Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tm Linh, Huyền B > Tủ sch Huyền B, Tm Linh

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 06-07-2009, 04:43 PM
DjDoan's Avatar
DjDoan DjDoan is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 175
Đạo đức học hậu hiện đại một giải php Phật gio

Xuất bản lần đầu vo năm 1993, Đạo đức học hậu hiện đại (Postmodern Ethics)(1) của Zygmunt Bauman đ cố gắng thực hiện một ph bnh đầy tham vọng về triết l đạo đức u chu từ thời Khai sng.

Cuốn sch cố ni ln điều m Bauman xem như l những khuyết điểm cốt yếu của triết học đạo đức thời kỳ hiện đại (tức hậu Khai sng), v nhằm giải quyết những khuyết điểm ny m Bauman duy tr khi niệm “đạo đức hậu hiện đại”. Với những ai muốn hiểu su hơn về cc vấn đề đạo đức, cuốn sch cung cấp một số những kiến thức hữu ch. V dụ, đề ti chủ đạo xuyn suốt tc phẩm nhấn mạnh vo đạo đức m n được quan niệm như l sống c trch nhiệm đối với người khc, tương phản với khi niệm đạo đức l phục tng theo những luật tắc đạo đức. Trong khi thực hiện một sự phn biệt như vậy, Bauman giải thch r rng rằng trch nhiệm đạo đức của chng ta l v tận v khng thể bị biến thnh việc thực thi một tập hợp cc luật lệ c giới hạn. Một luận đề chnh khc l thừa nhận rằng, đạo đức chung cng khng thể “chứng minh” hay được đặt cơ sở nơi luận cứ hợp l, m rằng đạo đức chỉ c thể được đặt cơ sở nơi điều m cuối cng đi trước bất kỳ nỗ lực tranh luận no, điều m Bauman đặt tn l “sự thc đẩy đạo đức”.

ImageTrong bi ny, bằng sự đồng cảm, ti sẽ cố gắng phc thảo những yếu tố trọng yếu nơi quan điểm Bauman, v kế đến sẽ ni thm v bổ sung “đạo đức học hậu hiện đại” của ng bằng việc lin hệ đến cch l giải của Phật gio về đạo đức học. V dụ, mặc d ni chung đồng với Bauman về ph bnh của ng đối với những luật lệ trong đạo đức học, ti sẽ biện luận rằng cần phải c một sự phn biệt r rng giữa cc luật lệ v những nguyn tắc đạo đức. Những nguyn tắc đạo đức khc những luật lệ bởi v, mặc d chng l những chỉ dẫn hạnh kiểm đạo đức của chng ta, những nguyn tắc được kết thc mở, yu cầu của chng l v tận v khng c cch g giới hạn sự thc đẩy đạo đức tự nhin của chng ta. Dựa vo truyền thống đạo đức học Phật gio, ti sẽ biện luận rằng chng ta c thể hướng đến những trạng thi tm thức cơ bản của chng ta v những khuynh hướng thc đẩy trong việc đnh gi đạo đức của bất cứ hnh vi no. Lại dựa vo truyền thống Phật gio, ti sẽ biện luận rằng sự xuất hiện điều m Bauman đặt tn l “sự thc đẩy đạo đức” khng thể tch ra khỏi ci nhn hay hiểu biết đầy đủ về tnh trạng hiện hữu của con người. Đạo đức hẳn khng thể “chứng minh”; tuy nhin n c thể cuốn ht những nhu cầu su sắc nhất của chng ta, nảy sinh từ tnh trạng hiện hữu tất yếu của chng ta.

Bởi v thuật ngữ “hậu hiện đại” thường bị đnh đồng với thuyết tương đối vậy nn cần giải thch r từ đầu rằng quan điểm hậu hiện đại do Bauman phc thảo khng loại bỏ quan niệm một cơ sở phổ qut đối với đạo đức học. Bauman trnh by điều ny r rng, nơi phần giới thiệu của mnh về Đạo đức học hậu hiện đại, rằng khi ng tuyn bố “Đạo đức khng thể phổ qut ha”(2) th khng phải ng đang pht biểu quan điểm được hiểu chung rằng đạo đức l một hiện tượng tương đối khng c cơ sở phổ qut. ng giảng giải: “Lời tuyn bố ny khng nhất thiết xc nhận tnh tương đối của đạo đức, được trnh by bằng lời xc nhận được cất ln thường xuyn v c phần giống nhau, rằng bất cứ hệ thống đạo đức no đi nữa cũng chỉ l một phong tục địa phương (v tạm thời), rằng những g được cho l đạo đức tại một khng gian v thời gian ny th chắc hẳn khng được thừa nhận ở khng gian v thời gian khc, v như vậy tất cả mọi loại phẩm hạnh đạo đức được thực hnh th giới hạn trong thời v khng gian, bị tc động bởi tnh thay đổi của lịch sử địa phương hay bộ tộc v những sng kiến văn ha; sự xc nhận đ lun lun lin quan đến một mệnh lệnh chống lại tất cả những so snh giữa cc hệ thống đạo đức, v trn hết chống lại tất cả sự khảo st ngoại trừ duy nhất l những nguồn đạo đức mang tnh ngẫu nhin. Ti sẽ cng khai biện luận chống lại quan điểm tương đối luận v quan điểm đạo đức chung cục hư v ny”(3). Bauma xc nhận rằng “Đạo đức khng thể phổ qut ha” l phần no muốn tuyn bố chống lại “… việc dng những luật lệ đạo đức dị trị, p buộc từ bn ngoi, thay thế cho trch nhiệm bản chất đạo đức tự trị”(4).

Ni cch khc, Bauman khng mong loại bỏ một cơ sở phổ qut dnh cho đạo đức, điều m ng xem l chung cục c mặt nơi “sự thc đẩy đạo đức” của chủ thể tự trị. Thay v vậy, đy l quan điểm m sự thc đẩy đạo đức ny c thể được trnh by sc tch ở trong (hay thậm ch được thay thế bằng) một tập hợp những luật lệ hợp l p dụng cho tất cả những tnh huống m Bauman loại bỏ.

Nhiệm vụ chnh của Đạo đức học hậu hiện đại do đ, khng phải để loại bỏ cơ sở phổ qut dnh cho đạo đức, m để đưa ra một sự ph bnh chi tiết về những g Bauman m tả như l triết học đạo đức “hiện đại” v những g Alasdair MacIntyre, trong After Virtue (5), gọi l “Cng trnh chứng minh ly thuyết Đạo đức thời kỳ khai sng”(6). Với cả Bauman v MacIntyre, quan điểm “hiện đại” về đạo đức học l cơ bản sai lầm trong nhiều chủ thuyết trọng tm của n.

Vậy triết học đạo đức “hiện đại” l g? Bauman v MacIntyre biện luận rằng viễn cảnh hiện đại trong đạo đức học về bản chất đ l một sự tm kiếm biện minh v điều chắc chắc nơi nền tảng đạo đức học. Mục đch ẩn tng hay đi khi lộ r của việc tm kiếm l khm ph một tập hợp những luật lệ đạo đức c gi trị phổ qut m chng c thể p dụng cho bất kỳ tnh huống x hội no với độ chnh xc khoa học. Theo Bauma, sự cố kết v trật tự x hội đem lại lẽ sống cơ bản cho cng trnh ny, m n đ đp ứng những mục đch x hội v chnh trị cũng như tầm mức m n c thể đp ứng cho những mục đch triết học(7).
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 06-07-2009, 04:45 PM
DjDoan's Avatar
DjDoan DjDoan is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 175
MacIntyre cho rằng khng phải ngẫu nhin m đạo đức học hiện đại đ khai sinh vo khi Cơ-đốc gio thời kỳ trung cổ bắt đầu sự suy thai của n(8). Theo cch nhn ny, quan điểm thế giới hiện đại xuất hiện nơi khoảng trống bị bỏ lại khi thuyết hữu thần Cơ-đốc gio đnh mất đi tnh ưu thế của mnh, cho rằng nhu cầu trật tự v sự chắc chắn bắt nguồn su xa nơi tinh thần Ty phương. Nhưng với sự xi mn dần dần vị thế của Thượng đế v Thnh kinh như l những gi trị c thẩm quyền tối hậu về sự thật đạo đức, ngay đ đ bắt đầu một cuộc tm kiếm một cch hiểu mới về đạo đức. Nơi giải thch về lịch sử tư tưởng phần no ni chung được thừa nhận của MacIntyre v Bauman, những triết gia hiện đại, từ Diderot đến Hume v Kant, kết thc ở Kierkegaard, mặc d những quan điểm v triết học khc biệt của họ, tất cả chia sẻ mối quan tm chung l duy tr một hệ thống đạo đức Cơ-đốc khng trng cậy vo mục đch luận của Aristore v thần học Cơ-đốc gio truyền thống(9).

Do vậy Bauman v MacIntyre đề xuất rằng quan điểm hiện đại về đạo đức c thể được hiểu khng chỉ l một giải php đối với những vấn đề triết học, m cũng l nhu cầu về một cơ sở mới cho sự cố kết x hội, theo sau sự suy tn của Cơ-đốc gio trung cổ v sự xuất hiện những g MacIntyre gọi l “c nhn tự trị”, bằng chứng ở nơi sự sinh khởi tầng lớp thương gia, khoa học v nghệ sĩ mới. Theo cch nhn ny, kỷ nguyn hiện đại c thể được m tả như l một thời kỳ m ở đ những tn hữu Cơ-đốc gio khng cn c thể biến tn gio của họ thnh chn l, hoặc thnh khoa học tự nhin hay những vấn đề đạo đức. Chủ nghĩa hiện đại như vậy được xem như l một giải php cho cả khủng hoảng triết học v x hội.

ImageTheo giải thch về thời kỳ hậu khai sng ny, mục đch chnh của đạo đức khng cn để ủng hộ con người trong việc tm kiếm một telos siu việt (tức l, tm kiếm của con người về một trạng thi sống cao hơn - theo MacIntyre, điều ny đ l truyền thống chủ đạo từ thời Aristotle v xuyn suốt thời kỳ Cơ-đốc Trung cổ), m khc hơn l mục đch ngăn cản con người hnh động theo những khuynh hướng phi đạo đức. Một cch đặc trưng, quan tm của Kant l để đảm bảo rằng tiếng ni của bổn phận được lắng nghe, d khi những khuynh hướng của con người c thể l hnh động tri đạo đức(10). Kant thậm ch đi xa đến mức thừa nhận rằng đy l bản chất của đạo đức, thay v tm lấy một tnh trạng m nơi đ những khuynh hướng của con người đ l đạo đức. Như vậy, khi niệm của Kant về bổn phận hm rằng hnh động hợp đạo đức phải c nghĩa một cch su kn l mong muốn rằng người ta c thể hnh động khc đi - điều ny thật sự tri ngược với những g Bauman gọi l “thc đẩy đạo đức”, m n được m tả bằng một cảm thức m người ta khng thể hnh động trong bất kỳ cch thức no khc. Như MacIntyre giải thch bằng việc so snh khi niệm đức hạnh của Aristote với khi niệm bổn phận của Kant, “Những đức hạnh l những khuynh hướng khng chỉ hnh động theo những cch thức cụ thể, m cn cảm nhận trong những phương thức cụ thể. Để hnh động theo đức hạnh khng phải, như Kant về sau đ nghĩ, l để hnh động chống lại khuynh hướng; chnh hnh động theo khuynh hướng được hnh thnh bằng việc tu dưỡng cc đức hạnh. Gio dục đạo đức l một “tnh cảm gio dục”(11).

Bauman xa hơn biện luận rằng mọi tnh tạm bợ của khi niệm đạo đức phủ định ny, được minh họa bởi Kant, chnh n dẫn đến việc Nh nước đảm nhận vai tr nh gio dục v thi hnh đạo đức. Nh nước trở thnh trụ cột của hệ thống đạo đức v lẽ phải, thng qua quy trnh php l v ta n. N cũng cho php biện minh những tham vọng quyền uy của n như l hữu thể mang lấy một tập hợp những tiu chuẩn đạo đức gi trị phổ qut. Một phần trọng yếu của luận điểm Bauman nơi Đạo đức học hậu hiện đại l tho bỏ việc sử dụng quyền lực Nh nước ny như l quyền lợi của một vi tầng lớp v cc nhm bn trong x hội.

Đối với Bauman, “chủ nghĩa hậu hiện đại” l biểu trưng một sự chấp nhận mới về những g thế giới “hiện đại” đ tm cch thot ra. Do vậy Bauman đề cao kiến, rằng đạo đức l phi l, rằng tc nhn đạo đức khng thể bị kiểm sot hay bị buộc p vo trong đời sống đạo đức, v rằng đạo đức vẫn cn b ẩn, khng thể giải thch v khng thể biến thnh những luật tắc phổ qut. Bauman chỉ ra rằng “hậu hiện đại” khng c nghĩa l “sau” ở trong nghĩa trnh tự thời gian. “Chủ nghĩa hậu hiện đại” khng xảy ra sau chủ nghĩa hiện đại, m l một sự phản ứng lại n, một sự phủ định hay l một sự “hoi nghi” về quan điểm hiện đại. Ở nhiều mặt, chng ta vẫn cn sống trong một x hội “hiện đại”, khng phải trong một x hội “hậu hiện đại”.

Ủng hộ của Bauman về quan điểm hậu hiện đại được thể hiện bằng điều m ng xem như l những thất bại tất yếu của chủ nghĩa hiện đại. ng biện luận rằng, tri ngược với quy định hiện đại, hiện tượng đạo đức cuối cng l phi l v khng thể kết luận một cch rnh mạch bằng những luật tắc đạo đức gi trị phổ qut: “Đạo đức l đặc hữu v tất yếu phi l - trong nghĩa l khng thể tnh đếm được, do đ khng thể trnh by như l việc phục tng theo những luật lệ v cảm, khng thể m tả như l việc tun theo những luật lệ m chng ni chung c thể phổ qut ha (12).

L do phản đối chnh của Bauman về một thứ đạo đức học được đặt cơ sở trn cc loại luật lệ l bởi ng hiểu rằng cc luật lệ dẫn đến một sự giới hạn trch nhiệm đạo đức, “Cc luật lệ sẽ bảo ti những g phải lm v lm khi no; cc luật lệ bảo ti bổn phận của ti bắt đầu ở đu v khi no kết thc; cc luật lệ sẽ cho php ti ni, tại một vi thời điểm, rằng ti c thể dừng lại mỗi khi mọi thứ phải được thực hiện đ được thực hiện” (13).

Quan trọng cho biện minh của ti trong việc ủng hộ một khun khổ đạo đức học Phật gio l lưu đến nguyn tắc phản đối của Bauman về những luật lệ đạo đức: ng xem chng giới hạn su sắc sự thc đẩy đạo đức v do đ mang lấy sự đối nghịch về điều m chng đặt ra để đạt lấy, khiến chng ta t đạo đức hơn thay v nhiều hơn. Sau đ ti sẽ phn tch loại đạo đức học dựa trn luật lệ ny như l một hệ thống đạo đức học “khp kn”, đối nghịch với đạo đức học “mở”, loại đạo đức khng cưỡng p, đưa ra v hướng dẫn sự thc đẩy đạo đức của chng ta. Ti sẽ biện luận rằng những nguyn tắc đạo đức được phc thảo trong truyền thống Phật gio đ được kết thc mở v do đ vượt ra ngoi sự ph bnh của Bauman. Đạo đức khng phải l một vấn đề phục tng theo cc luật lệ, nhưng điều ny khng c nghĩa rằng sự thc đẩy đạo đức khng cần đến sự rn luyện v huấn luyện.

Nhưng chng ta c thể nhận thấy sức mạnh biện luận của Bauman chống lại một nền đạo đức học dựa trn luật lệ - ở mức độ rằng một hệ thống đạo đức l thi hnh một tập hợp những luật lệ c giới hạn m n c thể được thực thi một cch thnh cng v rốt ro - ở mức độ đ n hnh động như một sự cưỡng p đối với sự thc đẩy đạo đức của chng ta. Trong khi một tập hợp cc luật lệ c giới hạn bị buộc tun theo, th sự thc đẩy đạo đức của chng ta khng bị p buộc hay bị kiểm sot, cũng khng bị giới hạn - n được kết thc mở, thậm ch v hạn, trong phạm vi của n. Nhưng nếu đạo đức học khng phải l sự thực thi một tập hợp cc luật lệ hay bổn phận đạo đức, vậy một quan điểm đạo đức thay thế m Bauman đang đề xuất l g? Bauman muốn ni g khi ng bn về sự thc đẩy đạo đức của chng ta?(14).

Trong khi trnh by cơ sở đạo đức học của mnh, Bauman đ tiến rất gần đến triết gia Php Levinas, người trnh by quan điểm đạo đức l “sống v người khc”. Điều ny trn thực tế l một sự thảo luận tỉ mỉ tuyn bố của Kant xem người khc lun l một mục đch chứ khng bao giờ l một phương tiện (15). “Sống v người khc” c nghĩa l nhận thức người khc khng phải l một đối tượng c giới hạn được dnh ring cho những mục đch của ring ti, m l một chủ thể “v hạn”, l một “sự tự do”. Tri ngược với một tập hợp những bổn phận c giới hạn, trch nhiệm đạo đức của ti ở nơi “sống v người khc” l v hạn, khng điều kiện v khng mong người khc đối xử với ti như ti đ đối với họ. Điều ny tri ngược với bổn phận khế ước. Theo chnh pht ngn của Levinas, trch nhiệm đạo đức l: “Một trch nhiệm m n vượt qua những g ti đ c thể hoặc khng thể lm cho người khc, hoặc bất cứ hnh vi g m ti c thể hoặc khng thể phạm phải, như thể ti đ hy sinh cho người khc trước khi hy sinh cho bản thn”(16).

Bằng ngn ngữ kh thi vị của Levinas, đạo đức sinh ra l để đp ứng “diện mạo” của người khc, m n ku gọi ti theo nhu cầu của n. Người khc “ku gọi” ti hy sinh, nhưng “lệnh gọi” ny l một “lệnh gọi” của “quyền năng”, chứ khng phải l vũ lực. Đạo đức như vậy sinh ra từ một mức độ kinh nghiệm bản năng v ban sơ nhất m n c thể được đặt tn l “sự cận giao đạo đức” m ti kinh nghiệm nơi những mối quan hệ của ti với người khc

Bauman v Leninas lm tương phản triệt để hai loại quan hệ con người khc nhau. Đầu tin l “sống với người khc”, m n l một loại quan hệ được định nghĩa bằng sự đp trả, những luật lệ v bổn phận khế ước v dựa vo sự sợ hi hnh phạt hay tư lợi v kết quả cuối cng của n. (Ni cch khc, n l một loại quan hệ cuối cng được đặt trn quyền lực). Điều ny tương phản với “sống v người khc”, một loại quan hệ trch nhiệm c kết thc mở v l đp ứng nhu cầu của người khc. N khng phải l một loại quan hệ hiện hữu bị bắt buộc hay cưỡng p v khng bị biện minh bằng những từ ngữ hợp l (ni cch khc, n l một mối quan hệ được đặt cơ sở trn tnh thương trong một nghĩa khả thể su sắc nhất).

Cần ni r thm l tại sao quan điểm đạo đức của Bauman (v Levinas) l “phi l”. Bauman đang chỉ ra sự thật rằng cuối cng sự chọn lựa đạo đức dường như được thực hiện m khng c bất cứ sự cậy nhờ no vo luận cứ chặt chẽ. Đ dường như l một điểm phi l m ở đ chng ta thực hiện những cam kết đạo đức su sắc nhất của chng ta. N l sự thc đẩy đạo đức đi trước bất cứ luận cứ no sau đ m Bauman đang diễn tả. Tranh luận hợp l tất yếu phải ni đến ngn ngữ của l do v mục đch, nhưng “sống v người khc” khng cần thm bất cứ sự biện minh hay l do no. Đạo đức, được định nghĩa như l “sống v người khc”, th chnh n đ l mục đch; n khng phải l một phương tiện đi đến một mục đch, t nhất ở nơi m mục đch được hiểu bằng những thuật ngữ như tư lợi hay ha hợp x hội.

Nhưng c phải một quan điểm đạo đức như vậy tất yếu đưa đến thuyết tương đối đạo đức v “chủ nghĩa cảm xc”? MacIntyre lưu rằng những cuộc tranh luận đạo đức hiện đại bản thn chng l “v tận”, bởi v khng c cơ sở cho đạo đức được đồng trọn vẹn hay thuyết phục đầy đủ để hnh động như một cơ sở khởi đầu được chấp nhận. Do đ ng tuyn bố rằng chủ nghĩa cảm xc l triết l đạo đức đặc trưng nhất của kỷ nguyn hiện đại, với sự nhấn mạnh rằng “những tuyn bố” đạo đức về bản chất chỉ l những biểu lộ sở thch con người. Theo chủ nghĩa cảm xc, rốt cuộc tất cả những tranh luận đạo đức, cho d được diễn đạt bằng ngn ngữ hợp l, chung quy l sở thch con người, do đ phải sử dụng mọi phương tiện thiện xảo c gi trị (v khng nhất thiết chỉ l hợp l) để chiến thắng bất cứ cuộc tranh luận no. MacIntyre thừa nhận rằng nỗ lực của triết học hiện đại đặt nền tảng đạo đức, trước hết nơi những cảm xc v mong muốn của con người (Hume), kế đến nơi l tr con người (Kant), v cuối cng nơi sự chọn lựa phi tiu chuẩn (Kierkegaard) m chung cuộc đ khng trao cho chng ta bất cứ l do thuyết phục no để hnh động hợp đạo đức. Đối với MacIntyre, r rng chnh sự thất bại của triết học đạo đức hiện đại đ dẫn chng ta đến chủ nghĩa cảm xc (17).
Reply With Quote
  #3 (permalink)  
Old 06-07-2009, 04:47 PM
DjDoan's Avatar
DjDoan DjDoan is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 175
Nhưng cu hỏi cần được đặt ra l những hiểu biết hậu hiện đại về bản chất đạo đức học c phải đang dẫn chng ta đến một kết luận tương tự hay khng? C phải khng c cơ sở hợp l đối với đạo đức v c phải đạo đức l một vấn đề chọn lựa c nhn? C phải chng ta chấp nhận ph bnh hậu hiện đại về tnh hợp l v đạo đức học hướng dẫn bằng luật lệ l chng ta chắc chắn đồng sự lựa chọn một quan điểm đạo đức cụ thể? Chng ta đnh gi gi trị của một quan điểm đạo đức trn một quan điểm khc bằng cch no?

Nhiều triết gia cng thời đ theo Kierkegaard trong việc khẳng định rằng cuối cng chng ta phải đối diện với một sự chọn lựa phi tiu chuẩn trong việc chấp nhận một quan điểm đạo đức. V dụ, Stan Van Hooft trong cuốn sch của mnh Caring: An Essay in the Philosophy of Ethics (18) tm cch giải thch tại sao chng ta khng thể sống thiếu đạo đức. ng giải thch đạo đức như l một tập hợp những cam kết hay chọn lựa m chng l những biểu hiện quan tm su sắc của chng ta, l mối quan hệ cơ bản v tất yếu của chng ta với thế giới v vị tr của chng ta trong đ. Chnh bởi v chng ta về mặt bản thể học vừa l một tự đề n v một sự quan tm về ci khc (tức l, chng ta tồn tại như những hữu thể tạo nn mnh đng thời v phải tương quan trong một vi cch thức với thế giới bn ngoi chng ta) nn chng ta phải c những cam kết đạo đức. Nhưng Van Hooft khng thể bảo chng ta những thứ cam kết no để thực hiện - chnh hnh vi chọn lựa quyết định những tnh trạng đạo đức của chng ta (19). Tất nhin, sự chọn lựa đạo đức xảy ra khng xa rời ngữ cảnh, m ở trong một ngữ cảnh cụ thể, nhưng Van Hooft khng đưa ra cho chng ta bất cứ tiu chuẩn phổ qut no về đạo đức học m n đứng bn ngoi văn ha (20).

Đối với ti dường như rằng, c cch để thot khỏi tnh huống kh khăn nơi triết học đạo đức hiện thời, v điều ny phần no được chỉ ra trong việc m tả đạo đức của Levinas. Đối với Levinas, đạo đức được m tả như l sống v người khc. Cch thức sống ny bằng cch ny hay cch kia siu việt những khuynh hướng tự kỷ tự nhin của chng ta. Trước hết v quan trọng nhất nơi sống v người khc của chng ta l rằng chng ta vượt ln ci bản ng đặt căn bản trn ci ti chật hẹp của mnh v tm đến một cch thức sống mới, một cch thức sống m n cuối cng c thể thậm ch được m tả như l tnh thnh linh(21). Triết học của Levinas chỉ ra phương cch đưa đến một khi niệm đạo đức m n c thể được tm thấy nơi Thnh kinh v nơi tư tưởng cổ đại - về một hệ thống đạo đức m n khng được biện minh nơi bản chất con người, m khc hơn nơi điều m loi người c thể trở thnh. Chnh loi người mới hay cch thức sống siu việt ny khi được đưa vo đời sống c thể gip chng ta từ bỏ quan điểm tự kỷ chật hẹp của mnh v sống v người khc. Chng ta c thể ni con người như vị ấy c thể l theo một vi cch thức: l người c hạnh phc trong khi niệm của Aristotle, l c tnh thnh linh nơi truyền thống Cơ-đốc gio, hay l gic ngộ theo truyền thống Phật gio. Nhưng tất cả những khi niệm ny chia sẻ một cấu trc bộ ba giống nhau m MacIntyre đ m tả như l bản chất con người ngy thơ tự nhin, anh ta c thể l con người như vậy nếu anh ta nhận ra telos của mnh v những khi niệm đạo đức m chng c thể khiến anh ta vượt từ một trạng thi ny đến một trạng thi khc(22). Điểm chnh của những truyền thống khc nhau ny l r rng: nơi tuyn bố nổi tiếng của Nietzche con người l thứ cần chinh phục (23). Đạo đức học nhận lấy nghĩa của n từ việc hoặc thnh cng hoặc thất bại trong việc đạt lấy telos của n, tức l sống theo con người mới.

Con người (được định nghĩa như l một phần của chng ta, bị giới hạn bằng một quan niệm tư lợi hạn hẹp) bản thn n khng phải l một mục đch, khc hơn n l một hứa hẹn (hay c lẽ chnh xc hơn, một cơ hội) của điều g đ cao hơn. Chnh ở nơi nghĩa siu việt tự ng ny m từ siu việt c thể được sử dụng để m tả bất cứ triết l sống no như vậy, khng hm nghĩa bất cứ thực thể siu hnh no. Quan điểm hiện đại về sự hiện hữu của con người v sự thiếu đạo đức hệ quả của n l cố gắng sống m khng c khả năng siu viết ấy. Ti xin được nhấn mạnh lại rằng một sự siu việt như vậy khng nhất thiết hm bất cứ sự siu việt siu hnh cụ thể no (chẳng hạn như sự siu việt của Thượng đế), thay v vậy n c nghĩa l một sự siu việt tnh cảnh hiện hữu của thn phận con người, siu việt sự giam hm chật chội của tự lợi, sự tồn tại được đặt cơ sở trn ci ti.

Như vậy, để tm tắt quan điểm đạo đức được Levinas m tả, đạo đức c thể được xem như một phương cch sống mới m n c bản chất cốt tủy l sống v người khc v l vượt qua những tư lợi vị kỷ hạn hẹp của chng ta. Điều ny hầu như khng phải l một khi niệm đạo đức mới mẻ, tuy vậy, c lẽ ngạc nhin, n khng mu thuẫn với bất kỳ chủ thuyết trọng yếu no về quan điểm hậu hiện đại. Chng ta c thể thấy rằng, con người mới hay cch sống mới được chỉ ra ny khng thể chứng minh chỉ bằng tranh luận hợp l - n khng thể chứng minh. Tuy nhin, như ti sẽ giải thch sau trong thảo luận vắn tắt về quan điểm đạo đức học Phật gio, khi niệm đạo đức ny khởi đầu cuốn ht chng ta khi chng ta bắt đầu hiểu su hơn về phạm vi m với n tư lợi hạn hẹp khiến cho chng ta v những người khc nhiều khổ đau. Sự cuốn ht của n l điều thuộc về con tim cũng như khối c.

Ti đ sử dụng triết l sống v người khc mang tnh thi ca của Levinas để lm v dụ chnh của ti về đạo đức. Nhưng nhiều khi niệm v hnh ảnh khc c thể được thm vo. Từ truyền thống Phật gio, chng ta c thể lấy khi niệm tm từ (meta) v tm bi (karuna) để m tả một kinh nghiệm tương tự. Thậm ch chng ta c thể sử dụng một thuật ngữ từ tm l học hiện đại - cảm thng, hoặc c thể mở rộng khi niệm Quan tm su sắc của Van Hooft để m tả một kinh nghiệm như vậy.

Mỗi khi chng ta chấp nhận sống v người khc như l kinh nghiệm đạo đức then chốt, th một số những nguyn tắc đạo đức đơn giản sẽ đi theo hon ton tự nhin. Cần ph bnh để thấy, như Bauman v Levinas đ biện luận một cch r rng, rằng sự thc đẩy đạo đức khng cần sự biện minh ty thuộc. Những nguyn tắc ti sẽ phc thảo khng phải l những biện minh cho đạo đức, m l những khảo st hay hm m chng xuất pht từ kinh nghiệm chnh yếu ny. Đạo đức học, như Levinas xếp n, l triết học đầu tin. Chng ta chỉ c thể khởi xuất những nguyn tắc đạo đức của mnh từ kinh nghiệm hay sự thc đẩy đạo đức cốt yếu ny của chng ta. Chnh v chng ta thường khng được hướng dẫn bằng sự thc đẩy ny nn chng ta cần đến những nguyn tắc đạo đức. Ti sẽ tm đến truyền thống Phật gio, lấy đ lm nguồn ti liệu cho những nguyn tắc ny, l những nguyn tắc phổ qut, chng cũng c thể được tm thấy trong những truyền thống khc.

Nguyn tắc (khi niệm hay luật tắc) đạo đức căn bản nhất trong Phật gio l khng lm hại mọi chng sanh, hay hiểu n một cch tch cực hơn, hnh động v lng từ bi thương yu kẻ khc. Từ nguyn tắc quan trọng ny m tất cả những nguyn tắc khc đi theo (24). Cần nn lm r ngay rằng nguyn tắc hay tưởng ny khng phải l một luật lệ trong nghĩa quy định một tập hợp những bổn phận hạn hẹp m cuối cng c thể hon tất. N mang bản chất của một nguyn tắc hay l tưởng, khiến chng ta mở rộng trch nhiệm v tận của mnh đến những kẻ khc. Nếu một nguyn tắc như vậy bị biến thnh một tập hợp cc luật lệ p đặt ln chng ta bằng một quyền lực bn ngoi (cho d đ l quyền lực của Thượng đế hay của Nh nước), chng ta chỉ sẽ hnh động v sợ hậu quả xảy ra với bản thn m khng phải v bất cứ động cơ hướng đến sự siu việt bản ng no. Tất nhin, rất nhiều điều mang lấy danh xưng đạo đức thuộc về loại ny, chiếm ưu thế l truyền thống Do thi - Cơ đốc gio.

Một hệ thống cc luật tắc được giữ lại với nhau, hay nhận lấy uy quyền tối hậu của n từ bn ngoi lm tc nhn đạo đức c thể cung cấp cho chng ta một ảo tưởng an ton. Một hệ thống đạo đức khp kn như vậy gip giải tỏa mối ưu tư đạo đức cơ bản v thậm ch mối lo lắng tồn sinh của chng ta bằng cch cung cấp cho chng ta những cu trả lời an ton v yn tm về những tnh trạng nan giải của cuộc sống. Nhưng mỗi khi quyền lực bị suy yếu (v dụ, do sự diệt vong của Gio hội hay Nh nước), đạo đức học ấy bộc lộ tnh tạm bợ su sắc của n. Một hệ thống đạo đức độc đon cuối cng khng thể đem lại cho chng ta x hội c đạo đức m n hứa hẹn. Người ta khng ăn cắp bởi v đi tay của họ bị tri lại sau lưng, hay v sợ bị bắt, chứ hầu như khng phải hnh động theo đạo đức. Hệ thống luật php v đạo đức v những phương php kiểm sot hnh vi con người khc bằng cng cụ quyền lực l một kế sch chọn lựa t bảo đảm nhất v r rng khng thể l phiến đ lm nền cho một x hội văn minh.

Để thực hiện những việc lm từ bi đối với người khc th phải chọn lựa một vi loại thi độ, thậm ch người ta c thể ni một vi loại thi độ cảm xc. Thi độ cảm xc đặc trưng tất nhin l thi độ thương yu (trong nghĩa một thi độ thn thiện v cảm thng su sắc). Thuật ngữ Phật gio ở đy l tm từ (metta), m n c một nghĩa su rộng hơn chữ tnh thương theo cch hiểu hiện thời. Tnh thương như vậy ở đy l sống cuộc sống m ấp mọi chng sanh.
Reply With Quote
  #4 (permalink)  
Old 06-07-2009, 04:47 PM
DjDoan's Avatar
DjDoan DjDoan is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 175
Thi độ cảm xc cơ bản của tm từ c thể được giải thch rộng hơn theo Tứ v lượng tm (Brahma-viharas). Từ l phần đầu tin của Tứ v lượng tm v l nền tảng của ba phần cn lại: Bi (karuna), Hỷ (mudita) v Xả (upekkha). Chẳng hạn như, khi diện kiến nỗi đau khổ của người khc, tm từ được thể hiện thnh tm bi. Khi diện kiến niềm hạnh phc của chng sinh th tm từ được biểu hiện thnh tm hỷ. Cuối cng, khi diện kiến cả khổ đau v hạnh phc của người khc trong nh sng của cc điều kiện m chng tạo ra khổ đau hay hạnh phc đ, tm từ được biểu hiện thnh tm xả (25). Nhưng xả khng c nghĩa l một sự thờ ơ v cảm, m l một sự xả bỏ sinh khởi từ tr tuệ, thấy rằng bất kỳ trạng thi hiện hữu no cũng đều v thường v do đ c thể chuyển đổi thnh tốt đẹp v cao cả hơn.

Đạo đức học Phật gio c đặc trưng, n được diễn đạt bằng những thuật ngữ cảm xc, c mặt trong bất kỳ sự hnh thnh khi niệm no. Những cảm xc c một sự cuốn ht, nơi m sự tnh ton lạnh lng v duy l khng thể. Một hnh động được thc đầy bằng tm từ th kch thch một cch tự nhin tc nhn đạo đức m khng c bất cứ sự nương nhờ no vo những l do thứ yếu. Từ một cch nhn Phật gio n cũng c nghĩa rằng, một hnh động m động cơ căn bản của n l thương yu th sẽ đem lại lợi ch cho tc nhn đạo đức, cũng như đem đến cho người nhận tnh thương đ. Một cch nghịch l, tư lợi su sắc nhất được đền đp l bởi sống v người khc v hnh động từ nền tảng của tnh thương. Ngay cả Kant, bằng cch nhấn mạnh vo tnh khng tư lợi v bản chất bổn phận đạo đức hy sinh, phải thừa nhận rằng c một vi sự thỏa mn xuất hiện nơi hnh động c đạo đức (26). Sự thỏa mn ny được nhận biết su sắc khi chng ta hiểu rằng chng ta chỉ đạt được những telos của mnh thng qua sống v người khc.

Đạo đức học Phật gio cũng mang đặc trưng, n nhằm đến những động cơ của chng ta trong việc đnh gi đạo đức của một hnh động. Những hnh động thiện pht xuất từ những động cơ thiện. Khng c một cơ sở cảm xc/động cơ tch cực, điều thiện sẽ khng thể xuất hiện. Điều ny chỉ ra tầm quan trọng căn bản của những khuynh hướng cảm xc của chng ta ở nơi hnh vi đạo đức (27). Chnh xuất pht từ điểm ny m việc nhận biết những trạng thi cảm xc/tm thức của chng ta l một hướng dẫn đạo đức hữu ch cho những hnh vi của chng ta. V dụ nếu người ta biết r rằng họ đang hnh động từ một cơ sở tm sn hận (đối nghịch với từ bi) vấn đề theo đ l rằng những hnh động của họ sẽ thiếu đạo đức. Một tiu chuẩn như vậy mở ra việc ph bnh về sự sống qu mập mờ l c nhiều hữu ch trong mọi tnh huống ph bnh. Nhưng sự mập mờ ny c thể được giảm bớt bằng việc pht triển chnh niệm, đặc biệt thng qua thực hnh thiền định. Thiền định như vậy ở trong truyền thống Phật gio c mục đch ban đầu của n l đo luyện sự hiểu biết về những trạng thi tm thức cơ bản của chng ta, tu bồi v pht triển những cảm xc tch cực, chẳng hạn như tm từ. Ở một phạm vi xa hơn, thiền định hướng đến qun st bản chất thực tại. Sự qun st như vậy được m tả bằng tr tuệ v từ bi. Đạo đức v tự nhận thức hay chnh niệm như vậy đang hỗ trợ lẫn nhau.

Thm một đặc tnh nữa của đạo đức học Phật gio c thể được ghi nhận ở đy: Đạo đức học Phật gio c tnh tự nhin hơn l hữu thần. Phật gio hướng đến tm l của chng ta, đến kinh nghiệm của chng ta, chứ khng hướng đến một cơ sở bn ngoi như Thượng đế hay Thnh kinh, lấy đ lm nguồn l giải đạo đức tối hậu của mnh. Đạo đức học Phật gio c thể được m tả theo lối kinh nghiệm, trong nghĩa rằng kinh nghiệm của chng ta l gi trị c thẩm quyền tối hậu cho sự thật đạo đức. Đạo đức học Phật gio tm cch kch thch kinh nghiệm của chng ta bằng sự nỗ lực tin tưởng. C thức v tuệ qun do đ l những yếu tố cốt yếu nơi bất kỳ hệ thống đạo đức học Phật gio no (28).

Như vậy điểm khảo cứu cuối cng đối với tất cả cc hệ thống học thuyết của Phật gio, bao gồm cc hệ thống đạo đức, l một sự qun chiếu hay kinh nghiệm về sự hiện hữu con người, một sự hiện hữu mở rộng tất cả mọi người đến phạm vi m họ c thể suy ngẫm về tnh trạng hiện hữu của chnh họ. Chng ta c thể ni rằng niệm của chng ta về điều muốn ni l, một con người th cuối cng xuất pht từ thực tại tnh trạng hiện hữu của chng ta, một thực tại chn thật, ở trong những yếu tố cơ bản của n, cho tất cả mọi người. Chn l m Đức Phật đ hiểu khng phải l một triết thuyết hay một học thuyết, m l một sự qun chiếu trực tiếp về bản chất của thực tại. Phật gio cho rằng một sự qun chiếu trực tiếp về bản chất chn thực của thực tại l c thể cho mọi người.

Cuối cng, điều tuyn bố duy nhất về chn l m ci nhn thực tại Phật gio c thể thực hiện l điều được bắt nguồn từ kinh nghiệm của chng ta - bằng sự kiểm nghiệm của chnh chng ta về những sự thật m với chng những hnh thi học thuyết Phật gio sẽ trở thnh hiển nhin. Đấy l tại sao truyền thống Phật gio c một truyền thống đối thoại nguyn vẹn v một sự diễn thuyết c tư duy - người ta khng tiếp nhận gio l Phật gio bằng niềm tin m qung, m thng qua một tiến trnh xc chứng sự thật cho mnh. Cần phải nhớ rằng từ Phật c nghĩa l người tỉnh thức; truyền thống Phật gio cho rằng sự tỉnh thức ny l dnh cho tất cả mọi người, mỗi khi họ thực thi nỗ lực cần thiết.

Quan điểm Phật gio về thực tại hnh thnh nn nhiều m thức triết học khc nhau v l một vấn đề lớn vượt qua phạm vi của bi viết ny. Do đ ti sẽ chỉ bn đến một vi chủ đề m chng lin quan r rng nhất đến vấn đề đạo đức học. Đức Phật dạy rằng đời sống trần tục l dukkha (c thể được chuyển dịch l khổ, nhưng c lẽ chnh xc hơn l khng thỏa mn). Điều ny khng c nghĩa rằng cuộc đời ny khng c niềm vui, hay rằng những niềm vui ny l v gi trị, m cuối cng chng chỉ l v thường (anicca) v ph du. Tuy nhin, chng ta khng chịu chấp nhận sự thật dễ hiểu ny. Chng ta hnh động như thể những kinh nghiệm v cc đối tượng l thường hằng v vững chắc, trong khi thực tế chng khng phải như vậy. Chng ta thậm ch tin rằng bản ng của chng ta l thường hằng, cố định v vững chắc trong khi thực tế khng c thứ g khc hơn một dng chảy kinh nghiệm lun lun thay đổi. Trong thực tế chng ta l v ng (anatta), tức l, chng ta hiện hữu trong sự tương quan với những thứ khc v ty thuộc vo một dng chảy của những điều kiện lun lun thay đổi.

Nhưng chng ta khng nhn thấy thực tế ny một cch r rng. Bởi quan niệm sai lầm của chng ta về thực tại thế giới như l thỏa mn, thường hằng v vững chắc, chng ta chấp chặt vo những kinh nghiệm vừa v từ bỏ những kinh nghiệm bất xứng . Ni cch khc, ty thuộc vo v minh (khng nhn thấy sự hiện hữu c điều kiện) chng ta lm tăng trưởng tham v sn. Cần lưu ở đy tnh chất căn bản của v minh, được định nghĩa như l thiếu một ci nhn r rng về thực tại. Với tham i v sn hận, chng ta c một cơ sở tm l thiếu đạo đức. Tất nhin tham i v sn hận c một phạm vi biểu lộ tm l rất lớn, từ khng ưa thch nhẹ đến một sự căm ght su sắc, m tất cả chng được đặt căn bản trn một nỗ lực tuyệt vọng bởi bản ng để chấp chặt vo những g được nhận thức như l vừa v từ bỏ những g được xem l khng vừa . Những khuynh hướng cảm xc tiu cực ny cuối cng gia cố sự chấp thủ về ci Ti hay bản ng như điều g đ m chng ta phải bảo vệ v ủng hộ. Tuy nhin cuộc chiến bản ng ny tất phải thất bại, với chiều hướng kết quả khng thỏa mn v khng thực tế.

Nhu cầu hiện hữu su sắc nhất của chng ta l thot khỏi thức lo lắng su sắc v bất mn ny. Như Gunapala Dharmasiri diễn đạt n, vấn đề trọng tm của Đức Phật l lm sao giải thot khỏi vng lun hồi bất mn ny (sự hiện hữu trần tục, tức l sự hiện hữu được kinh nghiệm thng qua tham, sn v si) v đạt lấy một loại hạnh phc vĩnh cửu (29). Nhưng điều ny khng thể hon tất mi đến khi chng ta bắt đầu tiến hnh theo một cơ sở sống khc biệt triệt để. Đy chnh l nền tảng mới cho cuộc sống m n được biểu thị bằng mục đch luận siu việt, con người mới hay con người gic ngộ.
Reply With Quote
  #5 (permalink)  
Old 06-07-2009, 04:48 PM
DjDoan's Avatar
DjDoan DjDoan is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 175
Giải php lu di duy nhất đối với sự khủng hoảng xung đột bản ng l phải siu việt bản ng hon ton v đi đến chấp nhận lối sống thừa nhận tnh ty thuộc hỗ tương căn bản của chng ta với người khc v với tất cả mọi hiện tượng. Chnh “mục đch” hay “ nghĩa” cơ bản ny biện minh cuối cng cho nhiệm vụ đạo đức. Đạo đức, được định nghĩa như l thức trch nhiệm đối với người khc được đặt căn bản nơi trạng thi cảm xc từ tm (metta) tch cực, l cơ sở nỗ lực của chng ta để sống trong nh sng của ci nhn sng tỏ nhất của chng ta về thực tại. Về bản chất, người c đạo đức chuyển từ một lối sống sai lầm, dối tr v bất mn sang một lối sống chn thực v cuối cng thỏa mn. Nhưng để c được một lối sống chn thực như vậy người ta phải thấy r những trở ngại của đời sống trần tục. Mục đch cao hơn của con người khng phải l điều được Thin Cha sng tạo “ban cho”, m được khởi xuất bằng sự qun chiếu về những giới hạn v tnh khả thể của tnh trạng hiện hữu của mnh. Khng c sự tự nhận thức về tnh trạng hiện hữu của con người ny người ta sẽ tiếp tục sống một cuộc sống được đặt trn một khi niệm ho huyền về tư lợi.

“Đạo đức hậu hiện đại” được Bauman phc thảo l một nỗ lực nhằm pht triển một sự ph bnh c sức thuyết phục về triết học đạo đức hậu khai sng như l sự sống bị rng buộc bằng những luật lệ, tnh hợp l v sự p buộc. L một sự ph bnh c tnh lịch sử, n trở nn qu su rộng v hon ton bao qut, v đi khi c nguy cơ đến gần việc m tả sai lầm cục diện triết học đạo đức hậu khai sng. Tuy nhin, tnh hữu ch của n l nằm nơi sự ph bnh r rng của n về một khuynh hướng trọng yếu trong tranh luận đạo đức. N cũng đặt ra một nền đạo đức học khc, một nền đạo đức học về trch nhiệm khng giới hạn, được chỉ ra nơi triết l “sống v người khc” của Levinas. Tương tự, đạo đức học Phật gio được kết thc mở chứ khng phải những luật lệ tri buộc, v do đ rất hữu ch trong việc giải thch khuynh hướng học thuyết đạo đức ny. Cần lm sng tỏ ở đy rằng, một nền đạo đức học được đặt căn bản trn những nguyn tắc Phật gio khng bao giờ l một nền đạo đức học “p buộc” m ở đ sự phục tng quyền lực (hoặc Thượng đế, hoặc Nh nước) đ trở thnh lẽ sống của đạo đức. Đng hơn n ni đến con người ở trong hon cảnh sống của mnh v mời gọi con người thử nghiệm một lối sống mới - một lối sống cuối cng vượt ln bất kỳ mối bận tm tư lợi hạn hẹp no. Đặc biệt hữu ch cho những người Ty phương trong việc tm hiểu một nền tảng mới về phẩm hạnh đạo đức l cch hiểu của Phật gio về trọng tm những khuynh hướng cảm xc như l cơ sở của đạo đức học v tầm quan trọng của chnh niệm trong việc tu bồi những trạng thi cảm xc tch cực. Truyền thống Phật gio cũng cho thấy rằng chng ta khng khng c g để sợ hi từ những nguyn tắc đạo đức rộng lớn m chng gip hướng dẫn chng ta trong những nỗ lực của mnh để chuyển từ một trạng thi bất mn tham, sn v si để đi đến một trạng thi tr tuệ từ bi v giải thot.


Pano Skiotis - Thch Nguyn Hiệp dịch



1) Bauman, Zygmunt, Postmodern Ethics, Blackwell, Oxford 1993. (2) Ibid., p.12. (3) Ibid., p.12. (4) Ibid., p.12. (5) MacIntyre, Alasdair, After Virtue, University of Notre Dame Press, Notre Dame Indiana, 1981 (6) Ibid, ch.5. (7) Bauman, op.cit., p.14. (8) MacIntyre, op.cit. (9) Ibid., p.51. (10) Xem, Kant, Immanuel, Groundwork of the Metaphysics of Morals, trans. H.J. Paton, Harper Torchbooks, New York, 1964. (11) MacIntyre, op.cit. p.149. (12) Bauman, op.cit., p.60. (13) Ibid., p.60. (14) Trong khi cố gắng theo di tranh luận của Bauman, ti ghi nhận gặp phải những bối rối với cch dng của Bauman về cc thuật ngữ của Kant. Bauman c khuynh hướng sử dụng “luật lệ” v “bổn phận” một cch hon đổi, nhưng cch sử dụng thuật ngữ bổn phận của Kant khng phủ nhận việc lm tự trị của lương tm c nhn, v vậy Kant c thể gần với Bauman hơn. Thuật ngữ “bổn phận”, nơi Kant, trn thực tế c thể gần với “sự thc đẩy đạo đức” hơn l sự giải thch của Bauman. (15) Kant, op.cit., p.63–7. Một lần nữa, Bauman c thể thật sự gần với Kant. (16) "Ethics as First Philosophy" in Levinas, Emmanuel, The Levinas Reader, ed. Hand, Shawn, Blackwell, Oxford 1989, p.83. (17) MacIntyre, op. cit. ch.3. (18) Van Hooft, Stan, Caring: An Essay in the Philosophy of Ethics, University Press of Colorado, Niwot Colorado 1995. (19) Ibid., p.186. (20) Ibid., p.114. (21) The Paradox of Morality: "an interview with Emmanuel Levinas" in The Provocation of Levinas, Bernasconi, Robert and Wood, David, Routledge, London 1988, p.172. (22) MacIntyre, op. cit., p.54. (23) Nietzsche, Friedrich, Thus Spoke Zarathustra, trans. Hollingdale, R. J. Penguin Books, Harmondsworth 1969, p.41. (24) Những nguyn tắc đạo đức quan trọng khc l một sự giải thch chi tiết về nguyn tắc cơ bản ny. V dụ, trong lnh vực giao tiếp, nguyn tắc như vậy l sử dụng cch ni i ngữ v đem lại ha hợp. Thực hnh bố th l một v dụ khc. Một sự giải thch đầy đủ về cc “giới luật” đạo đức Phật gio, xin xem Sangharakshita, The Ten Pillars of Buddhism, Windhorse Publications, Birmingham 1999. (25) Sangharakshita, Vision and Transformation, Windhorse, Glasgow 1990, ch.2. (26) Kant, op. cit., p.64. (27) Sangharakshita, op. cit., ch.4. (28) Xem Dharmasiri, Gunapala, Fundamentals of Buddhist Ethics, Golden Leaves, Antioch California, p.2. (29) Dharmasiri, op. cit., p.11.

Source: Giác Ngộ Online - Đạo đức học hậu hiện đại một giải pháp Phật giáo
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 09:47 AM.

A vBSkinworks Design