| ||||
|
Tội trộm cũng có thể bị phạt rất nặng. Dù đàn ông hay đàn bà tùy theo nặng nhẹ nếu bị kết án về tội trộm sẽ bị chặt một tay hay hai tay (Koran 5: 3) III. Những điều nên biết về HADITH, SUNNA và SHARIA V́ lư do kinh Koran không phải là sách dễ đọc nên trong các xứ Hồi Giáo, các tín đồ đọc kinh Koran đều cần có người hướng dẫn. Những người hướng dẫn không phải là tu sĩ nhưng là những người học thức chuyên nghiên cứu về kinh Koran. Những bài giảng của họ được gọi là HADITH, có nghĩa là một bài phúc tŕnh (report). Qua nhiều thế kỷ, số bài phúc tŕnh giảng giải về Kinh Koran đạt tới con số rất lớn. Các học sĩ Hồi Giáo chọn lựa các bài hay tập trung lại thành một cuốn sách gọi là SUNNA, có nghĩa là "Tuyển tập các phúc tŕnh" (Collection of Reports). Từ đó, sách SUNNA trở thành một cuốn sách bổ túc cho kinh Koran về mặt tín lư, giáo điều. Các chính quyền của các nước Hồi Giáo chiếu theo tinh thần và luật pháp nêu trong kinh Koran và sách SUNNA để làm ra bộ luật gọi là SHARIA. Danh từ này được dịch sang Anh Ngữ là "Islamic Holly Law" có nghĩa là "Thánh Luật Hồi Giáo". Tất cả các sách Sunna và Sharia đă được hoàn thành vào cuối thế kỷ 9 và đă được viết thành nhiều bản khác nhau tại nhiều nơi khác nhau. Do vậy, các sách này chứa đựng nhiều điều mâu thuẫn, nhất là những giai thoại khác biệt nhau về cuộc đời và lời nói của giáo chủ Muhammad. Đây là một trong những nguyên nhân chính yếu gây ra tệ nạn phân hóa trong đạo Hồi: Giáo phái Sunni chỉ công nhận những Hadiths (reports) của Bukkhari. Giáo phái Shiite công nhận Hadiths của Kulayni và giáo phái Khariji chỉ công nhận Ibn Habib. Giáo phái này kết án giáo phái kia là xuyên tạc hoặc giả mạo Thánh Kinh Koran và gọi nhau là những kẻ tà đạo (mukhtalaq)! Kết quả là những cuộc thánh chiến đẫm máu giữa các giáo phái này trong nhiều thế kỷ qua. IV. Các bản dịch kinh Koran. Do nhu cầu truyền bá đạo Hồi trong 14 thế kỷ qua, đến nay kinh Koran đă được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Riêng một ḿnh nhà xuất bản Takrike Tarsile Qu'ran, Inc. ở New York đă sưu tập được trên 600 bản dịch khác nhau! Lịch sử Hồi Giáo ghi nhận bản dịch kinh Koran đầu tiên trên thế giới là bản dịch từ tiếng Ả Rập sang tiếng La Tinh do một người Ư tên là Peter Venerable thực hiện năm 1143. Điều đáng chú ư là bản dịch viết tay của ông hiện vẫn được lưu giữ tại tu viện Kluny (Ư). Đúng 300 năm sau, tức vào năm 1543, bản dịch viết tay duy nhất này được đem in và xuất bản tại Rome. Nhờ có bản dịch kinh Koran bằng tiếng La Tinh này, Âu Châu mới biết đến cuốn kinh Thánh của đạo Hồi. - Năm 1616, tại Nuremberg xuất hiện kinh Koran bằng tiếng Ḥa Lan dịch từ bản La Tinh. - Năm 1647, kinh Koran bằng tiếng Pháp được xuất bản tại Paris cũng dịch từ bản La Tinh. - Năm 1776, tại Petersburg cuốn kinh Koran bằng Nga ngữ được xuất bản, dịch từ tiếng Pháp. - Đầu thế kỷ 18, một người Anh tên là A.Ross dịch kinh Koran từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và xuất bản lần đầu tại Mỹ năm 1737. Cho tới nay, có nhiều bản dịch khác nhau bằng tiếng Anh. Mặc dầu lối hành văn khác nhau nhưng nội dung vẫn tương tự. Điều đặc biệt là Kinh Koran được xuất bản nhiều triệu cuốn một lúc nên giá bán rất rẻ. Phần lớn các bản kinh Koran được in dưới h́nh thức sách bỏ túi (pocket books) có giá bán thông thường là 5 Mỹ Kim. Với giá này ai cũng có thể mua về đọc chơi hoặc để tham khảo. Số trang trung b́nh của sách loại này là 500 trang, chữ in cở nhỏ. V. Nên đọc sách kinh Koran bằng Anh ngữ như thế nào? Đối với những ai đă từng quen đọc Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước bằng Anh ngữ th́ khi chuyển sang đọc kinh Koran qua bản dịch Anh ngữ sẽ cảm thấy không mấy khó khăn. Tuy nhiên, trong nhiều bản dịch Anh ngữ lại có rất nhiều những danh từ chung và danh từ riêng được phiên âm theo tiếng Ả Rập. Nếu không t́m hiểu ư nghĩa của những danh từ này trước khi đọc sách Koran chúng ta sẽ lâm vào t́nh trạng lúng túng không thể hiểu được nội dung của sách và cũng không biết các nhân vật được nói tới trong Kinh Koran là ai. Lấy một thí dụ điển h́nh: một nhân vật có tên Ả Rập là ISA được nhắc tới 114 lần trong kinh Koran và nhân vật Myriam được nhắc tới trên 50 lần. Thực ra họ chẳng phải là ai xa lạ: ISA chính là Jesus và Myriam chính là bà Maria, mẹ của ngài. Để giải quyết khó khăn về các từ ngữ phiên âm theo tiếng Arabic, tôi đề nghị quí vị hăy t́m các bảng GLOSSARY OF ARABIC TERMS thường được in cuối các sách Anh ngữ nói về Hồi Giáo. Quí vị chọn một số từ ngữ quí vị cho là quan trọng để học thuộc ḷng trước khi bắt đầu đọc kinh Koran hay các sách viết về Hồi Giáo. Source: http://home.earthlink.net/~charlieng...kinh_koran.htm Last edited by DjDoan; 09-05-2007 at 04:55 PM. |
| ||||
|
Sau đây là bảng danh sách đối chiếu các tên riêng của Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước được nhắc lại trong kinh Koran theo phiên âm Arabic. Các tên riêng này được xếp theo nhóm gia đ́nh (chứ không theo thứ tự Alphabet) NHÓM Phiên âm ARABIC Phiên âm ANH NGỮ Phiên âm VIỆT NGỮ Thiên Chúa ALLAH Jehovah Elohim/God Thiên Chúa Tổ tông loài người ADAM ADAM Ông A-dong HAWAA EVE bà E-và Gia đ́nh Abraham AZAR TERAH Cha của Abraham IBRAHIM ABRAHAM Ông Áp-ra-ham SARA SARAH Vợ của Áp-ra-ham ISHAAQ ISAAC Con trai của Abraham và bà Sarah, tổ tiên Do Thái AGAR HAJAR Vợ bé, đầy tớ của Abraham ISMAHIL ISMAEL Con của Abraham và Agar, tổ tiên các giống dân Ả Rập (Ismael là vai anh của Isaac) Gia Đ́nh Jesus ISA JESUS Chúa Giê-xu MYRIAM MARY Đức bà Maria Yusuf Joseph Thánh Giuse Zakariya Zakariah Thánh Gio-a-Kim, cha của Gioan Baotixita Yahya John Baptist Thánh Gioan Baotixita (cậu họ của Giê-xu) Các tiên tri Do Thái cũng là các thiên sứ trong đạo Hồi: Al-Yasa Elisha Tiên tri Ê-li-sa Dawood David Vua Thánh Đavít Dhulkiit Ezekiel Haroon Aaron Anh của Mai-sen Musa Moses Thánh Mai-sen Idriis Enoch Luut Lot Ông Lot (cháu gọi Abraham bằng bác ruột) Nuh NOAH Ông No-e Sulayman Solomon Vua Slomon (con David) Yaquub Jacob Cha của 12 con trai, tổ tiên 12 bộ lạc Do Thái Yunus Jonah Ayyoub Job Thánh Kinh Tawrah Torah/Old Kinh Thánh của đạoDo Thái Taurat Testament tức Cựu Ước của đạo Ki Tô Injil Gospel/New Phúc âm/Thánh Kinh Tân Ước Al-injil Testament Qur'an Koran Thánh Kinh Hồi Giáo Thiên thần, ma quỉ Jibril Jibreel Gabriel Thiên thần truyền tin Meekaeel Micheal Tổng lănh thiên thần Mi-ca-e Buraq Buraq Con ngựa đầu người có cánh đưa Mohammad về trời tại Jerusalem Shaitan / Iblis Satan Quỉ Sa tăng Ngoài ra, xin chú ư đến một số chi tiết sau đây: 1. Một số đại danh từ trong các sách Thánh Kinh thường được viết theo cổ ngữ của tiếng Anh. Thí dụ: You được viết thành Thou Your được viết thành Thy... 2. Các quá khứ phân từ, thay v́ viết là ED lại được viết thành TH. Thí dụ - He opened He openeth - He called He calleth - You will Thou shalt - You have Thou hast 3. Các kinh Koran Anh ngữ thường đánh số các chương (sura/chapter) bằng số La Mă ở góc trái trên đầu trang sách. Thí dụ: Sura XXXVII: chương 37, Sura CVIII chương 108, LXXIX: chương 79 v.v... Khi tra cứu một câu trong kinh Koran, thí dụ: "Muhammad is not the father of any of your men but he is the Apostle of Allah and the last of the prophets. Koran 33:40". Xin nhớ số ghi trước là số chương (sura/chapter) số ghi sau là câu thơ (verse). Vậy trước hết xin hăy t́m chương 33 sau đó t́m câu thơ số 40 trong chương này, quí vị sẽ gặp đúng câu thơ được trích dẫn. Khi đọc các sách về đạo Hồi, chúng ta thường gặp những câu trích dẫn từ kinh Koran, nếu có sẵn một cuốn Koran trong tay để kiểm chứng tính chính xác của sự trích dẫn và sự trung thực của người dịch, thiết tưởng cũng là một điều thích thú. Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn lời giới thiệu của nhà xuất bản Tahrike Tarsile Qur'. Ind. New York nói về kinh Koran: "Kinh Koran có khả năng đem lại cho những người ngoại giáo những điều bổ ích và mang lại tất cả mọi thứ cho các tín đồ Hồi Giáo". (The Qur'an offers at least something to non-believers and everything to believers). Source: http://home.earthlink.net/~charlieng...kinh_koran.htm |