| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Năm 1255, ngài Thân Loan, sau khi trở về kinh đô, trứ tác Ngu Ngốc Sao 2 quyển, Trong tác phẩm này, Ngài đề xuất lư luận phán giáo của ḿnh, tức là phân loại b́nh luận toàn bộ Phật pháp. Ngài đem Phật pháp chia thành hai giáo: Đại thừa và Tiểu thừa. Lại chia Đại thừa làm Nan hành đạo (tức là tự lực Thánh đạo môn) và Dị hành đạo (tức là tha lực Tịnh độ môn). Tự lực Thánh đạo môn được chia làm Tiệm giáo và Đốn giáo, Ngài lại dùng các từ vựng “Thụ”, “Hoành”, “Thụ xuất”, Thụ siêu”, “Hoành xuất”, “Hoành siêu” để tiến hành b́nh luận về toàn bộ Phật pháp. - Thụ là chỉ cho tŕnh tự tu hành trước sau cạn sâu. - Hoành là không có tŕnh tự thứ lớp. - Xuất là xuất ly tam giới đạt đến giải thoát. - Siêu là đạt ngay đến cảnh giới giác ngộ tối cao. Ngài Thân Loan dùng “Thụ” đại biểu cho Thánh đạo môn, dùng “Hoành” đại biểu cho Tịnh Độ môn. “Thụ xuất” là chỉ cho tiệm giáo trong Thánh đạo môn như Pháp Tướng tông … chủ trương “quyền giáo” phải trải qua nhiều kiếp tu hành. “Thụ siêu” là chỉ cho đốn giáo trong Thánh đạo môn như Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông, Thiền tông … chủ trương “thật giáo” ngay nơi thân này là Phật, ngay thân này thành Phật. “Hoành xuất” là “tự lực phương tiện giả môn” trong tha lực Tịnh Độ môn, chỉ cho giáo pháp nói phải tu thiện công đức và chín phẩm văng sanh trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ. “Hoành siêu” là giáo pháp chân thật của “tuyển trạch bản nguyện” trong tha lực Tịnh Độ môn, tức là giáo pháp nói về văng sanh báo độ trong Kinh Vô Lượng Thọ. “Hoành xuất” là tiệm giáo trong Tịnh Độ môn. “Hoành siêu” là đốn giáo trong Tịnh Độ môn. Sự phán giáo này đề cao địa vị Kinh Vô Lượng Thọ và luận thuyết của Ngài Thân Loan về tín tâm tuyệt đối đối với tha lực Di-đà là giáo thuyết căn bản của việc văng sanh thành Phật. B. Tín tâm là gốc và văng sanh thành Phật siêu việt thiện ác: Lư luận thiện ác báo ứng rất phổ biến trong truyền thống Phật giáo, cũng như giáo nghĩa có ảnh hưởng rất lớn trong dân gian. Theo lư luận này, người hành thiện tích đức đời sau sẽ được báo ứng tốt đẹp (sanh lên trời hoặc sanh vào nhà giàu sang ở nhân gian), kẻ làm ác tạo tội bị báo ứng xấu (sanh làm súc sanh hoặc đọa địa ngục…). Trong điều kiện lịch sử đương thời, lư luận này kết hợp với luân lư của xă hội đưa đến tác dụng thưởng thiện phạt ác. Tại nội bộ Phật giáo, lư luận thiện ác báo ứng là giáo nghĩa thuộc tầng bậc thấp hướng đến số đông tín đồ b́nh dân. Ngoài ra, mỗi tông phái Tiểu thừa hoặc Đại thừa c̣n có một hệ thống giáo nghĩa tu hành giải thoát mang tính triết học tư biện ở tầng bậc sâu hơn. Tịnh Độ tông đem các giáo phái và giáo nghĩa của Phật giáo trước đó gọi chung là Thánh đạo môn “tự lực”, “nan hành”, đề cao vai tṛ của “chuyên tu niệm Phật” văng sanh Tịnh độ (giải thoát). Điều này tuy phủ định đối với các luận điểm sự tu hành giải thoát của Phật giáo trước kia và thiện ác báo ứng, nhưng vẫn chủ trương niệm Phật tiêu tội như đă nói: “Xưng niệm một tiếng Phật liền trừ năm trăm vạn kiếp tội”. Tịnh Độ Chân Tông lại tiến thêm một bước cho rằng văng sanh (tức thành Phật) không có quan hệ ǵ đến hành vi thiện ác, mà do tín tâm đối với nguyện lực Di-đà quyết định, nên cho rằng niệm Phật tiêu tội thuộc về “tự lực” và phủ định nó. Tư tưởng của Thân Loan cho rằng tín tâm tuyệt đối đối với bản nguyện Di-đà là “nội nhân”, là “chân nhân”, là “chánh nhân” văng sanh thành Phật. Văng sanh thành Phật đă do tín tâm quyết định vậy th́ không quan hệ ǵ đến thiện ác của cá nhân. Ngài Thân Loan nói: “Bản nguyện Di-đà không phân biệt người già, trẻ, kẻ thiện, ác. Phải biết tín tâm là cội gốc. Mục đích của bản nguyện Di-đà là cứu vớt chúng sanh tội ác sâu nặng, phiền năo lẫy lừng. Nếu như tin bản nguyện Phật th́ không cần thiện hạnh khác. Không có thiện hạnh nào hơn niệm Phật. Chẳng cần sợ ác hạnh, v́ nó không ngăn ngại được bản nguyện Di-đà, làm trở ngại chúng sanh ác hạnh văng sanh” (THÁN DỊ SAO). “Người phát được nhất niệm hỷ ái tâm (tức là tâm niệm nguyện văng sanh Tịnh độ) chẳng đoạn phiền năo mà đắc niết-bàn”. (GIÁO HÀNH TÍN CHỨNG, quyển 2). “Bất luận người chết dù thiện hay ác, hễ có tín tâm quyết định th́ người ấy ắt trụ chánh định tụ” (nghĩa là trụ Bất thoái chuyển, ngài Thân Loan giải là “tương đương với Phật vị”) (MẠT ĐĂNG SAO). Ngài Thân Loan chủ trương tín tâm văng sanh, nói cho cùng cũng là do Di-đà ban cho, v́ tương thông với bản nguyện Di-đà nên có sức bất tư ngh́. Người có đủ tín tâm này, sau khi chết thần thức có thể “hoành siêu ngũ thú, bát nạn”, “tức th́ nhập vào hàng ngũ Đại thừa chánh định tụ”, tức là văng sanh thành Phật. Tín tâm này cũng một loại với bản nguyện Di-đà đă siêu việt thiện ác, chính tà của xă hội thế gian. Niệm Phật được xây dựng trên cơ sở tín tâm này là “phi thiện, phi ác, phi đốn, phi tiệm, phi định, phi tán, phi chánh quán, phi tà quán, phi hữu niệm, phi vô niệm, phi b́nh thường, phi lâm chung, phi đa niệm, phi nhất niệm, chỉ là niềm tin chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể lường, chẳng thể nói”. (GIÁO HÀNH TÍN CHỨNG, quyển 3). “Niệm Phật lấy vô nghĩa làm nghĩa, chẳng thể lường, chẳng thể nói, chẳng thể nghĩ bàn” (THÁN DỊ SAO). Ngài Thân Loan có lúc gọi pháp Niệm Phật văng sanh tin tuyệt đối vào tha lực này là “tự nhiên pháp nhĩ” (MẠT ĐĂNG SAO). Mục đích của giáo thuyết này là để củng cố vững vàng ḷng tin của chúng ta đối với Phật A-di-đà cùng bản nguyện Tịnh độ của Ngài, mà không cần phải lo nghĩ đến dĩ văng của ḿnh và các hành vi thiện ác từ nay về sau. Ngài Thân Loan thậm chí c̣n nói: “Hành giả có đủ tín tâm th́ thiên thần địa kỳ kính phục, ma giới ngoại đạo chẳng thể chướng ngại, tuy có tội ác cũng chẳng thể thọ nghiệp báo”, “dẫu giết vạn người cũng có thể văng sanh” (THÁN DỊ SAO). Cho rằng hành vi thiện ác là do nghiệp đời trước quyết định, làm thiện không trợ giúp cho việc văng sanh, làm ác cũng không chướng ngại văng sanh. Theo các tài liệu để lại ([1]) có một số tín đồ căn cứ vào lời nói này rồi “chuyên ỷ lại bản nguyện”, tuyên truyền “tạo ác vô ngại”. Ngài Thân Loan phản đối bọn người này, và Ngài nói, làm ác sẽ làm chướng ngại người khác niệm Phật, sẽ bị luật pháp của Nhà Nước trừng trị và người đời phản đối, c̣n đối với Chân Tông th́ “như trùng trên thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử”. Ngài Thân Loan chú trọng vào tín ngưỡng tuyệt đối với tha lực bản nguyện Di-đà, nên xếp pháp tu “niệm Phật tiêu tội” vào loại tu hành “tự lực”, cũng là biểu thị sự phản đối của Thân Loan đối với quan điểm “niệm một tiếng Phật tiêu tán mười ức kiếp tội nặng”. Ngài cho rằng quan điểm này không làm cho chúng ta kiến lập được tín tâm văng sanh, nên vẫn thuộc về tin “tâm của tự lực”, chứ “chẳng phải tín tâm của tha lực”. Ngài nói nếu như tin ở bản nguyện “nhiếp thủ chẳng bỏ” của Di-đà, th́ dù cho “phạm nhiều tội nghiệp lúc lâm chung không niệm Phật cũng có thể cấp tốc văng sanh”. Ngài c̣n nói, người đă có tín tâm đối với bản nguyện Di-đà “một đời niệm Phật chỉ v́ báo ân Như Lai, cảm tạ ân đức Như Lai”. Từ quan điểm này, chúng ta có thể thấy sự khác biệt của Chân Tông và Tịnh Độ Tông của ngài Nguyên Không chủ trương “niệm Phật càng nhiều càng tốt”. C. Kẻ ác là đối tượng chánh của pháp môn này: Không luận là Tịnh Độ tông Trung Quốc hay Nhật Bản đều nhấn mạnh “kẻ ác” có thể thông qua niệm Phật mà sau khi chết văng sanh Tịnh độ. Trong giáo thuyết của Phật giáo có thập thiện tương đương với các nguyên tắc luân lư thế gian, đó là “chẳng sát sanh, chẳng tà dâm, chẳng trộm cắp, chẳng nói dối, chẳng nói lời chia rẽ, chẳng nói lời thô ác chửi rủa, chẳng nói lời ngọt ngào dụ dỗ người khác, chẳng tham dục, chẳng giận hờn, chẳng tà kiến” (không tin nhân quả và các lời Phật dạy khác), trái ngược với mười điều vừa kể trên là thập ác. Người nào làm thập thiện được gọi là “người thiện”, kẻ nào vi phạm bị gọi là “kẻ ác”. Mức độ vi phạm thập thiện bất đồng nên mức độ làm ác của kẻ ác cũng khác, tội ác nặng nhất là kẻ ác phạm tội “ngũ nghịch”, tức là giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, hại Phật, phá hoại Tăng đoàn. Kẻ mà Tịnh Độ tông gọi là “phàm phu tội ác sinh tử”, “nhất thiết phàm phu tạo tội” là chỉ chung cho kẻ phạm tội thập ác, ngũ nghịch, cũng gọi là “kẻ ác”. Cũng có lúc gọi riêng kẻ phạm tội ngũ nghịch là “người mang tội nặng ngũ nghịch”, “kẻ cực ác thấp hèn nhất”. Tịnh Độ tông chủ trương tất cả kẻ ác phạm tội nặng nhẹ đều có thể thông qua niệm Phật mà diệt tội văng sanh Tịnh độ (Xem TUYỂN TRẠCH BẢN NGUYỆN NIỆM PHẬT TẬP). Tịnh Độ tông nói “kẻ ác”, “phàm phu tội ác” thực tế là chỉ cho những hạng người trong các tầng lớp xă hội như nông dân, ngư dân, thợ săn, vơ sĩ cho đến cả giai cấp thống trị. Những hạng người này là đối tượng của Tịnh Độ tông. So với Tịnh Độ tông, Tịnh Độ Chân Tông càng xem trọng truyền giáo trong quảng đại quần chúng ở hạ tầng, lấy tất cả “phàm phu”, “kẻ ác” làm đối tượng tranh thủ. Về phương diện này, thuyết “ác nhân chánh cơ” của Thân Loan rất đặc sắc. Trong THÁN DỊ SAO, ngài Thân Loan nói: “Người thiện c̣n có thể văng sanh hà huống kẻ ác!” Nhưng người đời thường nói: Kẻ ác c̣n có thể văng sanh hà huống người thiện. Lời nói này tuy thấy dường như hữu lư, nhưng ư th́ trái với tha lực bản nguyện. Bởi v́ người tự lực làm thiện, không có tâm nương nhờ vào tha lực, chẳng phải được nguyện lực Di-đà nhiếp thủ, nhưng nếu như đột nhiên người ấy hiểu ra và bỏ tâm tự lực mà nương nhờ vào tha lực bản nguyện Di-đà th́ chắc chắn văng sanh về báo độ chân thật. Chúng ta có đủ thứ phiền năo, tu hành cỡ nào cũng đều chẳng thể thoát ly sanh tử. Di-đà xót thương, bản ư phát nguyện rộng lớn của Ngài chính v́ khiến kẻ ác thành Phật. Như vậy, kẻ ác tin tưởng dựa vào tha lực vốn là chánh nhân văng sanh, cho nên nói “người thiện c̣n có thể văng sanh hà huống kẻ ác”. |
| ||||
|
Trong KHẨU TRUYỀN SAO quyển hạ của Giáo Như (1270-1351) có dẫn lời của Như Tín (1239-1300) giải thích câu: “người thiện c̣n có thể văng sanh hà huống kẻ ác” như sau: “Phàm phu ác là chánh, phàm phu thiện là phụ. Phàm phu thiện thuộc đối tượng phụ c̣n có thể văng sanh th́ phàm phu ác thuộc đối tượng chánh há chẳng thể văng sanh ư? Cho nên nói: Người thiện c̣n có thể văng sanh hà huống kẻ ác”. Những điều trích dẫn trên có mấy tầng ư nghĩa như sau: 1. Chân Tông chủ trương “tín tâm là gốc”, hễ có tín tâm đối với tha lực bản nguyện Di-đà tất nhiên có thể văng sanh thành Phật, bất luận là người có tín tâm ấy là người thiện hay kẻ ác. 2. Người thiện do v́ tự ỷ lại hành thiện, chứa nhóm công đức, cho rằng có thể dựa vào chính ḿnh tu hành đạt đến giải thoát mà chẳng tin vào bản nguyện tha lực Di-đà (không có tâm nương nhờ tha lực), nên chẳng phải là đối tượng của Phật Di-đà phát nguyện cứu độ. Nếu như người ấy thay đổi, trở lại tin tha lực bản nguyện Di-đà th́ cũng có thể văng sanh thành Phật. 3. Kẻ ác không thể dựa vào tự lực tu hành đạt đến giải thoát, duy có ḷng tin chân thật và nương nhờ vào tha lực bản nguyện Di-đà, kẻ ấy mới có thể giải thoát, v́ thế nên kẻ ác mới là đối tượng mà Phật Di-đà phát nguyện cần phải cứu độ. 4. Do v́ kẻ ác là đối tượng chính của việc văng sanh, c̣n người thiện là đối tượng phụ, v́ là người phụ thuộc, nên người thiện nếu có thể văng sanh th́ kẻ ác càng có thể văng sanh. Ư nghĩa của quan điểm lấy kẻ ác làm đối tượng chính văng sanh là: Tịnh Độ Chân Tông lấy quần chúng b́nh dân trong xă hội bao quát nông dân, ngư dân, thợ săn, cho đến lái buôn, vơ sĩ làm đối tượng, những người này trong hoạt động sản xuất nuôi, trồng, săn bắn, không thể không làm tổn thương hoặc giết hại sinh linh, vả lại đại đa số những người nghèo khổ, không có văn hóa, không có điều kiện bố thí tiền của, cất chùa, dựng tháp …, hoặc không có năng lực, không có thời gian hành thiện tu hành, theo quan điểm của truyền thống Phật giáo th́ phần đông họ là “kẻ ác”. Ngài Thân Loan đặt ḿnh vào hàng ngũ “kẻ ác”, Ngài thường tự xưng “ngu ngốc”, “cấu chướng phàm ngu”, “người mang đủ thứ phiền năo”, “tội nhân” … Đây là cách Ngài tiếp cận dân chúng, cũng làm cho giáo thuyết của Ngài dễ dàng được dân chúng tiếp nhận. Ngài cũng đă từng nói với các đệ tử: Các nghề nghiệp người đời làm “ở sông biển th́ giăng lưới thả câu, ở núi rừng th́ săn bắn chim thú để tự nuôi sống hoặc buôn bán, làm ruộng để sinh nhai” đều là do nghiệp nhân đời trước quyết định. Các hành vi thiện ác của chúng ta đều do túc nghiệp (nghiệp nhân đời trước) quyết định, nhưng văng sanh Tịnh độ thành Phật là do tín tâm đối với nguyện lực Di-đà quyết định. Có tín tâm này th́ có thể “Chẳng đoạn phiền năo mà thành Phật”. Ngài phê b́nh người truyền pháp chủ trương chỉ có người thiện mới có thể niệm Phật văng sanh, ở tại đạo tràng dán thông cáo không cho một số người làm nghề nghiệp nào đó được vào, Ngài cho đây là “ngoài hiện tướng tinh tấn hiền thiện mà bên trong giả dối” (THÁN DỊ SAO). Giáo thuyết của ngài Thân Loan đem lại hy vọng văng sanh và thành Phật cho số đông dân chúng ở tầng lớp thấp kém trong xă hội. Phương pháp tu hành lại giản đơn dễ thực hành, cho nên mau chóng có được rất đông tín đồ trong dân chúng tầng lớp dưới như nông dân, ngư dân … quy y. Tịnh Độ tông Trung Quốc và Nhật Bản trước kia, tuy cũng có nói đến kẻ ác có thể văng sanh giải thoát, nhưng do chịu sự chế ước của nguyên văn kinh điển Tịnh Độ tông và quan niệm luân lư truyền thống của xă hội, ảnh hưởng của giáo nghĩa Phật giáo vốn sẵn có, nên vẫn cho rằng người thiện văng sanh là đối tượng chánh. Trong QUÁN NIỆM PHÁP MÔN, ngài Thiện Đạo (613-681) nói: “Tất cả phàm phu tội ác c̣n nhờ tội diệt mà được văng sanh, hà huống Thánh nhân (chỉ cho người tu hành đắc đạo hoặc người thiện) nguyện sanh mà không được văng sanh ư?” Ngài Nguyên Không (1133-1212) cũng nói tương tự như thế, HẮC CỐC THƯỢNG NHÂN NGŨ ĐĂNG LỤC quyển 14 ghi: “Kẻ phạm tội thập ác ngũ nghịch có tín tâm c̣n được văng sanh, th́ người phạm tội nhẹ do đây suy ra mà biết. Kẻ tội ác c̣n có thể văng sanh hà huống người thiện!” Các Ngài lấy “Thánh nhân”, “người thiện” là đối tượng chánh, làm chủ thể việc văng sanh, kẻ ác là đối tượng phụ, là phụ thuộc. Do v́ trọng điểm truyền giáo của ngài Thân Loan là quảng đại quần chúng ở hạ tầng xă hội, nên Ngài cải biến quan điểm của các ngài Thiện Đạo, Nguyên Không, đề xuất thuyết “Kẻ ác là đối tượng chính của việc văng sanh”. Ngoài ra, dùng giáo nghĩa này để truyền giáo cũng tự nhiên có tác dụng hấp dẫn giai cấp vơ sĩ lấy chinh chiến sát phạt làm sự nghiệp. Tịnh Độ Chân Tông sau khi sáng lập liền phát triển nhanh chóng, từ thế kỷ 15 về sau trở thành một tông phái lớn mạnh có nhiều tín đồ nông dân. Do đó, trong các sách viết về lịch sử Phật giáo đều xem Tịnh Độ Chân Tông là một tông phái Phật giáo độc lập. (Trích dịch từ NHẬT BẢN PHẬT GIÁO SỬ của Dương Tăng Văn) -------------------------------------------------------------------------------- (1) * Ba kinh: Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh, A-di-đà Kinh. * Một luận: Văng Sanh Luận của ngài Thế Thân. (1) Xem thư đáp Từ Tín Pḥng (trong THÂN LOAN THÁNH NHÂN NGỰ TIÊU TỨC TẬP). |