của Gopal hiện tại thuộc ḍng Bania, giai cấp thương mại.

Cha mẹ của Gopal không có liên hệ ǵ với Mathura, nên sự phát hiện của Gopal về tiền kiếp không gợi cho cha mẹ Gopal một kư ức nào cả. Mẹ của Gopal không thích và cũng chẳng bao giờ khuyến khích Gopal nói về tiền kiếp cả. Cha của Gopal th́ lại càng lạnh nhạt với những câu chuyện về tiền kiếp khi Gopal kể. Tuy nhiên thỉnh thoảng cha của Gopal có kể lại cho vài người bạn nghe về chuyện tiền kiếp của Gopal. Một trong những người này cho biết h́nh như ông ta có nghe thấy một vụ giết người trùng hợp với câu chuyện trên ở Mathura, nhưng cha của Gopal chưa tin nên cũng chẳng mấy quan tâm để đi Mathura t́m hiểu sự việc có thật hay không.

Cho đến năm 1964, nhân cơ hội có một buổi đại hội về tôn giáo tổ chức tại Mathura, cha của Gopal trong lúc đi dự hội đă khám phá ra là tại Mathura có hăng thuốc Sukh Shancharak. Ông t́m đến Hăng thuốc và được gặp viên Quản Lư. Ông kể lại cho Viên Quản Lư nghe chuyện Gopal nói về tiền kiếp. Viên Quản Lư rất ngạc nhiên v́ có một chủ nhân của hăng này đă bị người anh ruột bắn chết cách đây mấy năm. Người chủ này là Shaktipal Sharma chết ngày 27 Tháng 5 năm 1948, vài ngày sau khi bị bắn.

Viên Quản Lư báo cho gia đ́nh Sharma biết việc viếng thăm của cha Gopal. Vài người trong gia đ́nh Sharma đă tới Dehli thăm gia đ́nh Gopal và đă mời Gopal tới Mathura. Trong những cuộc gặp gỡ tại Mathura cũng như Dehli, Gopal đă nhận ra một số người và một số nơi mà trước kia Shaktipal đă quen biết và thêm vài tin tức đặc biệt về đời tư của Shaktipal Sharma. Gia đ́nh của Sharma rất ngạc nhiên v́ Gopal đă cho biết trước đây Shaktipal Sharma dự định muốn mượn một số tiền của vợ và muốn lấy số tiền để cho anh ḿnh vay hùn vốn vào công ty. Cuộc căi vă đă xảy ra giữa hai anh em, Shaktipal muốn cho người anh nguôi giận đă tăng số tiền cho vay lên nhưng người vợ lại từ chối không cho. Do đó người anh đă cáu kỉnh và trong lúc nóng giận đă bắn Shaktipal Sharma. Chi tiết của tấn thảm kịch này đă được dấu kín không ai được biết ngoại trừ những người trong gia đ́nh. Vụ người anh giết em này đă được đăng tải trên báo chí. Sự hiểu biết tường tận về nội vụ cùng với sự nhận dạng được một số người trước đây đă quen với Shaktipal khiến cho gia đ́nh của Shaktipal Sharma phải công nhận Gopal chính là hiện thân của Shaktipal. Song song với những lời tuyên bố về tiền kiếp, Gopal đă tỏ ra phong thái của một người Bà La Môn giàu có cho nên cá tính của em đă làm trở ngại không ít đến gia đ́nh hiện tại của em. Em đă không ngần ngại nói rằng em thuộc gịng dơi cao quư hơn những người hiện tại của gia đ́nh em. Em đă từ khước những công việc nội trợ cho rằng những công việc này chỉ đáng để cho những người đầy tớ làm mà thôi. Em không bao giờ uống sửa nếu sửa nếu được rót vào một cái ly đă có người khác sử dụng.

Tiến Sĩ Jamua Prasad đă từng cộng tác với tôi (Ian Stevenson) nhiều năm trong nhiều trường hợp tại Ấn Độ, đă bắt tay điều tra vụ này năm 1965. Riêng tôi bắt đầu vào năm 1969 khi tôi đích thân phỏng vấn hai gia đ́nh tại Dehli cũng như Mathura. Tôi vẫn c̣n liên lạc với họ cho đến năm 1974. Sau khi đi thăm Mathura vào năm 1965 th́ Gopal không có ư định đến thăm nơi này nữa. Vài năm sau 1965 thỉnh thoảng Gopal có đến Dehli thăm hai người chị của Shaktipal. Nhưng sau đó th́ sự liên lạc giữa hai gia đ́nh đă không được duy tŕ nữa. Gopal càng lớn lên th́ cái phong thái Bà La Môn của tiền kiếp thể nhập nơi anh ngày dần biến mất và anh từ từ ḥa ḿnh với đời sống khiêm tốn của gia đ́nh hiện tại. Anh cũng ít nói đến đời sống của Shaktipal Sharma, nhưng đến cuối năm 1974 cha của Gopal vẫn nghĩ rằng con của ông c̣n nhớ đến những kư ức của chuyện này.

Đối với tôi (Ian Stevenson) trường hợp luân hồi này rất đáng được kể đến v́ sự trung thực, làm sao Gopal có thể biết rơ về lúc sống cũng như lúc chết của Shaktipal Sharma. Tuy Shaktipal Sharma thuộc một gia đ́nh khá giả tại Mathura và việc anh bị thảm sát đă làm xôn xao dư luận nhưng hai gia đ́nh Sharma và Gopal đă sống ở hai thành phố cách xa nhau và thuộc hai giai cấp khác hẳn nhau. Đời sống xă hội của hai gia đ́nh ở trong hai qóy đạo riêng biệt và chính tôi tin tưởng mănh liệt là hai gia đ́nh theo như lời họ thuật lại đă không bao giờ được biết nhau cho đến khi xảy ra sự việc trên.

-ooOoo-

-9-

CORLISS CHOTKIN JR.

Tác Giả: Ian Stevenson

Trường hợp này là lời nói trước của một người đánh cá lớn tuổi ở Tlingit, Alaska tên Victor Vincent. Ông cô cho người cháu gái Corliss Chotkin Sr biết là sau khi ông cô chết, ông cô sẽ đầu thai làm đứa con trai của cô ta. Ông cô chỉ cho cô ta thấy hai vết thẹo sau hai lần giả́ phẫu, một trên sống mủi và một đằng sau lưng. Ông cô nói là đứa con cô ta (tức là ông cô tái sanh) sẽ mang 2 vết thẹo như trên.

Victor Vincent chết vào mùa xuân năm 1946. Khoảng mười tám tháng sau, ngày 15 tháng 12 năm 1947, cháu gái của ông cô sanh một đứa con trai và được đặt tên là Corliss Chotkin Jr. Đứa nhỏ mang hai vết thẹo y như hai vết thẹo của Victor Vincent trước kia. Vào năm 1962, lần đầu tiên khi tôi (Ian Stevenson) xem xét hai vết thẹo tôi được Bà Chotkin cho biết hai vết thẹo có thay đổi theo thời gian nhưng hăy c̣n rất rơ ràng. Nhất là vết thẹo đằng sau lưng đă làm tôi kinh ngạc, nó rộng chừng 5 ly, dài chừng 3 phân, so với chỗ da khác th́ vết thẹo này có mầu sậm hơn và hơi lồi, có nhiều chấm đen chung quanh tựa như vết thương được khâu nhiều mủi.
Reply With Quote
  #8 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:43 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
Khi Corliss vừa được 13 tháng Bà Chotkin thường tập cho Corliss gọi tên của nó, th́ Corliss thường nóng nảy nói rằng: "Mẹ không biết con là ai à? Con là Kahkody mà". Kahkody là cái tên do Bà lúc đặt cho Victor Vincent khi c̣n sống. Bà Chotkin có kể lại cho một người cô th́ bà này cho biết là sau khi Victor Vincent qua đời được ít lâu bà có nằm mơ thấy Victor Vincent trở về sống với gia đ́nh Chotkin. Bà Chotkin chưa bao giờ cho bà cô ấy biết là chính Victor Vincent đă nói trước với bà là sẽ tái sanh làm con trai bà.

Khi được chừng 2, 3 tuổi Corliss đă nhận ra nhiều người mà trước đây Victor Vincent đă từng quen biết trong đó có người vợ của Victor Vincent. Corliss c̣n kể 2 biến cố xảy ra trong cuộc đời của Vincent mà chỉ có ḿnh Vincent biết được mà thôi. Thêm nữa c̣n có nhiều nét đặc biệt giống như Victor Vincent, chẳng hạn như cách chải đầu. Corliss đă chải kiểu tóc giống như Vincent trước đây. Cả hai cùng nói lắp (cà lăm), cùng thích bơi lội và tầu bè, cùng thuận tay trái, cùng có chung khuynh hướng về tôn giáo. Cũng như Vincent, Corliss có khiếu về máy móc, có khả năng về sử dụng và sửa chữa. Mẹ của Corliss cho biết đă tự học một ḿnh cách làm sao cho chiếc thuyền máy chạy được. Khác hẳn với cha là ông Chotkins, một người không mấy thích máy móc và càng không có năng khiếu về máy móc.

Khi lên 9 tuổi, Corliss ít nói đến tiền kiếp của ḿnh, cho đến năm 1962 th́ hầu như Corliss không c̣n nhớ ǵ nữa.

Tôi (Ian Stevenson) đă gặp Corliss và gia đ́nh cả thảy 3 lần và đầu năm 1960 và 1 lần vào năm 1972. Lần gặp cuối cùng tôi thấy Corliss không c̣n nói lắp (cà lăm) như trước nữa, khuynh hướng về tôn giáo của anh cũng giảm đi song anh vẫn c̣n thích máy móc. Trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, Corliss đă được gửi sang chiến đấu trong đoàn Pháo Binh. Một trái đạn nổ gần bên đă làm Corliss bị điếc. Năm 1972 lần cuối cùng gặp lại Corliss, tôi thấy anh vẫn mạnh khoẻ và đang làm việc tại một nhà máy xay bột gần nhà của anh tại Sitka Alaska'

-ooOoo-

-10-

MA TIN AUNG MYO

Tác Giả: Ian Stevenson

Ma Tin Aung Myo sanh ngày 26 Tháng 12 năm 1953 tại làng Nathul miền thượng Miến Điện. Cha Cô là U Aye Maung và mẹ cô là Daw Aye Tin. Khi c̣n đang mang thai Ma Tin Aung Myo, 3 lần Bà mơ thấy một người lính Nhật cởi trần, mặc quần soọc đă theo bà và nói rằng ông ta sẽ đến ở với vợ chồng Bà.

Khoảng 3, 4 tuổi, Myo đă có những hiện tượng nhớ đến tiền kiếp của ḿnh. Mỗi lần thấy máy bay bay ngang làng Nathul, Myo đều sợ hăi và khóc. T́nh trạng này kéo dài nhiều năm. Lúc lên 4 tuổi có lần Myo khóc sướt mướt; được hỏi lư do cô trả lời là cô khao khát được về nước Nhật. Rồi sau đó Myo kể là Myo là người lính Nhật đóng quân ở Nathul trong thời Đệ Nhị Thế Chiến khi Quân Đội Nhật Bản chiếm giữ Miến Điện. Myo nói rằng cô là hỏa đầu quân và bị bắn chết trong một cuộc oanh tạc của máy bay Đồng Minh. Myo cung cấp vài chi tiết khác về tiền kiếp mà cô c̣n nhớ. Trước kia Myo ở phía Bắc nước Nhật, đă lập gia đ́nh và có một con. Trước khi nhập ngũ gia đ́nh có một cửa hàng nhỏ.

Trong lúc Quân Đội Nhật rút lui khỏi Miến Điện, Cô bị máy bay bắn chết. (Có thể sự việc xảy ra vào năm 1945). Cô đă mô tả lối ăn mặc của người lính Nhật và cách thức ẩn tránh khi bị máy bay oanh tạc. Riêng cô bị kẹt ngoài bờ đê nên đă bị bắn chết. Myo không nhớ tên cũng như quê quán của người lính Nhật. Tuy nhiên những ǵ Myo kể lại rất phù hợp với những biến chuyển trong thời gian Quân Đội Nhật chiếm đóng Miền Thượng Miến Điện. Mẹ của Myo cho biết có quen thân với một người lính Nhật làm hỏa đầu quân khi quân đội Nhật Bản đóng tại nơi đây, nhưng không biết anh lính Nhật này chết tại đâu.

Lối xử sự của Myo rất khác thường, giống như phong cách của một người lính Nhật. Myo không thích khí hậu nóng bức tại miền thượng Miến Điện và cũng không thích các món ăn nấu theo kiểu địa phương, Myo thích ăn đồ ăn có đường, cá sống. Myo thường tỏ vẻ mong đợi ngày trở về Nhật Bản và có nhiều khi nằm úp mặt khóc v́ nhớ nhà. Myo cũng thường tức giận mỗi khi có ai nhắc tới người Anh hoặc người Mỹ trước mặt Myo.

Điều đặc biệt nhất là Myo thích làm con trai. Cô hay mặc quần áo đàn ông và thích cắt tóc kiểu con trai. V́ vậy khi đi học Myo bị nhà trường bắt buộc phải ăn mặc theo kiểu phụ nữ. Myo đă từ chối và năm lên 11 tuổi Myo đă bỏ học. V́ học vấn kém nên Myo đă phải làm nghề tầm thường. Năm 1974 khi tôi (Ian Stevenson) gặp Myo lần đầu tiên th́ cô đang bán rong đồ ăn ở ga xe lửa.

Thưở c̣n nhỏ, Myo thích chơi tṛ đóng vai người Lính. Myo đ̣i cha lần nào đi Mandalay cũng phải mua cho cô một cây súng giả. Ba người chị cũng như người em trai độc nhất của cô lại không thích tṛ này. Myo thích chơi đá banh và khúc côn cầu, hai môn thể thao chỉ dành cho con trai.

Cha mẹ Myo đă có 3 người con gái trước khi sanh Myo. Tuy cả hai ông bà đều muốn có một đứa con trai, nhưng điều đó không có nghĩa là hoan nghênh tinh thần thích làm con trai của cô. Người mẹ phản đối con kịch liệt c̣n người cha th́ khoan dung hơn.

Càng lớn, Myo càng có vẻ đàn ông, Myo thích ăn mặc theo kiểu con trai và không nghĩ đến việc lấy chồng. Ngược lại Myo nói rằng thích một người vợ. Myo coi ḿnh như một nam nhi và không thích được đối xử như một phụ nữ. Khi U Win Maung, người phụ tá của tôi (Ian Stevenson) tại Miến Điện gọi Myo bằng "Ma", tiếng lịch sự để chỉ người phụ nữ Miến, th́ cô yêu cầu được gọi cô là Maung, tiếng thông dụng để chỉ thanh niên Miến hoặc không dùng danh từ nào cả. Trong một cuộc phỏng vấn, cô đă nói với tôi và U Win Maung rằng cô sẽ rất hài ḷng nếu chúng tôi chọn bất cứ cách nào để giết cô miễn là bảo đảm cho cô khi được sanh trở lại cô sẽ là đàn ông. Gia đ́nh Myo cho rằng sự luyến ái của Myo khác thường như vậy v́ tiền kiếp Myo là đàn ông và cũng xác nhận cái tính khí y hệt thanh niên của cô là do tiền kiếp cô là người lính Nhật Bản.

Tuy rằng chi tiết để xác minh người lính Nhật không được đầy đủ nhưng tất cả những hành động cũng như tính t́nh của Myo đă phản ảnh rơ ràng Myo đúng là hiện thân của một người Lính Nhật Bản.

Tôi (Ian Stevenson) đă gặp lại Myo vào năm 1975 và sau đó th́ không gặp nữa nhưng U Win Maung, người phụ tá của tôi tại Miến Điện đă gặp Myo vào năm 1970, sau này c̣n gặp lại cô 2 lần nữa vào năm 1977 và năm 1981.

-ooOoo-

-11-

MỐI T̀NH TUYỆT VỌNG

Tác Giả: Ian Stevenson

Đây là một trường hợp Tiến Sĩ Ian Stevenson đăng trên tờ Journal of Nervous and Mental Disease (T́ Báo nói về Bệnh Thần Kinh và Tâm Trí) và năm 1983.

Tại Rio Grand Do Sul, một Tiểu Bang cận nam của Ba Tây, một bé gái của một trại chủ giàu có tên là Senor C.J. De Oliveiro ra đời. Tên bé gái là Maria nhưng thường gọi là Sinha và thân mật hơn là Sinhazinha.

Khi lớn lên Sinha rất yêu mến đời sống thôn dă nơi quê cha và thỉnh thoảng nàng thường đến chơi làng Dom Feliciano cách 12 dậm. Nơi đây Sinha quen với Ida Lorenz, vợ một giáo viên.

Rồi th́ 2 lần t́nh yêu đến nhưng lần nào nàng cũng đều bị người cha nghiêm khắc bảo thủ ngăn cản và một trong 2 thanh niên đă tự tử v́ tuyệt vọng. Sinha ngày càng héo hon sầu năo. Lo lắng người cha đă thu xếp cho nàng đi du ngoạn Pelotes, một thị trấn ven biển trong mùa hội nhưng t́nh trạng của nàng cũng không khả quan hơn.

Với mục đích hủy hoại thân ḿnh nàng đă tự hành xác bằng cách dầm thân dưới trời giá lạnh cho đến khi kiệt sức. Nàng bị khan tiếng, nhiễm trùng cổ họng, sưng phổi rồi ho lao. Vài tháng sau nàng chết.

Trước khi chết nàng có tâm sự với người bạn thân Ida Lorenz rằng bệnh hoạn là tự nàng làm ra. Nàng c̣n căn dặn 2 điều:

"Một, tôi sẽ tái sanh làm con gái của Ida và hai, khi biết nói tôi sẽ kể lại mọi điều về đời sống hiện tại của tôi lúc đó chị sẽ nhận ra".

Ida có nói cho chồng biết và hai người cùng chờ xem sự việc xảy ra sao. Ngoài ra không một ai trong gia đ́nh biết cả.

Vài tháng sau khi Sinha chết, Ida sanh được một bộ gái đặt tên là Marta. Marta có những nét đặc biệt tương tự như Sinha. Khi Marta chưa đầy 1 tuổi, người cha của Sinha đến thăm gia đ́nh Ida Lorenz, một gia đ́nh khác ông Valentin cũng đến chơi cùng lúc ấy. Ông Valentin có vẻ thương yêu chiều chuộng Marta, nhưng ngược lại Marta cứ đeo theo cha của Sinha mặc dầu ông này thường không thích trẻ nhỏ. Marta đă vuốt râu ông và nói: "Chào Ba". Lúc đó với ông lời chào ấy không có ư nghĩa ǵ nhưng rồi 11 năm sau ông mới công nhận là Sinha tái sanh thành Marta.

Sau đây là lời của ông Ida Lorenz, người cha hiện tại của Marta kể lại do Tiến Sĩ Ian Stevenson, người điều tra vụ này chuyển dịch Người chị tên Lola của Marta đă thấy một chuyện sau:

"Lúc Marta được 2 tuổi rưỡi, một hôm sau khi giặt xong quần áo ở một con suối gần nhà Marta và Lola trở về nhà. Marta nói với chị: "Lola cơng em đi" Lola (cũng như tất cả trẻ con hàng xóm của chúng tôi) không biết ǵ về lời hứa sẽ tái sanh của Sinha nên trả lời: "Em đi được đâu cần chị cơng". Marta nói: "Dạo trước lúc em lớn và chị nhỏ em thường cơng chị đó". Lola vừa cười vừa vặn lại: "Em lớn lúc nào?" Marta trả lời: "Lúc em không ở đây, mà ở xa chỗ này, nơi có nhiều ḅ đực, ḅ sửa, có nhiều cây cam, và có nhiều con vật như dê, nhưng không phải các con dở này (nó muốn nói các con cừu mà nó chưa bao giờ thấy ). Câu này mô tả cái nông trại của cha mẹ Sinha.

Rồi vừa đi vừa chuyện tṛ Marta và Lola về tới nhà. Lola kể cho chúng tôi những ư tưởng lạ lùng của Marta và tôi nói với Marta: "Này con gái nhỏ của Ba, Ba chưa bao giờ ở đấy sao con lại nói con ở đấy?" Marta trả lời: "Đúng vậy, lúc đó con có cha mẹ khác".

Một người chị khác của Marta trêu em:

"Thế em cũng có một người đầy tớ da đen như bây giờ phải không?" (muốn nói đến đứa con gái da đen mồ côi mà chúng tôi đang nuôi). Marta trả lời ngay: "Không, lúc đó người đầy tớ da đen của chúng tôi đă lớn và biết cả nấu ăn, chúng tôi cũng có một em da đen nhỏ, và một hôm em nhỏ này quên không múc nước về nên bị cha tôi đánh".
Reply With Quote
  #9 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:44 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
Nghe vậy tôi liền nói: "Cha chưa bao giờ đánh một em nhỏ da đen nào cả con gái bộ nhỏ ạ" Marta nói: "Nhưng đó là người cha kia của con mà; bị đánh em nhỏ kêu khóc và cầu cứu con: Sinhazinha hăy cứu tôi! và con đă xin cha đừng đánh nó nữa và thằng nhỏ chạy ngay đi múc nước về".

Tôi hỏi: "Vậy ai là Sinha hay Sinhazinha? ". Marta trả lời: "Chính là con đấy, con c̣n có tên là Maria và một cái tên nữa mà con không nhớ".

Tên đầy đủ của Sinha la Maria Januaria De Oliveiro.

Để thử xem Marta nói có đúng không, Ida cũng hỏi một câu: "Mẹ thường đến nông trại thăm Sinha, vậy Sinha thường làm ǵ để đón tiếp mẹ?" Marta nói nó thường pha sẵn cà phê, vừa đứng chờ trước nhà vừa nghe máy hát để trên thềm đá.

Sau khi phỏng vấn người em gái của Sinha, Tiến Sĩ Ian Stevenson được biết quả đúng như vậy. Sinha thường làm thế để tiếp đón người bạn quư của ḿnh tức người mẹ hiện tại.

Ida hỏi Marta là Sinha đă nói thế nào khi Ida đến thăm Sinha lần cuối cùng trước khi Sinha chết. Marta đă diễn tả: "Nàng thều thào bên tai Ida, chỉ vào cuống họng ḿnh rằng nàng không thể nói được v́ đau cuống họng". Cảnh này chỉ một ḿnh Ida biết mà thôi.

Liên tiếp mấy năm sau, Marta kê khai 120 bản về đời sống của Sinha và về những người mà Sinha quen biết. Người cha hiện nay của nàng c̣n giữ tất cả những tài liệu này. Có nhiều điều ông ta, vợ ông ta và ngay cả đến những đứa trẻ khác trong gia đ́nh hoàn toàn không biết nhưng sau khi phối kiểm th́ thấy đều rất trung thực.

Bấy giờ Marta thường nhắc đến căn nhà của Sinha và mong ước được về thăm nhưng măi đến năm 12 tuổi vào cái tuổi mà Marta ít nhắc đến tiền kiếp của ḿnh th́ Marta mới được măn nguyện. Vừa đặt chân tới nhà có Marta đă nhận ra cái đồng hồ treo tường và nói là của ḿnh. Nàng c̣n nói đằng sau cái đồng hồ có in tên nàng bằng chữ vàng. Người cha ở tiền kiếp nghe vậy bèn lấy cái đồng hồ xuống, quả nhiên đằng sau có in ḍng chữ vàng: "Maria Januaria De Oliveiro". Cái đồng hồ do Sinha mua và tự ḿnh lên dây. Đó là đồ vật duy nhất mà Marta nhận được tại nông trại.

Sau chuyến viếng thăm của Marta, một người bà con của Sinha nghe nói Sinha tái sanh, đă không báo trước mà t́m đến nhà ông bà Lorenz và hỏi Marta như sau: "Nếu quả cô là Sinha, xin cho tôi biết quan hệ giữa chúng ta như thế nào?" Không chút ngặp ngừng Marta đă trả lời đúng: "Bà là chị họ và cũng là mẹ đỡ đầu". Người đàn bà này hoàn toàn chưa bao giờ biết làng Dom Feliciano, nơi mà gia đ́nh và Marta đang sống.

Một chuyện khác xảy ra khi Marta 19 tuổi và được một nông trại mời đến kèm trẻ. Gia đ́nh này theo đạo Cơ Đốc Giáo gốc nên không bao giờ Marta đề cập đến luân hồi. Một phụ nữ già da đen cũng làm tại nơi đây thấy Marta đă nói với mọi người: "Cô gái này giống hệt như Sinha ". Hóa ra người đàn bà da đen chính là người đầy tớ trước đây của nông trại Oliveiro mà lúc lên 2 tuổi rưỡi Marta đă có lần nhắc tới.

Sinha t́m cái chết bằng cách tự hủy hoại thân thể ḿnh với bệnh lao phổi và thanh quản - nay hai bệnh nghiệp chướng trên đă trở lại với nàng - Marta rất dễ bị cảm lạnh và sưng phổi trong khi những đứa con khác của gia đ́nh Lorenz không một ai bị bệnh này cả. Tiến Sĩ Ian Stevenson đă b́nh luận: "Bệnh đau về hệ thống hô hấp và yết hầu của Marta hiện nay đúng là bệnh t́nh trước đây của Sinha. Tôi tin rằng trong hiện tại Marta hay mắc chứng bệnh này là v́ có sự liên quan đến tiền kiếp và cái chết của Sinha".

Hậu quả thứ hai là hoàn cảnh trái ngang có thể đưa nàng đến ư định tự hủy hoại thân ḿnh. Marta có xác nhận với Tiến Sĩ Ian Stevenson, mặc dù chưa bao giờ có ư định tự tử cả, xong có thể làm việc ấy nếu có sẵn một khẩu súng.

Trên b́nh diện xác thực và khích lệ, nàng đă vượt đến sự tốt đẹp của bản thân tiền kiếp. Nàng đă được nhiều người đặc biệt nhớ đến nàng v́ t́nh thương yêu và ḷng nhân ái đă được thể hiện trong cuộc sống hiện tại của nàng. Với kinh nghiệm tái sanh nàng đă t́m được cách hữu hiệu để làm giảm bớt sự đau khổ và ưu sầu của những người chung quanh.

Tiến Sĩ Ian Stevenson đă viết trong báo cáo:

"Một ngày nọ một thiếu phụ đến thăm gia đ́nh Lorenz và ta thán về cái chết của người cha. Thiếu phụ này nói: "Ồ các bạn thân mến, người chết rồi không bao giờ trở lại được". Nghe vậy Marta đă lên tiếng: "Xin bà đừng nói thế, tôi cũng đă chết và bà có thấy không tôi đang sống lại đấy".

Một bửa khác trong cơn mưa băo, một người chị của Marta đă lo lắng cho người em Emilia mới chết có thể bị ướt dưới mộ sâu. Marta đă nói: "Chị đừng nói vậy, Emilia đâu c̣n ở nghĩa địa, Emilia đă ở một nơi an toàn tốt đẹp hơn nơi của chúng ta hiện nay, linh hồn không bao giờ bị ướt cả".

-ooOoo-

-12-

SHAMLINIE PREMA

Tác Giả: Ian Stevenson

Shamlinie Prema sanh ngày 16 Tháng 10 năm 1962 tại Sri Lanka Colombo. Cha mẹ của Shamlinie sống ở Gonagela, cách Colombo 60 cây số về phía nam và lớn lên tại đó.

Cha mẹ của Shamlinie nhận thấy ngay từ khi biết nói, Shamlinie đă rất sợ nước, thường dẫy dụa khóc thét lên mỗi khi có ai muốn đem em nhúng xuống nước. Em cũng sợ cả xe buưt và thường khóc lóc mỗi khi cha mẹ đem lên xe buưt hay nh́n thấy xe buưt từ đằng xa. Sự việc này làm cho cha mẹ em bối rối, ông bà cho rằng những biến cố ở kiếp trước đă ảnh hưởng tới đời sống hiện tại của em.

Đến khi biết nói em đă liên tiếp kể chuyện tiền kiếp của em cho cha mẹ cũng như những người thân thuộc. Em cho biết ở tiền kiếp em sống tại làng Galtudawa cách xa Gonagela 2 cây số. Em nói rằng cha mẹ tiền kiếp của em c̣n đang sống tại Galtudawa và em thường nhắc đến bà mẹ Galtudawa. Em cũng nói tới mấy người chị và hai người bạn học cùng trường. Em tả căn nhà ở tiền kiếp mà em đă sống, địa thế cũng như đặc điểm khác hẳn cái nhà mà em đang sống. Em kể nguyên do cái chết của em xảy ra như thế nào. Một buổi sáng để điểm tâm trước giờ đi học em đi mua bánh ḿ trên con đường bị ngặp nước. Một chiếc xe buưt chạy ngang làm bắn tung nước và em bị hất xuống ruộng. Em chỉ c̣n biết dở tay vẫy gọi "Mẹ" và sau đó em cảm thấy như ngủ thiếp đi.

Ở Galtudawa có một cô gái tên là Hemaseelie Guneratne bị chết đuối ngày 8 tháng 5 năm 1961 trong hoàn cảnh tương tự. Hemaseelie đă lùi một bước để tránh xe buưt và cô bị rơi xuống ruộng lúa ngặp nước. Hemaseeli là một học sinh 11 tuổi. Cha mẹ Shamlinie không hề quen biết gia đ́nh Hemaseelie và cũng chưa gặp Hemaseelie lần nào cả. Tuy nhiên cha mẹ Shamlinie có được nghe chuyện cô học sinh chết đuối, cũng cảm thấy buồn nhưng sau đó rồi ông bà cũng quên bẵng đi.

Lần đầu tiên nghe em kể câu chuyện bị chết đuối cha mẹ em không nghĩ rằng em có liên quan đến cô bộ Hemaseelie bị chết đuối cả. Khi Shamlinie lên 3 tuổi em nhận ra một người anh em họ của Hemaseelie khi người này đang đi trên đường phố ở Gonagela. Hơn một năm sau, Shamlinie lại nhận ra người chị của Hemaseelie cũng tại Gonagela. Đồng thời Shamlinie đ̣i đi Galtudawa để thăm "Mẹ Galtudawa" và em cho rằng người mẹ hiện tại không sánh bằng "Mẹ Galtudawa" ở tiền kiếp.

Cuối cùng cha mẹ của em đă đưa em đến nhà Hemaseelie Gueratne ở Galtudawa. Nhiều người tụ tập nơi đây v́ họ nghe nói có một cô gái tái sanh trở về thăm làng có. Sự hiện diện của những người lạ mặt khiến Shamlinie thấy thiếu thoải mái. Tuy nhiên Shamlinie cũng nhận ra "bà mẹ của Hemaseelie tên là W.L. Podi Nona" trong khi đó gia đ́nh Guneratnes vẫn c̣n hoài nghi. Cuộc viếng thăm rất ích lợi v́ đă xác minh được những việc mà Shamlinie đă từng tuyên bố. Hầu hết những chuyện Shamlinie kể về tiền kiếp đều trùng hợp với đời sống của Hemaseelie tại Galtudawa. Thêm vào đó, hai gia đ́nh trong khi trao đổi tin tức đều nhận thấy Hemaseelie và Shamlinie đều có nhiều điểm giống nhau về cách thức ăn mặc cũng như sở thích ăn uống.

Tôi (Ian Stevenson) bắt đầu điều tra vụ này và năm 1966, vài tuần lễ sau khi Shamlinie viếng thăm Galtudawa lần đầu tiên. Tôi đă phỏng vấn một số người c̣n nhớ rơ những điều Shamlinie đă kể và đă làm, về cả cuộc đời tiền kiếp của Hemaseelie. Mấy năm sau tôi có đến thăm cả hai gia đ́nh để có thể kiểm chứng và cũng để xem sự tiến triển của Shamlinie ra sao. Ngoại trừ một vài điều cách biệt nho nhỏ, c̣n tất cả những tin tức mà tôi thâu lượm được đều rất xác thực và các nguồn tin mới này vẫn rất phù hợp với những điều mà họ nói trước kia.

Sau lần viếng thăm đầu tiên Galtudawa, Shamlinie trở lại thêm vài lần nữa thăm gia đ́nh Guneratnes và sau đó các chuyến viếng thăm thưa dần ngày càng ít đi và Shamlinie càng lớn lên th́ những kư ức về tiền kiếp của em mờ dần đi. Đến năm 7 tuổi th́ Shamlinie không c̣n kể về tiền kiếp của em nữa. Khi lên 11 tuổi vào năm 1973, Shamlinie đă hoàn toàn quên hẳn kư ức về tiền kiếp ngay cả đến những việc trước đây em thường nhắc đến. Em cũng không c̣n sợ nước như hồi 4 tuổi nữa và khi em lên 8 tuổi th́ em cũng không c̣n sợ hăi khi trông thấy xe buưt tuy nhiên vẫn c̣n một chút sợ sệt.

Năm 1973 tôi có trở lại thăm Shamlinie và thấy em đă trở thành một cô gái Sinhalese b́nh thường.

Trường hợp luân hồi của Shamlinie rất trung thực. Hai gia đ́nh ở cách xa nhau 2 cây số và cũng không là thân thuộc mà Shamlinie lại hiểu biết đời sống của Hemaseelie với nhiều chi tiết rơ ràng.

Theo sự xét đoán của tôi (Ian Stevenson) sự liên hệ của hai gia đ́nh không có, nên không thể nào giải thích nổi tại sao Shamlinie lại có thể hiểu biết tường tận đời sống cũng như cá tính khác thường của Hemaseelie. Phải chăng Hemaseelie đă tái sanh thành Shamlinie?
Reply With Quote
  #10 (permalink)  
Old 09-04-2007, 06:45 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
-13-

SULEYMAN ANDARY

Tác Giả: Ian Stevenson

Suleyman sanh ngày 4 Tháng 3 Năm 1954 tại Falougha, Lebanon. Gia đ́nh Suleyman thuộc ḍng Druses, một tôn giáo bắt nguồn từ Islam (Hồi Giáo). Tuy nhiên tôn giáo này đă tách ra khỏi khối Hồi Giáo chính thống và những người theo đạo Druses cũng coi như không c̣n lệ thuộc vào khối Hồi Giáo. Luân Hồi là một giáo lư căn bản của Đạo Druses.

Khi c̣n thơ ấu Suleyman nhớ vài chi tiết về tiền kiếp của anh. Đôi khi qua các giấc mộng, anh kể là anh đă có con ở tiền kiếp và c̣n nhớ cả tên của chúng nữa. Anh nhớ anh sống tại Gharife và là chủ của một hăng ép dầu.

Không giống đa số các trường hợp luân hồi khi c̣n nhỏ tuổi nhớ kiếp trước nhiều hơn, càng lớn tuổi anh càng nhớ lại nhiều về tiền kiếp. Trong lúc ở với bà nội khi anh 11 tuổi, anh cảm thấy anh có nhiều kư ức về tiền kiếp. Một hôm bà ngoại anh đến nhà mượn một cuốn kinh về đạo Druses. Suleyman đă từ chối không cho mượn c̣n lỗ măng bắt lỗi bà ngoại không có cuốn kinh trong nhà. Bà nội anh bất măn về thái độ cư xử của anh và yêu cầu anh giải thích. Bất ngờ anh nhớ lại ở tiền kiếp anh có rất nhiều kinh sách về Đạo Druses và không bao giờ anh cho ai đem những cuốn kinh này ra khỏi nhà. Người Druses rất quư trọng các cuốn kinh và thường giữ ǵn cẩn thận. Hành động của Suleyman nếu là một thiếu niên th́ quả là vô lễ, nhưng với một người đă trưởng thành như Suleyman th́ lại là một việc b́nh thường.

Sau câu chuyện trên, Suleyman đă kể nhiều các chi tiết về đời sống tiền kiếp của anh. Anh nhớ anh là một tù trưởng ở Gharife và có tên là Abdallah Abu Hamdan. Anh c̣n kể thêm nhiều chi tiết cuộc đời của Hamdan. Lúc bấy giờ Suleyman rất sợ bị chế nhạo khi nhận là tù trưởng ở tiền kiếp. Anh nghĩ là gia đ́nh và bạn bè sẽ cho anh là ngạo mạn và sẽ châm biếm anh. Cho nên anh đă dấu kín trong ḷng. Hai năm sau anh mới kể lại cho một số bạn bè trước cho một số người ít tuổi và về sau cho một số người lớn.

Vài người thân đứng tuổi của gia đ́nh Suleyman đề nghị đem Suleyman đi Gharife để phối kiểm các tin tức nói về tiền kiếp của Syleyman. Gharife cách xa Falougha chừng 30 cây số, thuộc một vùng khác phạm vi Lebanon. Muốn đi Falougha đến Gharife phải có lư do xác đáng. Gia đ́nh của Suleyman không quen ai ở Gharife cả và cũng không có một liên hệ nào với Gharife cả. Có một người trong gia đ́nh Suleyman làm việc tại Gharife trong một thời gian ngắn nhưng cũng không biết những lời kể của Suleyman đúng hay sai. Sau đó chính người này đến Gharife điều tra đă xác nhận những điều Suleyman kể lại đều rất đúng. Cùng lúc ấy có vài người khác công nhận tính cách trung thực của các sự việc trên.

Giống như trường hợp của Á Đông, câu chuyện của Suleyman được nhiều người biết đến. Một người anh em họ của Suleyman đă gặp vài người Gharife ở Saudi Arabia và được biết những lời kể của Suleyman rất xác thực. Người tên là Abdallah Abu Hamdan mà Suleyman nhận là tiền kiếp của ḿnh là chủ nhân một hăng dầu ép và làm tù trưởng nhiều năm trước khi chết v́ bệnh tim năm 1942 lúc 65 tuổi. Những người Gharife đă mời Suleyman đến thăm Gharife. Lúc đầu anh từ chối nhưng đến năm 1967 anh đă đi Gharife 2 lần, vào mùa hạ và mùa thu. Khi tới Gharife anh cảm thấy thẹn thùng và bỡ ngỡ. Người vợ góa của Abdallah Abu Hamdan và 2 người con c̣n sống tại Gharife nhưng anh không nhận ra họ và cũng không nhận được những người thân quyến. Anh nhận được 3 người khác và vài nơi tại Gharife. Có lẽ điều quan trọng nhất là anh đă chỉ một con đường có từ năm 1967 không c̣n sử dụng, con đường trước kia dẫn đến nhà Abdallah Abu Hamdan. Tuy nhiên tầm quan trọng của trường hợp Suleyman không nằm trong sự xác nhận của anh mà là những cá tính riêng biệt của anh phát sanh từ tiền kiếp. Trước khi Gharife, cũng như trong cuộc viếng thăm lần đầu, Suleyman đă 17 lần nói về tiền kiếp của anh. Những lời anh kể gồm có tên các con anh và các chi tiết khác về đời sống của anh. Những lời phát biểu của anh đều đúng ngoại trừ hai trường hợp: 1) Salim là em chứ không phải con anh, 2) Salim không bị mù mà Naseeb con anh mới bị mù.

Tôi (Ian Stevenson) bắt đầu điều tra vụ này vào tháng 3 năm 1968 và tiếp tục cho đến năm 1972. Tôi đă phỏng vấn nhiều người tại Falougha và Gharife. Sau này Suleyman di cư sang Saudi Arabia và từ năm 1972 tôi không c̣n gặp Suleyman nữa. Khi Suleyman c̣n nhỏ tuổi anh đă tỏ ra phong thái một người lớn. Anh thích giao du với người lớn hơn là người đồng lứa tuổi và ngay cả giữa đám người lớn anh cũng chọn chỗ ngồi dành riêng cho những vị có đặc quyền. Anh không thích bị ai la rầy và khi ấy anh thường nói: "Đừng mắng tôi, tôi là người lớn mà". Suleyman thường sợ bị người khác chế nhạo nếu họ biết anh nhận là ông tù trưởng ở tiền kiếp. Gia đ́nh và bạn bè thường chế anh là "Ông Tù Trưởng". Điều này cũng không làm anh buồn mấy v́ một số người trong gia đ́nh đă tin anh và thân yêu gọi anh bằng cái tên này. Dĩ nhiên họ chỉ tin anh sau khi anh đă xác thực được những điều anh kể về tiền kiếp của Abdallah Abu Hamdan. Trong gia đ́nh Suleyman cũng tỏ ra là người mộ đạo hơn những người khác giống hệt như Abdallah Abu Hamdan. Trước khi chết, Hamdan đă trở thành tộc trưởng, một chức vị cao cấp mà nhiều người mơ ước.

Tôi thấy Suleyman không muốn đến thăm Gharife nên anh đă từ chối lần đầu. Gia đ́nh của Suleyman hiểu rơ hơn cho rằng anh không thích đi Gharife v́ anh không muốn nh́n lại những thảm kịch trong đời sống của Hamdan. Các con của Hamdan không mấy nên người, có nhiều thói hư tật xấu, một người th́ di dân sang Hoa Kỳ, một người th́ ăn ở với Hamdan không hiếu thuận. Trong những ngày cuối cùng Hamdan gặp khó khăn. V́ muốn giúp đỡ một người bạn Hamdan đă ngụy tạo một tài liệu khiến chính phủ khám phá ra được và Hamdan bị cất chức. Cuối cùng Hamdan đă đầu tư vào việc ép dầu nhưng t́nh trạng tài chánh eo hẹp nên việc buôn bán không kết quả. Việc đầu tư thất bại làm Hamdan buồn phiền, nhuốm bệnh rồi qua đời. Hamdan chết năm 1942, 12 năm trước khi Suleyman sanh ra đời. Được hỏi về thời gian 12 năm chưa luân hồi th́ Suleyman ở đâu, Suleyman trả lời không nhớ ǵ cả.

Với kư ức của Suleyman về tiền kiếp là Abdallah Abu Hamdan, tôi (Ian Stevenson) không nghĩ rằng những tin tức do Suleyman thâu lượm được bằng cách thông thường v́ hai làng cách xa nhau đến 30 cây số và hai gia đ́nh cũng không có liên lạc ǵ với nhau cả.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 05:52 PM.

A vBSkinworks Design