| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Tóm lại, trong "triết học về tánh không" của Tuệ Sĩ, tác giả nhận định về chân lư công ước rằng : "Ngôn ngữ không c̣n là một h́nh ảnh héo hắt của thực tại sai biệt và sai biệt. Nó không đi chơi vơi trên thực tại, mà đóng vai tṛ truyền thông như tiếng gọi từ trên đỉnh núi của tuyệt đối vô tri, từ trên đỉnh núi ngh́n đời bất khả xâm phạm, luôn luôn thách đố bước tiến của con người. Nó đánh mất đi cái cụ thể nghèo nàn trong tầm mắt của phàm phu đến một chân trời rực rỡ của sáng tạo". 2- Nắm lá trong ḷng bàn tay Những ǵ được Phật thuyết giáo trong suốt cuộc đời của Ngài được Ngài ví cho "nắm lá trong ḷng bàn tay", c̣n cảnh giới tự chứng - trí tuệ siêu việt của Phật th́ được ví như lá trong rừng. Ở đây, cố nhiên Phật không hề ngụ ư muốn so sánh nhiều hay ít giữa giáo thuyết đă được nói ra và giáo thuyết chưa được nói; mà theo bản ư của Phật, "nắm lá trong ḷng bàn tay" đó là những ǵ khả dĩ truyền thừa cho con người qua tri thức thường nghiệm của chúng. Phật thuyết pháp là thuyết cho chúng sinh, những kẻ đang lặn hụp trong đêm trường vô minh, do đó pháp do Phật nói bao giờ cũng mang ư nghĩa phương tiện. Và phương tiện đó hẳn nhiên là phương tiện dùng cho chúng sinh mà không phải là cho Phật. Điều này được thể hiện rơ ràng, cụ thể qua bài thuyết giảng đầu tiên của Phật về Tứ diệu đế, tại vườn Nai, gần thành Ba-la-nại. Trước hết, Tứ diệu đế là phương tiện thuyết giáo đặc sắc và hữu hiệu của Phật, giáo lư ấy không hề giả định về một chân lư tuyệt đối (chân đế) nào hết. Nó được thiết lập bằng cách đi trực tiếp vào những kinh nghiệm khổ đau thống thiết nhất của con người, rồi từ đó hiển bày mối tương quan nhân quả theo cả hai chiều lưu chuyển và hoàn diệt ; chính tại đây, nền tảng của Trung đạo đế được thiết lập để vén lên bức màn u tối cho những sinh linh thống khổ bước vào sinh địa của chân lư tuyệt đối, ngay trên mảnh đất u huyền và ảm đạm của trần thế này. Như vậy, trên góc độ nào đó, có thể nói Tứ diệu đế là suối nguồn uyên nguyên của con đường luận lư học Phật giáo. Và đó là những ǵ có thể để Phật thuyết cho chúng sinh, đồng thời cũng là những ǵ có thể để chúng sinh tiếp nhận lời dạy của Phật. Như thế, "nắm lá trong ḷng bàn tay" của Phật cũng chính là "nắm lá trong ḷng bàn tay" khả hữu của chúng sinh. Sự kiện sẽ được tỏ rơ hơn khi đi vào nội dung truyền đạt của Tứ đế. Thoạt tiên, khổ đế được xem như là một sự thật hiển nhiên, một chân lư khách quan phồ biến đối với bất luận một chúng sinh nào. khổ đế, như đă đề cập, nó không hề giả định về một sự thể tuyệt đối, hay một thực thể nào cả. Công vụ của nó là nói lên sự thật hiển nhiên, cụ thể về sự cảm thọ khổ đau mà con người phải gánh chịu ngay trong từng nhịp thở của ḿnh. Và, bản chất của khổ chính là mười hai khoen xích nhân duyên mà Phật đă tŕnh bày một cách cụ thể trong Tập đế. Mười hai Nhân duyên, trên phương diện logic học, là chiều dài của tiến tŕnh tạo tác khổ đau ; nhưng trên phương diện tâm thức, nó là ṿng tṛn sinh hóa, và ṿng tṛn ấy được vẽ nên bởi một tâm điểm duy nhất, một và chỉ một mà thôi. Do đó, nếu lấy tâm làm nhân, và ṿng tṛn do tâm (ấy vẽ nên) là quả, th́ sẽ không thể phân định sự khác biệt, phân ly giữa nhân và quả, mà nó là sự vận hành tương tục, có một là có tất cả, và tất cả là một. Điều này cho thấy rơ cái sai lầm từ vô thủy của tri thức thường nghiệm, nó vốn là hiện thân của một niệm bất giác, vô minh. Và như thế, ta sẽ không bao giờ t́m được cái bản thể uyên nguyên nào nếu cơ cấu của Mười hai Nhân duyên này chưa thay đồi và tạo nên một sự chuyển y (paràvrtti) hay một sự đột biến. Ở đây, cần nói rơ là sự đột biến của chính Mười hai Nhân duyên chứ không phải là ở đâu hết. Nếu không như thế, mọi cảnh giới mà ta t́m được từ kinh nghiệm cá thể do tri thức trường nghiệm đưa đến đều là sương mờ ảo ảnh. Tại đây, Đạo đế đă vạch ra con đường tiệm tiến dẫn đến sự thay đồi cơ cấu của Mười hai Nhân duyên; và nó thủ vai "con thuyền đưa người sang sông". Nên nhớ rằng, đạo đế, bản thân nó chỉ là con thuyền, nghĩa là phương tiện chứ không phải là cứu cánh, nhưng nếu không có con thuyền th́ không thể đưa người sang sông. Và sự kiện sang sông (paragate) được gọi là Diệt đế. Thông thường, Tứ đế được chia thành 2 (hai) cặp nhân quả : nhân quả trần thế, Tập là nhân, khổ là quả ; và nhân quả siêu trần thế ; Đạo là nhân, Diệt là quả. Sở dĩ Bốn đế và Mười hai Nhân duyên được nh́n qua lăng kính nhân quả như thế là do nhu cầu logic của tri thức thường nghiệm. V́, đối với tri thức nó luôn luôn t́m kiếm một đối tượng hay một tên gọi - dẫu rằng đối tượng hay tên gọi đó là thực có hay giả danh - để chứng minh tác dụng của nó. Nếu không t́m kiếm được đối tượng, tri thức tự nó sẽ rơi vào hụt hẫng, khủng hoảng. Tuy nhiên, bao lâu con người c̣n bị buộc bởi Tứ đế cũng như bởi Mười hai Nhân duyên th́ khi ấy vẫn chưa ra khỏi vô minh. V́ ngay chi phần Diệt đế (tức là Niết bàn), tự nó vốn đă thoát ly mọi khái niệm phân biệt tương quan nhân quả, nó là tịch diệt - vô ngôn. Như thế khi Tứ đế được nh́n bằng tương quan nhân quả, th́ nó lập tức được phủ lên lớp áo công ước; và khi lớp áo công ước đó được rũ bỏ, th́ Diệt đế tức là Niết bàn. Mà Niết bàn th́ không thể gọi là nhân hay quả, v́ nó được dẫn khởi theo con đường hoàn diệt, thoát ly mọi định kiến về tương quan nhân quả. Con đường này hoàn toàn khác với con đường lưu chuyển; do đó, khi gọi Diệt đế là quả của Đạo đế, nên hiểu rằng đây là nhu cầu logic của tri thức và của tư duy nhị nguyên. Hơn thế nữa, tự thân Diệt đế, chính nó đă nói lên sự phá vỡ cấu trúc tương quan nhân quả của Tứ đế và Mười hai Nhân duyên. Diệt đế, nói theo linh ngữ của Bát nhă là "gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha !". Do đó không cần thiết phải gán ép cho Diệt đế bất luận một tên gọi nào. Có điều cần ghi nhận rằng dù Diệt đế được nh́n dưới h́nh thức nào đi nữa, nhưng nếu con người không đi vào Đạo đế th́ sẽ không bao giờ thoát ly khổ năo. V́ thế, chân lư công ước - tức khổ đế, Tập đế và Đạo đế - nó chính là con thuyền đưa người sang sông - Diệt đế, Niết bàn. 3- Con thuyền đưa người sang sông Để kết luận về sự thật của chân lư công ước, chúng ta bàn về ư nghĩa của thành ngữ "Con thuyền đưa người sang sông". Như đă đề cập ngay từ đầu, toàn bộ hệ thống giáo lư của Phật đều được ví cho "ngón tay chỉ mặt trăng", tức là dụ cho chức năng định hướng, chỉ dẫn ; "nắm lá trong ḷng bàn tay" dụ cho tính chất công ước trong giáo huấn của Phật sao cho phù hợp với tri thức hữu hạn của con người ; và cuối cùng, "con thuyền đưa người sang sông" dụ cho phương tiện đưa đến giác ngộ giải thoát. Trong kinh ghi rằng : "Nước biển đại dương mênh mông chỉ thuần có một vị, đó là vị mặn ; cũng vậy, giáo pháp của Như Lai vô lượng, nhưng chỉ thuần một vị, đó là vị giải thoát". Từ chi tiết này cho ta nhận định rằng, dù giáo huấn của Phật mang tính chất phương tiện; song, giáo huấn đó bao giờ cũng hàm chứa hai giá trị : a- Giá trị thông điệp: Giá trị này xác định nội dung của tri thức và đạo lư, nhằm chỉ dẫn con người vươn đến sự giác ngộ tối thượng. b- Giá trị giải thoát: Giá trị này xác định chức năng và mục đích giải thoát trong giáo huấn của Phật. V́ rằng Phật thuyết giáo với mục đích làm cho chúng sinh thức tỉnh và tu tập để hướng đến sự an lạc giải thoát. Do đó, khi đọc những giáo huấn ấy, nhất định chi dù nhiều hay ít, con người cũng cảm nhận được hương vị giải thoát từ trong giáo huấn của Phật. Từ đây ta thấy rằng, giáo lư của Phật dù được quan niệm như thế nào đi nữa, hoặc là "ngón tay chỉ mặt trăng", hoặc là "nắm lá trong tay", hoặc là "con thuyền đưa người sang sông" v.v..., th́ giá trị của nó vẫn là phương tiện giúp cho con người đạt đến mục tiêu cứu cánh tối hậu - đó là giác ngộ, giải thoát. Và để kết luận, chúng tôi xin trưng dẫn một đoạn trong tiểu phẩm Bát Nhă, phẩm II, "Thích đề hoàn nhân", như sau : "Lúc bấy giờ, các vị thiên tử suy nghĩ như vầy : Những ai là người có thể tùy thuận nghe những điều mà Tu-bồ-đề nói ?" Tu-bồ-đề biết rơ ư nghĩa này của các vị thiên tử, nói với họ rằng : Người huyễn có thể tùy thuận nghe những điều tôi nói; sự nghe cũng không và sự chứng cũng không. Các vị thiên tử suy nghĩ như thế này : "Nếu người nghe mà như huyễn th́ chúng sinh cũng như huyễn ; Tu-đà-hoàn quả cho đến Bích Chi Phật đạo cũng như huyễn". Tu-bồ-đề biết rơ những ư nghĩ này của các vị thiên tử, nói với họ rằng : "Tôi nói chúng sinh như huyễn, như mộng ; Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán quả, Bích Chi Phật đạo cũng như huyễn, như mộng". Các vị thiên tử nói : "Thưa Ngài Tu-bồ-đề, phải chăng Ngài nói Phật pháp cũng như huyễn, như mộng". Tu-bồ-đề nói : "Tôi nói Niết bàn cũng như huyễn, như mộng". Các vị thiên tử nói : "Đại đức Tu-bồ-đề, phải chăng Ngài nói Niết bàn cũng như huyễn, như mộng ?" Tu-bồ-đề nói : "Này các thiên tử, giả tỉ có pháp nào cao hơn Niết bàn, tôi cũng nói là như huyễn, như mộng. Các vị thiên tử ! Huyễn mộng và Niết bàn không hai, không khác". (7) (1) Trong các kinh thuộc Bắc Tạng như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Phật luôn luôn nhấn mạnh đến khái niệm bất khả thuyết, bất khả tư ngh́... (2) The Buddha and his teachings, Narada, Colombo, 1964, tr. 60 xem thêm kinh Majjhima Nikàya, Ariyapariyesana Sutta, No 26. (3) Tu-đà-la giáo, như tiêu nguyệt chỉ, bất phục kiến nguyệt, khả tri sơ tiêu, tất cánh phi nguyệt". (4) Xem Triết học về Tánh Không : Tuệ Sĩ, An Tiêm XB, 1970, tr 128. (5) Triết học về Tánh Không, Tuệ Sĩ, An Tiêm XB, 1970, tr. 128. (6) Ibid, tr 156. (7) Bản dịch của Tuệ Sĩ, trong Triết học về Tánh Không, An Tiêm XB, 1970, tr. 39-40. |