| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| PHÁP MÔN TU CHỨNG LĂNG NGHIÊM ĐẠI ĐỊNH Thích Huệ Hưng Phỏng dịch x LỜI MỞ ĐẦU Thật là huyền diệu Thật là cao tuyệt Một pháp môn tu chứng hoàn toàn–giải thoát rốt ráo–Đức Phật đă dạy trong kinh Lăng Nghiêm. Không phân biệt căn cơ mau chậm, không phân biệt tuổi tác và hoàn cảnh, mọi người, mọi giới và mọi lúc đều có thể áp dụng hạ thủ công phu một cách liên tục. Toàn bộ yếu chỉ của kinh đều cô đọng ở những trang trong tập này–đủ yếu tố làm kim chỉ nam cho hành giả trên đường tiến đến quả Giác. Phương pháp tu tuy cao siêu nhưng giản dị, tuy đơn thuần nhưng uyên áo, quả thật là pháp báu vô giá. Xưa kia ngài Bát Lật Mật Đế xẻ thịt dấu kinh nơi thân, từ Ấn Độ đem đến truyền bá ở Trung Hoa, sau này Sa môn Huyền Diệu tại Đài Bắc soạn lại tóm tắt yếu chỉ khai ngộ và thật hành trong một tập nhỏ. Nay tôi phỏng dịch để tiện lợi cho những người có duyên t́m hiểu và tu chứng theo pháp Lăng Nghiêm Đại Định. Ghi tại Tu Viện Huệ Quang, ngày măn hạ. Năm Kỷ Mùi 1979 THÍCH HUỆ HƯNG |
| ||||
| PHÁP MÔN TU CHỨNG LĂNG NGHIÊM ĐẠI ĐỊNH Thích Huệ Hưng Phỏng dịch x PHẦN I KHAI THỊ THEO TÔNG CHỈ KINH LĂNG NGHIÊM Giáo lư của Phật trong 49 năm giảng dạy, tuy có phân ra: quyền thiệt đốn tiệm, không ngoài mục đích chỉ rơ chỗ dụng THỨC và không dụng THỨC. V́ mê mờ, chúng ta thường lầm chấp thân hoặc tâm từ đó–Niết Bàn đă ở ngoài tầm tay, lục đạo trở thành gia tộc của ta. Kinh Viên Giác đă nói: “Nhầm lẫn nhận năm uẩn, bốn đại, cho là thân ḿnh, căn cứ vào sự phân biệt ngoại cảnh cho là tâm ḿnh...” đó cũng v́ dùng tâm thức hiện khởi. Muốn tu theo pháp LĂNG NGHIỆM ĐẠI ĐỊNH chúng ta tuyệt đối không dùng đến TÂM THỨC. V́ dùng tâm thức phân biệt để tu đạt đến chơn tâm thường trụ là việc không thể có, hoài công như người nấu cát mong thành cơm. Thức xuất hiện dưới nhiều h́nh thức, nên ta dễ nhầm lẫn nó là tâm hoặc định, thật ra không phải chơn tâm, cũng không phải định thể, trái lại c̣n làm chướng ngại thêm cho tánh định sẵn có của chơn tâm. Với sự trá h́nh lầm lẫn đó, hàng phàm phu, tiểu thừa, ngoại đạo, quyền giáo đều bối rối, lẩn quẩn, không nhận định đâu là chơn, đâu là vọng, như người lạc vào mê hồn trận, càng đi càng cách xa. V́ vậy, Kinh Lăng Nghiêm, Phật phải bảy lần phá bỏ vọng thức bị nhận lầm là tâm, và mười phen chỉ rơ cái tánh thấy biết của con người–không phải là cái thấy biết ở giác quan. Với thiện tâm tu niệm cao độ, chúng ta cố gắng xă bỏ tâm thức tán loạn vọng động, để tạo cái tâm an định, tịch tĩnh, như vậy chúng ta vẫn c̣n vấp phải một lầm lẫn–tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa–buông cái này để bắt cái nọ vẫn kẹt vào tánh chấp thủ, không thể tiến xa hơn được để đạt một chơn tâm bổn định cho chúng ta. Y cứ vào kinh Lăng Nghiêm hầu đạt lời Phật, c̣n bị coi là một sai lầm, huống nữa một tâm thức tịch tĩnh an định không phá bỏ ư??? Phần nhiều người tu hành quan niệm đạt đến trạng thái tĩnh lặng, dứt niệm gọi là đă đắc định, nhưng thật ra vẫn chưa thoát khỏi khuôn khổ của tâm thức. Lúc đạt được như vậy, ngỡ rằng định lực dễ dàng, từ đó, ư niệm dễ duôi, buông lung, đạt được như vậy, thật tiếc, vẫn chưa phải là cứu cánh. Đó chỉ là giai đoạn sơ khởi chuẩn bị lâu dài cho con đường tu tập của ta. Với tinh thần tín mộ Kinh LĂNG NGHIÊM, trong chúng ta, cần phải xă bỏ tâm thức dưới mọi h́nh thái mới hy vọng đạt được tánh định sẵn có của tự tâm. Khi đă ĺa bỏ được tâm thức vọng niệm đó, ta mới nhận rơ được thể tánh thấy nghe, hiểu biết thường tại trong các giác quan của ḿnh. Nếu ta hiểu được tánh sẵn có đó, cố gắng giữ ǵn măi, sẽ thành đại định chân thật. Đó là tự tánh chơn định khác với lối định của phàm phu, ngoại đạo, quyền giáo, tiểu thừa, căn cứ vào tâm thức thứ sáu làm nhân để tu định. Vả lại, nếu trong chúng ta măi căn cứ vào tâm sanh diệt vọng động đó để tu định, th́ định đó sẽ tùy thuộc tâm sanh diệt của ta có nhập, trụ và xuất. Lúc nhập th́ có định, khi xuất th́ không có định, cảnh tịnh th́ thuận, cảnh động th́ trái nghịch, như vậy định đó vẫn không thoát khỏi luân hồi sanh diệt. Đó là nguyên nhân cố gắng cưỡng ép tâm thức sanh diệt để cho yên định, sự thật chưa tỏ ngộ được chơn tâm bất động sẵn có, đă nhận lầm giả tưởng là chơn thật. Có nhiều kinh luận vạch rơ thể tướng của chơn tâm, nhưng vẫn chưa chỉ thẳng trong thân hiện tại của chúng sanh nó thuộc phần nào, nằm ở đâu! V́ thế phần lớn chúng sanh tu hành xă bỏ được cái tâm phân biệt thô lậu, nhưng c̣n cố suy tư, nghiên tầm những nghĩa lư thâm diệu, để cầu ngộ nhập chơn tâm, song cuối cùng vẫn lọt vào lối cũ của phạm vi ư thức vi tế hơn, vẫn luân lưu trong cảnh giới nhỏ hẹp cạn cợt. Kinh LĂNG NGHIÊM, Đức Thế Tôn co duỗi cánh tay, nắm mở bàn tay, phóng quang hai bên tả hữu, để gạn hỏi ANAN về tính chất động và tịnh. Do đó, ANAN hiểu được nơi thân ḿnh cái diệu tánh sẵn có–luôn luôn bất động, không liên hệ đến thân cảnh vọng động lao xao. Trong chiều hướng ĺa ngôn ngữ để chỉ bày thực tại, ngón tay phóng quang của Đức Thế Tôn đẩy ANAN rời xa ư niệm tư duy để lănh hội tánh bất động của ḿnh sẵn có, v́ thế, đầu ANAN có lay động theo sự phóng quang của Đức Phật, nhưng tánh thấy vẫn không hề lay động, thay đổi. Biết được điều đó, thân ta dầu trải qua vô số kiếp trong nẻo luân hồi, nổi trôi trong hằng sa thế giới, nay đây mai đó, cái tánh thấy vẫn thường hằng như hư không, chẳng bao giờ suy giảm, dao động. Hiểu được như vậy, trong các động tác hàng ngày như đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta vẫn an trụ trong tự tánh chơn định của ḿnh. Thêm một lần nữa, v́ ḷng từ đối với chúng sanh lầm lạc. Phật vạch rơ tánh nghe thường hằng của ta luôn luôn tồn tại, không gián đoạn theo âm thinh ngoại cảnh, ngài lại đánh chuông để khai ngộ, ANAN nhận là nghe chuông ngân khi c̣n phát tiếng, và hết nghe khi chuông im lặng. Phật bảo rằng: với ư thức sai lầm chúng ta có nghe và không nghe theo thinh trần, thật sự, tánh nghe–hay nói cách khác, bản chất của cái nghe vẫn bất diệt.–Dưới h́nh thức khác của sự mê vọng–Phật lại chỉ rơ vọng tưởng do ư thức phân biệt sai lầm như người đang ngủ nghe tiếng chày giă gạo, cứ ngỡ tiếng trống hoặc âm động của một vật phát khởi. Tại sao với âm động đó, khi thức, nhận định khác với lúc ngủ? Sự lầm lẫn đó là do ư thức phân biệt có khác nhau, nhưng tánh nghe vẫn không thay đổi, thức cũng như ngủ, vẫn lặng lẽ thường c̣n. Căn tánh là chơn thể của vạn vật, vạn vật là giả tướng của căn tánh. Cái chơn tâm sâu kín nhiệm mầu, vẫn tàng ẩn dưới dạng tánh thấy nghe thường nhật. Ngày nay, người học đạo ỷ lại vào tánh (thiên chơn) của ḿnh, không cầu đến chỗ cứu cánh. Nghe luận đến căn tánh hiện khởi, lại chấp thủ lấy bản thể thường tịch, ĺa bỏ sự tu chứng. Mới an trụ vào bực sơ giải nhơn không (có tri kiến vô ngă) đă tự măn, không ngờ rằng vi tế nghiệp (vi tế phiền năo) vẫn chưa tiêu, làm sao thoát khỏi cảnh giới t́nh trần; Tâm sinh diệt chưa dứt, làm sao vượt khỏi muôn trùng khổ năo trong ba cơi để đạt chứng viên thông, như người canh giữ kho vàng mà vẫn chịu nghèo nàn khổ lụy. Có người hỏi: – Phần đầu của kinh bảo phải phá bỏ, xa ĺa cái thức hư vọng, phần sau của kinh lại bảo thức là chơn, cũng gọi là tạng tánh nghĩa ấy thế nào?. Đáp: – Thức, tuy là tạng tâm, nhưng nó là căn bản của sanh tử, nếu không phá bỏ, chúng ta sẽ lầm lẫn, dùng nó để tu tập như người nấu cát mong thành cơm. Thức tuy là vọng động nhưng là hiện tượng của tâm (duy tâm sở hiện), nếu không dung nhập với tạng tánh th́ ngoài tâm c̣n có pháp hay sao? V́ bản chất của thức là vọng tưởng nên phải dung nhập vào tâm để tránh sự trở ngại tu tập. Chung qui vẫn không ngoài lời Phật dạy, tất cả trở thành diệu chỉ. Trong kinh nói về bốn khoa, bảy đại, ba Như Lai tạng, mười pháp giới tâm, tất cả đều là thể lượng cùng cực của căn tánh. Người tu viên thông phải hiểu rơ trong chỗ phản văn đă thâu gọn vạn hữu cùng tột nhất chơn. Cả đến vấn đề khai thị tạng tánh sẵn có, chỉ là phương tiện cho những người tu viên thông làm chỗ ngộ nhập. V́ vậy, chư Tổ trực chỉ chơn tâm, phần nhiều không dùng văn tự: bằng những động tác đánh, hét hoặc kết hợp với pháp khí thích ứng với tŕnh độ người đương cơ sẽ đưa thẳng họ đến nơi chứng đắc quả là diệu thủ. Nếu có dùng ngôn từ, cũng chỉ là phương tiện đánh trúng mạch ngộ trong tự thân của kẻ cầu đạo mà vẫn không làm cho họ trụ chấp ngôn ngữ. Trên pháp tọa, Đức Phật cầm nhánh hoa đưa lên giữa đại chúng, Ca Diếp đă đáp lại bằng nụ cười thâm thúy lănh hội. Đó là một trong những động tác khai thị của thiền giới. V́ căn cơ bất đồng, thiền tông phải ĺa ngôn ngữ, bên giáo phải dụng từ văn. Thiền gia muốn hành giả hốt nhiên đại ngộ, không qua phương tiện ngôn ngữ, bên giáo tạo cho hành giả nương vào văn tự, ngôn ngữ, để tỏ nhập chơn tâm. Nay dùng nhĩ căn để tu, áp dụng phương pháp phản văn (nghe trở lại tự tánh) tri giải (sự hiểu biết, suy luận) phải chấm dứt, không nên bận tâm vào bất cứ điều ǵ, phải giữ trạng thái thanh thản an nhiên. Lúc dụng công như vậy, mọi hiện cảnh, trạng thái trước mắt cũng như trong tâm, không nên quan tâm lưu ư. Chúng ta chỉ chuyên chú trong vô biên pháp giới ở tánh nghe mà thôi. Nhờ chú tâm ở tánh nghe, nên ngoại cảnh động tịnh không thể chi phối ta được. Và tâm thức cũng vậy, không liên quan đến tánh nghe, nên khi nhớ hay quên vẫn không thay đổi nó được. Tâm thức và tánh thấy nghe v.v... như tấm kiếng và ảnh rọi vào. Khi thức khởi hiện gọi là nhớ, như ảnh hiện vào tấm kiếng: khi thức diệt, gọi là quên như ảnh mất đi, gương kiếng vẫn không bị tác động chi phối hay ngăn ngại. Cũng như vậy, tánh thấy nghe không hề gia giảm bởi tâm thức. Điều này bên tông gia gọi là thời tiết hợp thành một khối. V́ thế lối tu pháp “Tự tánh bổn định” này khác hẳn với lối tu chỉ quán thông thường. Thường thường, chỉ quán là do công phu luyện tập lâu ngày thuần thục mới kết hợp được tâm và cảnh nhất như, không lấy ngay tự tánh sẵn có làm định. Trái lại, Kinh LĂNG NGHIÊM dùng định viên măn của tự tâm sẵn có làm THỦ LĂNG NGHIÊM, không khởi tâm đối cảnh để chỉ quán sanh định. Người hành pháp nắm được thể tánh chiếu diệu đó, liền khởi công tu luyện gọi là vi mật quán chiếu–không cần lấy tư duy tu tập làm quán. Chúng ta nên nhớ rằng cái định này vốn tự tánh sẵn có, thường hằng, không ngoài tự tánh bất động, c̣n gồm thâu cả muôn pháp vạn sự vốn xưa nay bất động cùng làm một thể chơn định. Nếu không gồm cả vạn hữu đó, mà chỉ ở nhất tâm bất động, đều không phải cái định viên dung. |
| ||||
| Kinh LĂNG NGHIÊM c̣n dạy: Dù diệt hết điều thấy nghe hay biết, vẫn giữ cái u nhàn tịch tịnh bên trong th́ vẫn c̣n bóng dáng của pháp trần phân biệt. Đó là trạng thái của phàm phu, ngoại đạo, tiểu thừa và quyền giáo chấp trụ cho là pháp tánh–thật ra chỉ là bóng dọi của pháp trần,–không phải vật thể. Không biết rằng các pháp vốn không, bỏ bên ngoài nương vào bên trong chẳng khác nào cảnh ngoài vẫn c̣n hiện trong gương. Chỉ là trạng thái tương tợ bất động, kỳ thật trong ức niệm vẫn tồn tại chủng thức ngoại vật; cái h́nh bóng pháp trần bất động tịch tịnh đó vẫn không thể diệt được. Các hàng phàm phu, ngoại đạo, quyền giáo, tiểu thừa đều lấy ư thức tư duy làm quán, ư thức yên định làm chỉ, ĺa ư thức ấy ra không có cái thể định huệ nào khác, v́ vậy, căn bản vốn là phân biệt th́ không thể nào dứt khoát hư vọng. Vả lại, cảnh là pháp trần, tâm sanh phân biệt, cảnh và tâm không thể rời nhau, mà tự cho là thanh tịnh, kỳ thật toàn là hư vọng loạn động và hư chuyển. Nếu định có xuất có nhập, đều thuộc vi tế phân biệt, chỉ nương vào vi tế phân biệt đó để duy tŕ cảnh tịch tịnh kia, một khi không phân biệt nữa, cảnh tịch định liền mất, gọi là xuất định. Tu LĂNG NGHIÊM ĐẠI ĐỊNH không thể như vậy. Trên đây là phần phá thức hiển tâm để chỉ rơ cái định.–Thuộc phần tông chỉ đă xong. |