| ||||
|
CON NGƯỜI CÓ ĐẠO Lăo Tử và Trang Tử, một người theo Lăo Giáo nổi tiếng sau này (vào khoảng 350-275 trước Công Nguyên), đă miễn cưỡng tuyên bố, Chánh Đạo không phải là Đạo có thể bày tỏ bằng lời. Không thể miêu tả con người của Đạo theo nghĩa đen. Tuy nhiên người ta thúc giục hai vị này định rơ nghĩa. Và Lăo Tử đă vẽ một bức tranh bàng lời: Đó là người thận trọng, giống như người vượt sông vào mùa đông; Đó là người do dự, giống như người sợ hăi người láng giềng; Đó là người nhũn nhặn, giống như người khách; Đó là người mềm mỏng, giống như băng tuyết sắp sửa chảy. Người theo Lăo Giáo cảm thấy rằng miêu tả như vậy của người đĩnh đạc và thanh thản như vậy là rất đúng, không phải v́ Lăo Tử hay người nào đó đă nói như vậy -- mà là v́ chúng phản ảnh bản chất của sự vật, Đạo. Một hôm Trang Tử đang câu cá th́ một vài viên quan to ở tỉnh Ngài đến thăm Ngài. Trong khi Ngài tiếp tục câu cá, họ tâng bốc Ngài về sự thông thái của Ngài và đề nghi Ngài một chức quan cao trong chính phủ, chức vụ này sẽ làm cho nhiều người thừa nhận và tôn kính Ngài. Vẫn tiếp tục câu cá Trang Tử hỏi các vị có biết con rùa thần đă chết trên ba ngh́n năm mà hoàng tử giữ nó chắc chắn trong một cái ḥm trên bàn thờ của tổ tiên. Rồi Ngài hỏi tiếp, "Quư vị có nghĩ rằng con rùa ấy thích chết và để cái xác c̣n lại của nó được tôn sùng hay thích sống và ve vẩy cái đuôi trong ao bùn lầy?" Họ trả lời, "Thích sống và ve vẩy cái đuôi trong ao bùn lầy." Trang Tử nói, "Quư vị đi theo con đường của Quư vị, c̣n tôi, tôi cũng thích ve vẩy cái đuôi trong bùn lầy ở cái ao của tôi" CÁI G̀ ĐÁNG GIÁ? BA KHO BÁU Vậy th́ cái ǵ là có giá trị? Và v́ cái ǵ người ta nên nỗ lực? Một người không thể chỉ ngồi khoanh tay và chờ đợi. V́ khi sống trong một nhóm người, ta phải nghĩ đến người khác. Những người theo Lăo Giáo lúc đầu đă phải đương đầu với khó khăn đời sống hàng ngày. Họ biết họ phải sống theo triết lư của họ, cũng như phải suy nghĩ về triết lư này. Họ quyết định có ba thứ -- ba kho báu, họ gọi như vậy- đó là hướng dẫn tối thượng của con người đối với Đạo. Ba kho báu này là yêu thương, trung dung và khiêm nhường. Làm sao ba đức tính này giúp người có Đạo sống trong thế giới này? "Hăy thương yêu, ta có can đảm này; hăy trung dung ta có dư dật; không phiêu lưu đi trước thế giới ta là người đứng đầu các quan". Người thấy Đạo trong chính ḿnh, sẽ thấy Đạo nơi người khác và trong tất cả thế giới. Chính người này thấy phúc lợi thực sự của chính ḿnh tốt đẹp cho tất cả mọi người. Điều thiện cho tất cả mọi người cũng là điều thiện cho chính ḿnh. Đó là điều mà Lăo Tử muốn nói về hăy thương yêu. Người có Đạo sẽ hành động bằng thiện tính đối với tất cả con người, đối với những người được gọi là tốt cũng như đối với những người được gọi là xấu, thậm chí đem t́nh thương đối với hận thù to lớn. Nếu không làm được điều này th́ dù ta có xả trí hận thù đứng đắn th́ một số hận thù hay kết quả của nó vẫn tồn tại. "Hăy thương yêu, ta sẽ trở nên can đảm." Con người có Đạo tin thế giới, và thế giới có thể được giao phó cho người ấy. Trong tất cả tư tưởng và hành động, con người có Đạo phải rất điều độ. Thái quá về bất cứ hướng nào cũng là những chướng ngại cho sự vừa ḷng. Người có Đạo không quyết định trước sẽ đi theo đường lối hành động nào trong những hoàn cảnh nhất định. Người có Đạo cũng không quyết định trước là sẽ không tự ḿnh hành xử theo một đường lối nào đó. Người có Đạo bao giờ cũng nhớ rằng bất cứ cái ǵ nảy sinh ra khi nó là cách hành động hoặc suy nghĩ đơn giản nhất và tự nhiên nhất th́ đó là đường lối phải theo. Theo chiều hướng đó, những hành động của người có Đạo bao giờ cũng đầy đủ và bao giờ cũng đúng. "Hăy điều độ, ta sẽ dư dật". Lăo Tử và các đệ tử của Ngài không bao giờ t́m địa vị cao trong cơ quan chính phủ, v́ làm điều này trái ngược với niềm tin của họ. Ta không thể giúp người bằng cách cố gắng chỉ huy những hành động của họ. Và họ chỉ vạch ra cách ta có thể đạt được mục tiêu tốt hơn bằng cách tự ḿnh giữ ḿnh ở một địa vị tầm thường. Trong thế giới của chúng ta không có chỗ cho một số người vượt xa người khác. Chỉ có chỗ cho tất cả sống một cách tự nhiên và tương trợ lẫn nhau. Không để cho ai t́m kiếm lợi ích riêng tư hay thắng lợi cá nhân. Thiên đường bất diệt, trái đất trường cửu. Làm sao chúng lại như vậy? đó là v́ chúng không nuôi nấng đời sống của chính chúng; Đó là lư do tại sao chúng sống lâu. Cho nên người Hiền tự đặt ḿnh vào địa vị tầm thường; nhưng bao giờ cũng ở hàng đầu, Ở ngoài thời cuộc; nhưng luôn ở đấy. Không phải chỉ v́ người Hiền không tranh đấu cho bất cứ cứu cánh riêng tư nào. Mà là tất cả cứu cánh cá nhân có được hoàn thành không? Những đặc tính này là những kho báu không bị chôn vùi ở một nơi nào sâu đến mức cần có thầy hoặc bạn hay triết gia đào lên cho chúng ta. Những kho báu này được t́m thấy khi chúng ta trở nên tỉnh thức về những điều này mà chúng ta thường không lưu tâm đến trong bản chất sâu xa của chúng ta. Chỉ cần bóc đi những lớp sợ hăi và thói quen và những khát vọng nông cạn, chúng ta sẽ t́m thấy những kho báu ấy. Thiếu những đức tính ấy cho chúng ta thấy một người bị ép buộc, không thiên nhiên và không hạnh phúc. TÔI PHẢI LÀM G̀? Bổn phận phải thi hành, không phải v́ người ta cảm thấy có bổn phận phải thi hành, mà nhiều hơn là v́ không cảm thấy phải thi hành. Người có Đạo tuân theo việc đời tới mức cần đ̣i hỏi nhằm làm cho ḿnh ít bị khó khăn nhất trong cách sống ḥa hợp với Đạo. Rơ ràng là người ấy không thể sống ḥa hợp nếu lúc nào cũng mưu toan tránh trách nhiệm và lật đổ chính quyền và thể chế. Cũng rất rơ ràng là người ấy không sống ḥa hợp nếu luôn luôn trù tính giành lấy phần lớn trách nhiệm và cải cách hay củng cố những thứ chung quanh ḿnh. Thế giới giống như nước xuưt lắm thầy nhiều ma. Người khôn ngoan từ chối không thêm gia vị vào hay khuấy nó lên. Người ấy thích đợi loại kết hợp thích ứng và tự nhiên. Nhưng làm sao chúng ta có thể chỉ ngồi đợi để sự việc xẩy ra mà không hành động ǵ để giúp đỡ hay cản trở? Rất khó để làm nhưng cũng đơn giản thôi. Nó cũng đơn giản và khó khăn như bải hoải. Trang Tử đưa ra lời khuyên: Người ta cảm thấy một cảm giác vui thích trước khi mỉm cười, và mỉm cười trước khi nghĩ đến cách nên mỉm cười. Hăy cam chịu chuỗi sự việc đúng. Thế giới này không phải của chúng ta để mà liều. Thế giới này là của bạn để sống và hiểu biết. Một ḥa âm không sinh ra những nốt nhạc ngang tai, vang lên một ḿnh. Nó sinh ra bằng những nốt nhạc nhũn nhặn, mềm dẻo ḥa hợp một cách tự tin và thanh thản. Trang Tử có lần nói một câu chuyện về một người bắt đầu cuộc sống độc lập chứ không sinh ra niềm tin vào Đạo. Anh ta quá sợ hăi cái bóng của ḿnh và không thích tiếng bước chân ḿnh đến nỗi quyết định bỏ trốn chúng. Tuy nhiên, anh ta càng di chuyển th́ lại càng nhiều tiếng bước chân. Và mặc dù chạy thật nhanh, anh ta không bao giờ có thể bỏ xa bóng của ḿnh. Cho nên anh ấy nghĩ ḿnh chạy quá chậm. Anh ta chạy hết sức nhanh và không nghỉ. Kết quả anh ta yếu đi và cuối cùng th́ chết. Anh ta không biết rằng có thể làm mất bóng ḿnh trong bóng râm và chấm dứt tiếng bước chân bằng cách đứng nguyên một chỗ. Quả thực anh ta khờ dại. Trang Tử nói, "Bất hạnh cho những nhà cải cách và luân lư đi thuyết giảng về sự trong sạch và ḷng tốt là họ chạy trốn cái bóng của chính họ". |
| ||||
|
CÁI G̀ ĐÚNG? CÁI G̀ THẬT? Những người theo Lăo Giáo nói rằng, khi ta thực sự ngưng không phân tích nó, làm sao ta có thể đ̣i đưa ra phép tắc về cách sống tốt? Làm sao ta có thể cảm thấy đủ tin tưởng vào kiến thức của riêng ḿnh để làm một việc như vậy? Người tự phụ làm ra vẻ biết nhiều chắc chắn chỉ là v́ cái tôi của ḿnh. Người thật sự khôn ngoan là người không biết ḿnh khôn ngoan. Suy nghĩ mà chúng ta biết, khi thực sự chúng ta không biết, là chứng bệnh đặc biệt mà mọi con người đều mắc phải. Chỉ khi chúng ta trở nên chán ngán tính kiêu ngạo và gian dối như vậy, chúng ta mới có thể chữa cho ḿnh khỏi bệnh. Mong mỏi giúp người làm việc này, Trang Tử thường sử dụng một chi tiết hài hước dễ hiểu. Ngài kể một câu chuyện một lần Ngài mơ như thế nào khi là một con bướm bay lượn vui chơi đó đây. Ngài không c̣n ư thức ḿnh là con người nữa. Rồi đột nhiên tỉnh dạy và thấy ḿnh nằm dài trên giường, vẫn là một con người. Tuy nhiên rồi Trang Tử tự hỏi ḿnh, "phải chăng tôi là con nguời mơ thành bướm hay bây giờ tôi là con bướm mơ thành con người?" Cái ǵ đúng? Làm sao tôi biết được đó là điều tôi biết? Đó là những câu hỏi không thể trả lời dứt khoát được bởi người thực sự khôn ngoan, dù rằng có nhiều nhà hiền triết tự cho ḿnh là khôn ngoan đă đưa ra câu trả lời. Tất cả câu trả lời tùy thuộc vào thời gian, nơi chốn và hoàn cảnh. Người có Đạo không màng tới bản liệt kê câu hỏi; không lưu ư đến qui tắc hành xử; vượt lên luân lư và đạo đức. Người có Đạo không phục tùng quyền uy bên ngoài thuộc bất cứ loại ǵ. Họ chỉ nghe theo bản chất thiên nhiên sâu xa của chính ḿnh. Làm như vậy họ không những t́m ra chân lư mà c̣n sống đúng chân lư. V́ trong bản tính sâu xa nhất của ḿnh, Đạo đang hoạt động rơ ràng và mạnh mẽ. Không đi khỏi cửa mà người có Đạo vẫn có thể biết toàn bộ thế giới. Những người tiền phong của Lăo Giáo đă nói những lời như vậy, họ không thích nói chút nào. Họ biết những ấn tượng về cuộc đời của họ không thể truyền đạt bằng lời. Những ấn tượng của họ chỉ có thể hiểu thấu hoàn toàn bởi những ai chia sẻ những ấn tượng ấy bằng kinh nghiệm của chính họ. Mỗi người chúng ta có lúc thất bại khi định đưa những cảm nghĩ sâu xa nhất hay trực giác của ḿnh thành lời. Vào những lúc như vậy, chúng ta có thể diễn tả bằng thi văn, bằng âm nhạc, hay một dạng thức nghệ thuật khác. Đó cũng đúng như vậy đối với người theo Lăo Giáo. Nếu chúng ta muốn hiểu họ, chúng ta phải nhận thức là chúng ta đang đề cập đến thi văn về những ấn tượng. Những lời nói không có nghĩa được hiểu theo nghĩa đen, v́ lời nói không thể chuyển tải những cảm tưởng một cách đầy đủ. Nhưng những lời của Lăo Giáo có nghĩa phải được hiểu một cách nghiêm túc. LĂO GIÁO, SỰ SÙNG BÁI ĐẠO LƯ Sự miễn cưỡng dùng lời làm phương tiện cho cảm nghĩ của họ không phải không đúng chỗ. Hầu như lời nói được thốt ra hay những tín hiệu được vẽ trên giấy, khi nhược điểm của lời bộc lộ ư tứ của người nói và người viết. Người ta hiểu lời theo nghĩa đen, đi theo chúng đến từng chi tiết, giống những qui tắc mà những người Lăo Giáo lúc phôi thai chế nhạo như thế. Bám níu vào những miêu tả về người có Đạo, người ta quên mất sự ḥa hợp bên trong đă được mô tả lúc đầu. Nhớ "ba kho báu", người ta quên việc t́m chúng bị vùi lấp trong chính ḿnh. Cố gắng theo Lăo Tử và Trang Tử, người ta quên con đường để hiểu Đạo. Điều này không đáng ngạc nhiên chút nào. Người ở thời thời Lăo Tử chưa bao giờ thực sự bỏ tính dị đoan do sự bầy tỏ của Ngài hay của bất cứ đạo sư nào. Sự đ̣i hỏi của họ đầy những lo âu hàng ngày về công việc, bè bạn và gia đ́nh. Thật dễ chịu và yên ḷng khi xoa dịu những linh hồn lúc nào cũng hiện diện ở mọi nơi xung quanh họ. Những người này không có th́ giờ, giáo dục, hay ham thích suy nghĩ t́m ṭi về đời sống. Hầu hết mọi người, mọi nơi, và ở mọi thời đại, sống một cuộc đời không nghĩ sâu xa về cuộc đời. Tuy vậy, hầu hết mọi người đều kính trọng những người suy nghĩ sâu xa, và đặc biệt là một ít những nhà tư tưởng nổi tiếng mà những lư tưởng của những người này hấp dẫn họ như một phần quan trọng của những ǵ phổ biến là đúng. Thường thường, v́ ḷng tôn trọng, họ đâm ra tôn kính và rồi, hầu như không cảm thấy, sùng bái. V́ vậy người ta sùng bái Lăo Tử. Những thế hệ sau này coi Ngài như thánh. Họ quên mất là hạnh phúc mà Lăo tử nói phải đạt được bằng quá tŕnh mà Ngài đi theo -- phù hợp với chiều hướng của mọi sự -- Đạo. Dường như họ nghĩ có con đường tắt đi đến sự toại nguyện mà Lăo Tử đă trải nghiệm. Dần dà qua nhiều năm, tự biết ḿnh và kiến thức đời sống đă là những mục tiêu của Lăo Giáo bị bỏ lại đằng sau. Chưa bao giờ người theo Lăo Giáo phát triển mạnh mối quan tâm chính của họ nằm trong sự xua đuổi lo âu và phiền muộn. Đúng, những người theo Lăo Giáo lúc phôi thai cũng đă muốn điều này, nhưng là sản phẩm phụ của sự ḥa hợp với bản chất của sự vật. Bây giờ người theo Lăo Giáo mong muốn biến hạnh phúc thành một việc dễ dàng hơn. Và họ bắt đầu đưa ra linh đơn, tiên dược và nghi thức ma thuật nhằm giúp đạt được việc đó. Lăo Giáo trở thành sự t́m ṭi linh đan thần diệu, phương thuốc chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, và kéo dài đời sống thảnh thơi. Những người theo Lăo Giáo lúc phôi thai trước hết rút khỏi cuộc sống giả tạo và không thiên nhiên nhằm hiểu biết thực tế. Những thế kỷ sau này nối tiếp bởi những người theo Lăo Giáo ẩn dật trước thực tế nhằm đi theo những tập tục dị đoan mà họ hy vọng sẽ thoát khỏi được bất hạnh. Những người Lăo Giáo lúc phôi thai tán dương kiến thức và sự hiểu biết về Đạo, t́m cách ḥa hợp với tính chất của mọi sự. Những người theo Lăo Giáo sau này cố gắng can thiệp vào tiến tŕnh thiên nhiên để đạt bất tử và thoát khỏi lo lắng. Những người theo Lăo Giáo khác, thất vọng về đời sống này trở thành người sống ẩn dật, sống chờ chết, theo điều mà họ tin rằng sự giải thích đúng giáo lư của Lăo Tử là "không làm ǵ cả". Những người này chỉ có một số ít, số đông quần chúng bám vào ư nghĩa b́nh dân hơn của Lăo Giáo -- dị đoan và ma thuật. Những người theo Lăo Giáo chấp nhận Đạo của họ là nguồn vui mà lúc này họ tin và là niềm hy vọng cho họ trong tương lai sau khi chết. Lăo Tử dạy rằng con người không nên lo lắng hay phục vụ quỷ thần mà nhiều người tưởng rằng quỷ thần là tất cả. Thay v́, con người nên nghiên cứu để biết các chiều hướng của vạn vật. Không có ǵ có thể mang lại từ sự thờ phượng ngu tối và hăi hùng những quỷ thần như vậy. Người có Đạo không bị khó khăn ǵ bởi những quỷ thần tốt hay xấu. Những người làm ma thuật cố gắng bắt thiên nhiên làm theo ư muốn của ḿnh. Và sức mạnh không bao giờ thành công. Thiên nhiên sẽ dạy cho họ điều này. Nh́n vào cách sống hiện tại, chắc chắn Lăo Tử rất đau buồn là điều đó đă đi đến chấm dứt những ǵ mà Ngài đă dạy. Ngài có thể có đầy cảm giác vô ích, điều có thể xẩy đến với bất cứ người đề xướng nào nh́n vào những ǵ đă phát triển do công lao của ḿnh. Đạo, với tư cách là người khai sáng, đầy những thứ mà Ngài coi là ít đáng làm. Tân Lăo Giáo không thể tồn tại như một tôn giáo có hiệu quả, cho dù cựu Lăo Giáo cổ xưa đă không tồn tại lâu dài. Dần dần, những người bị lôi cuốn vào tư tưởng Lăo Giáo trở nên chán nản. Những người đi t́m sự tốt đẹp của xă hội loài người quay về với Đạo Khổng đưa ra sự giúp đỡ trực tiếp và thực tiễn trong vấn đề đó. Những người thích mặt thiền định của Lăo Giáo, bắt đầu nghiên cứu Phật Giáo. Và Lăo Giáo cổ điển được dạy bởi Lăo Tử, thực tế đă ngừng tồn tại Tôn Giáo của một người Trung Hoa b́nh thường ngày nay là một sự pha trộn nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau. Vai Tṛ của Lăo Giáo trong sự pha trộn này đă là một khía cạnh vô tư và vui vẻ trong đời sống dân tộc. Hầu hết những ngày lễ tôn giáo, với những buổi lễ vui tươi bắt nguồn từ Lăo Giáo ở quá khứ. Những buổi lễ này gồm có những cuộc lễ về sinh nhật đầy ư nghĩa -- nhất là sinh nhật của các bé trai -- hôn lễ, sự ra đời của đứa trẻ, và về một số mùa màng trong năm. Bây giờ có một nhóm thầy tu được huấn luyện để điều hành những người tự gọi ḿnh là người theo Lăo Giáo. Đạo Lăo của Lăo Tử và Trang Tử sống hầu như dựa vào những thứ mà nó tiến dẫn cho những tôn giáo khác mạnh hơn và tồn tại lâu hơn. Khổng Giáo gộp niềm tin Lăo Giáo vào ḷng tốt căn bản của con người. Phật Giáo tại Trung Hoa vốn đă nhấn mạnh tầm quan trọng về hiểu biết nội tâm, được củng cố thêm và thay đổi một chút theo tôn giáo địa phương. Với tư cách là một triết lư tôn giáo, Lăo Giáo đă phai, nhưng nó đă gửi đi nhiều sự hiểu biết rằng đời sống nội tâm của ḿnh là đời sống quan trọng. |
| ||||
| Khổng Giáo
KHỔNG GIÁO: LỐI SỐNG H̉A HỢP VÀ KHUÔN PHÉP Huyền thoại kể rằng khi Lăo Tử đă rất già th́ có một thanh niên học rộng ở tỉnh lân cận đến thăm. Người thanh niên trẻ này, đă bỏ hầu hết ngày tháng của ḿnh vào việc nghiên cứu, đến để hỏi một số câu hỏi. Giống như Lăo Tử, người thanh niên này quan tâm đến phẩm chất đời sống tại Trung Hoa. Anh ta cũng tin rằng lùi lại "những ngày xưa cũ tốt đẹp" của thời đại vàng son mà người ta đă có đời sống tốt đẹp hơn và xứ sở này nói chung sung túc hơn. Người thanh niên trẻ tuổi này là Khổng Tử, và Ngài đă tiến tới niềm tin này qua con đường nghiên cứu và t́m ṭi những tài liệu cổ của Trung Hoa. Khi Ngài thu thập và giải thích những tác phẩm kinh điển, Ngài đă t́m ra điều được coi là manh mối của đời sống hạnh phúc hơn ở những ngày ban sơ. Để thực sự hiểu triết lư Khổng Tử, chúng ta vẫn phải quay về với những b́nh luận của Ngài về những tác phẩm kinh điển này. Những sách văn tuyển, các câu chuyện về Khổng Tử và những lời b́nh luận của Ngài về t́nh trạng đời sống cũng nói về những đề xuất v́ lợi ích cho người đồng hương của Ngài. Cả Lăo Tử lẫn Khổng Tử đều quan tâm đến những yếu điểm xă hội và luân lư của thế hệ các Ngài. Lăo Tử vấp phải sự thách thức của lối sống có quan điểm căn bản là những thể chế và phong tục vào thời Ngài không thiên nhiên, do đó cần phải tránh... Khổng Tử, một người bảo thủ thực sự, dạy rằng điều tốt nhất trong quá khứ phải được ǵn giữ và cải tiến cho thích đáng. Trong quá khứ có ch́a khóa cho hiện tại và tương lai. Ngài không t́m cách thiết lập một tôn giáo mới hay một hệ thống đạo đức mới. Khổng Tử cũng đối đầu với câu hỏi căn bản mà Lăo Tử quan tâm. "Đời sống là ǵ? Làm sao tôi có thể sống ḥa hợp tốt nhất trong thế giới này? Làm sao tôi có thể sống một cuộc đời hạnh phúc? Tôi là ǵ?" Một phần câu trả lời Khổng Tử quay về với thiên nhiên và Đạo cũng như Lăo Tử đă làm. Ngài quan sát thấy tất cả các bộ phận của thiên nhiên hoạt động ḥa hợp với nhau. Ngài khẳng định con người có thể học từ thiên nhiên. Bằng cách theo con đường của thiên nhiên và sự ḥa hợp, con người có thể làm điều tốt nhất mà con người có thể làm được trong thế giới này. Ḥa hợp là lư tưởng của Khổng Tử, cũng là lư tưởng của Lăo Tử. Khác biệt giữa hai người ở chỗ nào? Trước hết là cá tính của hai người khác hẳn nhau. Trong những vấn đề mà hai vị phải đối đầu, tính khác nhau về quan điểm quyết định sự khác biệt trong cách giải quyết mà họ đưa ra. Trong khi Lăo Tử có khuynh hướng là "cá nhân chủ nghĩa", th́ Khổng Tử tin rằng toàn bộ trách nhiệm của con người là xă hội. Con người không phải là người sống tách khỏi đồng loại. Cho nên ḥa hợp đối với con người có nghĩa ḥa hợp với những người khác. Lăo Tử tin tưởng rằng trách nhiệm của con người là phải hiểu ḿnh và phải trực tiếp hướng ḿnh vào ḥa hợp với Đạo. Nhưng Đức Khổng Tử tin rằng trách nhiệm của con người là cùng cộng tác với nhau và thi hành nhiệm vụ mà xă hội kỳ vọng ở nơi họ. Dĩ nhiên sự cộng tác như thế bám chắc vào Đạo, nhưng tŕnh độ kinh nghiệm của con người lại là phương tiện qua đó con người bầy tỏ họ thống thuộc về vũ trụ. Khi người ta phát triển được khả năng ḥa hợp với những người đồng loại, th́ họ có thể hiểu được sự ḥa hợp của vạn vật. CẦN PHẢI CÓ LUẬT LỆ CHO CUỘC SỐNG Khổng Tử thấy không phải tất cả mọi người đềụ cư xử một cách cộng tác và giúp đỡ lẫn nhau. Điều này, đối với tâm trí thực tiễn của Khổng Tử, có nghĩa đơn giản là họ cần một số tiêu chuẩn nhất định. Trong những tác phẩm của Ngài, Khổng Tử nhấn mạnh đến những tiêu chuẩn như vậy, Ngài nhắc lại, và giải thích những luật lệ truyền thống cổ của xă hội Trung Hoa. Ngài thấy không cần thêm những luật lệ mới. Nhiệm vụ của Ngài như Ngài đă dự tính là soạn thảo và truyền đạt cho hậu thế những tập tục và cách cư xử trước đây của xă hội Trung Hoa. Ngài không viết điều ǵ mới, v́ Ngài tin tưởng và trân quư tổ tiên. Tại sao những luật lệ đó lại cần thiết? Lúc đầu tất cả mọi luật lệ đều nảy sinh do nhu cầu của con người. Đây là chiều hướng mà tất cả những luật pháp có ích ra đời. Có những vấn đề khi cùng chung sống, và những luật lệ được soạn ra để giải quyết vấn đề. Ở đâu, có nhiều người chung sống với nhau th́ ở đó có nhiều vấn đề hơn những nơi ít người. Chính quyền của một thành phố lớn phức tạp hơn chính quyền của một ngôi làng nhỏ nhiều. Trung Hoa đă có rất nhiều người. Nhờ có Khổng Tử Trung Hoa đă thu thập nhiều luật lệ. Tất cả những luật lệ này nhằm làm cuộc sống suông sẻ hơn. Những luật lệ này không bị ép buộc như luật lệ giao thông. Những luật lệ này giống phép xă giao hơn. Luật lệ có nhiều ư nghĩa hơn khi nó rơ ràng rành mạch. Người thích sống trong một xă hội có trật tự cảm thấy thoải mái hơn khi luật lệ xă hội có nội quy rơ ràng và khi chúng định rơ thời gian và nơi chốn. Cứ thế, qua nhiều năm, những người theo Khổng Giáo coi trọng nhiều bản liệt kê luật lệ đặc biệt bao hàm mọi thứ từ chào hỏi và tṛ chuyện với bạn bè tới lễ lạy tổ tiên. Y phục và đàm luận được qui định. Cả đến tư thế và bước đi cũng được liệt kê, cho nên không ai cố gắng thành thật mà lại có thể không làm được điều phải. Đi theo những luật lệ này chứng tỏ ham thích thực sự cộng tác với người đồng hương của ḿnh. CÁCH SỐNG H̉A HỢP VỚI NGƯỜI KHÁC: QUÂN TỬ Để cho người dân biết họ phải sống ra sao, Khổng Tử đưa ra mô h́nh "Người Quân Tử" hay một người cao quư hoặc sang trọng. Khổng Tử gọi người đó là "sang trọng" hay quân tử v́ Ngài có niềm tin là coi những nhà cầm quyền là bậc thầy. Tuy nhiên, bất cứ ai vào bất cứ lúc nào cũng có thể sống như một người Quân Tử. Người Quân Tử phát triển trong nhân cách của ḿnh. Năm Đức Hạnh Kiên Định (Ngũ Thường) mà người ấy rèn tập cho đến khi chúng tự nhiên như hơi thở. Làm điều phải là một phần không thể tách rời của người quân tử. Khi Khổng Tử nói về chính Ngài rằng chẳng phải cho đến khi Ngài bẩy mươi tuổi Ngài mới đi theo tiếng gọi con tim mà vẫn không vượt qua ranh giới của lẽ phải, có lẽ Ngài quá khiêm tốn hay rất nhún nhường. Tuy nhiên, người theo đạo Khổng chân chính dành th́ giờ cần thiết tạo nếp sống theo lẽ phải thành thói quen đến mức không ngưng nghỉ nghĩ đến việc làm điều phải. (1) Thái đô chính đáng (Nhân). Đức hạnh thứ nhất trong Năm Đức Hạnh Kiên Định là thái độ người Quân Tử mong muốn ḥa thuận với người khác. Người Quân Tử biết không thể làm tṛn vai tṛ của ḿnh trong đời sống trừ phi cộng tác và sẵn ḷng giúp đỡ. Thái độ chính đáng biểu lộ qua hạnh kiểm. Con người có mầm mống thái độ như vậy ngay trong bản thân ḿnh, nhưng nó phải được giúp phát triển. Đôi khi thái độ đức hạnh này được coi là phép tự chủ bên trong. (2) Thủ Tục Chính Đáng (Lễ). Đức Hạnh Kiên Định thứ hai là thủ tục thích đáng. Người có một tâm hồn cao thượng đă tiến hành nghiên cứu về nguyên tắc hạnh kiểm. Người ấy biết cách áp dụng chúng vào từng sự việc xẩy đến. Người ấy biết tất cả phép tắc xă giao, những phép tắc này đưa ra cái mà mỗi hoàn cảnh xă hội qui định cho một người có ḷng nhân ái đầy đủ. Người ấy biết tất cả những nghi lễ và nghi thức tập trung vào việc tôn thờ tổ tiên. Người ấy biết cách ngồi, cách đứng, cách nói chuyện, cách đi và cách biểu lộ diện mạo sắc thái của ḿnh trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, những nghi thức và thủ tục này không giá trị nếu không có một thái độ thích đáng. "Người không có ḷng nhân ái trong tâm, th́ làm ǵ với những nghi lễ?" (3) Kiến Thức Chính Đáng (Trí). Đức Hạnh Kiên Định thứ ba là kiến thức. Người Quân Tử là một người hiểu biết, v́ con người phải được giáo dục nhằm ứng phó một cách đứng đắn. Mục tiêu của người theo Khổng Giáo là phát triển dần dần những phép tắc đă thuộc ḷng thành thói quen. Những đề tài dạy người ta sửa chữa thói quen tinh thần là lịch sử, văn chương, và bổn phận công dân, đó là những cái h́nh thành những tác phẩm kinh điển Trung Hoa. Người Quân Tử đặt kế hoach giáo dục của ḿnh gồm tất cả những thiết yếu như vậy. Qua nhiều thế kỷ, những tác phẩm kinh điển Trung Hoa là nền tảng giáo dục tại Trung Hoa. Thời đại tiên tiến đă thay vào những đề tài khác, nhưng người theo Khổng giáo vẫn dành cho các tác phẩm Cổ Điển một sự kính trọng. Khi Khổng Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, Ngài không đề xuất khái niệm mới. Ngài chỉ nhắc lại và nhấn mạnh vào điều tổ tiên đă nói. Trật tự xă hội tùy thuộc vào luân lư căn bản -- luân lư trong lời nói và hành động đứng đắn. Cũng giống như người xưa, Khổng Tử tin tưởng luân lư phải được áp dụng vào mọi b́nh diện cuộc sống, đồng thời nó cũng rất có ư nghĩa trên b́nh diện chính quyền. V́ người cầm quyền là thầy của tất cả. Những vị thầy này dạy luân lư một cách rất hiệu quả khi họ làm tấm gương tốt về luân lư và khi họ cai trị một cách nhân từ. Chỉ qua một quá tŕnh như vậy th́ cuối cùng thời đại vàng son mới sẽ đến, khi tất cả mọi người đối với nhau trong sự ân cần tử tế và coi trọng nhau. |
| ||||
| (4) Dũng Khí Đúng Theo Luân Lư (Nghĩa). Theo Đức Hạnh Kiên Định thứ tư, người Quân Tử nên phát triển dũng khí luân lư cần thiết để trung thành với chính ḿnh và đem ḷng nhân ái tới xóm giềng. Mọi việc người Quân Tử làm bằng chí khí đó đóng góp đáng giá cho xă hội. Qua từng hành vi của người Quân Tử, mà quan hệ con người được cải tiến. (5) Kiên Tŕ Chính Đáng (Tín). Đức hạnh cuối cùng của Năm Đức Hạnh Kiên Định là tầm quan trọng về tư cách của họ -- sự kiên định. Người Quân Tử đă hoàn thành bốn đức hạnh, và sẽ kiên quyết hoàn thành. Người Quân Tử bao giờ cũng tử tế và hữu ích. Người Quân Tử lúc nào cũng biết bổn phận của ḿnh và bao giờ cũng biết cách làm bổn phận ấy. V́ người Quân Tử đă phát triển hạt giống đức hạnh trong bản tính của ḿnh, cho nên sống ḥa hợp với mọi thứ trong vũ trụ. V́ người Quân Tử có sự ḥa hợp trong chính ḿnh, cho nên là một phần của sự ḥa hợp vũ trụ. Đó là lư do tại sao người Quân Tử bao giờ cũng làm điều phải đúng lúc. L̉NG NHÂN ĐẠO HOÀN HẢO Người theo Khổng Giáo thường nói về "ḷng nhân đạo hoàn hảo". Con người có thể đạt được ḷng nhân này v́ người theo Khổng giáo tin là có cái ǵ đó trong mỗi người, ngay từ khi mới lọt ḷng. Đó là một tính thiện bẩm sinh hay tính khả ái có thể được phát triển do những cảm nghĩ giúp đỡ người khác. Chính Mạnh Tử, một người theo Khổng Giáo nổi tiếng sau này, là người nhấn mạnh tính thiện bẩm sinh của con người. Khi Mạnh Tử và Khổng Tử nói về tính thiện của con người rút cục có nghĩa là con người thích hợp để sống với người khác. Đúng là có một quá tŕnh sửa soạn lúc đầu, như chúng ta đă nh́n thấy. Cách cư xử, thói quen, kiểu suy nghĩ và những phán xét phải được cải thiện. Khi một người tự giáo dục lấy ḿnh để thành người Quân Tử, người ấy tử tế, hữu ích và có đạo đức. Hạt giống tính tốt trong chính con người ấy tạo thành các đức tính ấy. Cho nên có thể có nhiều hành động thiện mà người Trung Hoa thật hết hy vọng từng liệt kê tất cả chúng từng hành động một. Khuôn vàng thước ngọc của họ được nói lên bằng ngôn ngữ tiêu cực. Tuy nhiên, nó tràn đầy mối quan tâm v́ người khác. "Đừng làm cho người khác điều ǵ mà bạn không muốn người ta làm điều ấy cho bạn" QUAN HỆ CHÍNH ĐÁNG Một phần cố gắng làm cho cách sống chính đáng dễ dàng cho mọi người, người theo Khổng Giáo nhấn mạnh năm quan hệ cá nhân quan trọng đ̣i hỏi phải khả ái và lịch thiệp. Những điều này đă từng được dạy cho từng học sinh, nhưng hệ thống giáo dục này đă bị gián đoạn vào đầu thế kỷ này. Tuy vậy nhiều người theo Khổng Giáo vẫn nghĩ rằng nếu ai nấy đều sử dụng năm Đức Hạnh Kiên Định trong năm mối quan hệ, thời đại vàng son thực sự sẽ bắt đầu. Nếu có hạnh phúc hay ḥa hợp, mười người liên hệ trong những giao tiếp này phải sử dụng thái độ có đạo đức và đức hạnh đối với nhau: (a) Chồng và vợ (Phu thê) (b) Cha và con (Phụ tử) (c) Anh và em (Huynh đệ) (d) Vua và tôi (Quân thần) (c) Bạn và bạn (Bằng hữu) Xin lưu ư rằng cả hai phía điều mong mỏi là mối quan hệ. Mỗi phía đều chịu trách nhiệm về hành động, nói năng và suy nghĩ trên phương diện khả ái và hữu ích. Một số người có thể nói rằng điều này chưa đủ. Những người khác trên xứ sở của họ và những vùng đất khác th́ sao? Người theo Khổng Giáo giữ lư tưởng khoan dung và khả ái đối với tất cả láng giềng của ḿnh và tất cả người khác trên trái đất. Nhưng cá nhân họ không giao tiếp với tất cả người khác. Phạm vi quen biết của người ấy có giới hạn. Chính v́ lư do này mà năm quan hệ cá nhân được liệt kê. Một người hành động bằng ḷng tốt và quan tâm đến một số ít người mà người ấy tiếp xúc thường xuyên th́ tốt hơn nhiều là chỉ nói miệng về "thương yêu" tất cả con người. Người ấy không bao giờ biết tất cả mọi người. Một đời sống thiện là ở chỗ hành động thích hợp với những người mà ta gặp hàng ngày theo những kinh nghiệm hàng ngày. T̀NH THƯƠNG YÊU VÀ HIẾU THẢO TRONG GIA Đ̀NH Từ lâu trước thời điểm sách vở lịch sử bắt đầu, người Trung Hoa tin tưởng rằng bổn phận đầu tiên của một người là đối với cha mẹ. Trong những gia đ́nh lớn theo phong tục Trung Hoa, cha mẹ, ông bà, và các cụ được coi như rất khôn ngoan, rất được thương yêu và rất được tôn kính. Cái chết của họ không giảm đi ḷng kính trọng đối với các bậc ấy. Kính trọng tổ tiên là con đường trải rộng "cảm nghĩ gia đ́nh" vượt qua cái chết. Khổng Tử và những người theo Khổng Giáo đă góp phần quan trọng trong việc giữ hiếu đễ tận tụy với cha mẹ đứng hàng đầu trong lư tưởng của Trung Hoa. Trẻ em tại Trung Hoa không bao giờ được phép tự do lựa chọn và cư xử như trẻ em tại Phương Tây. Chúng được rèn luyện một cách tử tế nhưng rất kiên quyết ngay từ đầu nhằm làm cho chúng có thái độ và cách cư xử thích đáng. Không vâng lời hết sức ít có, và bất hiếu lại c̣n ít có hơn. Trẻ giữ hiếu với cha mẹ đến mức chấp nhận những quyết định của cha mẹ về chúng, kể cả việc lựa chọn chồng hay vợ. Người Trung Hoa tin rằng những vấn đề như thế cha mẹ khôn ngoan hơn con cái nhiều. Đương nhiên, tính trung thành với gia đ́nh đă thay đổi rất nhanh với những sự thay đổi khác vào thế kỷ hai mươi. Những phát triển chính trị mới đă gây ra sự đổ vỡ trong truyền thống gia đ́nh cổ và c̣n có thể gây ra những thay đổi lớn hơn. Tuy nhiên, hiếu thảo là một phần của đời sống Trung Hoa từ lâu và vẫn c̣n ảnh hưởng tại Trung Hoa. TÔN KÍNH TỔ TIÊN Khổng Tử khuyến khích tôn kính và thờ cúng tổ tiên v́ Ngài tin rằng việc ấy giúp cho con người phát triển thái độ và hạnh kiểm thích đáng. Khi một người dâng lễ vật trước linh vị người quá cố, người ấy nhớ lại nguồn gốc và t́nh thương yêu của người quá cố. Kinh nghiệm này giành được từ cảm nghĩ kính trọng và trung thành. V́ một người có hiếu vượt qua cái chết cho thấy mức tận tụy lớn hơn là chỉ kính trọng cha mẹ c̣n tại thế. Nhiều người theo Khổng Giáo dâng lễ vật và những vật bị hiến tế để tưởng niệm người chết mà không bao giờ tin rằng thần hồn người chết hiện diện. Những người theo Khổng Giáo thấy việc làm này có giá trị v́ việc làm ấy giúp họ xây dựng thói quen tốt về sự kính trọng người khác. Đồng thời việc ấy làm tăng thêm sức mạnh của xă hội. V́ hai lư do đó, Khổng Giáo bao gồm sự thờ cúng tổ tiên trong những mặt quan trọng về sự hành xử của con người. |
| ||||
|
CÁCH THỜ PHƯỢNG Khổng Tử không t́m cách thay đổi hay nói nhiều về tín ngưỡng tôn giáo và những sự tu tập ở thời gian Ngài. Đơn giản là Ngài chấp nhận chúng như thế -- ở chừng mực chúng vẫn phụng sự xă hội. Ngài không màng tới khái niệm b́nh dân tôn giáo hay tập tục những cái bỏ qua kinh nghiệm và kiến thức thông thường. Ngài không thích nói về quỷ thần mà nhiều người thờ cúng v́ mê tín dị đoan và sợ hăi. Một lần, Đức Khổng Tử nói với một môn đồ hỏi Ngài về quỷ thần, "Trong khi bạn không thể phụng sự con người, làm sao bạn có thể phụng sự được quỷ thần?" Đối vối Ngài, thật phí th́ giờ để bận tâm về điều mà bạn không biết rơ ràng. Đời sống sau khi chết là một thí dụ khác. "Trong khi bạn không biết đời sống, làm sao bạn có thể biết được về cái chết". Ta không có th́ giờ về những điều ta không thể biết, v́ ngay cả biết xóm giềng cũng cần đến một đời người. Khổng Tử không quan tâm đến khái niệm về Thượng Đế và những vấn đề khác trong thần học. Nhưng Ngài có một sự tận tụy thực sự đối với những buổi lễ tôn giáo cổ, v́ Ngài tin những cuộc lễ này giúp xây dựng thái độ và thói quen cần thiết cho một hạnh kiểm thích đáng. Tôn giáo cá nhân của Ngài giới hạn vào sự thờ phượng tổ tiên, cách sống luân lư của Năm Đức Hạnh Kiên Định, và sự công nhận tôn thờ Ngọc Hoàng trên thiên đường. Phần lớn, Khổng Tử chấp nhận tôn giáo cổ Trung Hoa là sự tôn thờ pha trộn các thần thiên nhiên và tổ tiên. Số đông người Trung Hoa thờ Trời như vị thần tối thượng hay một trong nhiều thần với sự giải thích khác nhau đối với bất cứ vị thần nào. Sự thờ phượng Ngọc Hoàng Thượng Đế đă là một sự thờ cúng hoàng gia, cai quản suốt trong lịch sử Trung Hoa của các vị hoàng đế với những nghi lễ về mùa màng. Rất ít người theo Khổng Giáo cùng với những nhà trí thức Trung Hoa khác, tham dự tích cực vào sự thờ phượng Ngọc Hoàng. Tuy nhiên họ có khuynh hướng ủng hộ những cuộc lễ của nhà Vua là có giá trị v́ chúng giúp người dân nhớ lại nguồn gốc của họ. Nhiều người hỏi: Khổng Giáo có phải là một tôn giáo không? Chính Khổng Tử cũng không cho rằng điều ngài dạy là tôn giáo. Ngài không mong chờ sự thiên khải từ Ngọc Hoàng như một sự ủy quyền về điều ngài dạy. Ngài nói với đệ tử của Ngài kính sợ Ngọc Hoàng là tốt v́ đó là một thế lực thông minh, sáng tạo chuyển vận một cách hoàn toàn tự nhiên thông qua Đạo. Trời vô tư và công bằng. Sau này những người theo Không Giáo thêm vào niềm tin này là Ngọc Hoàng là một vị thần, nhưng là một vị thần không có ảnh hưởng ǵ đến con người hay thế giới mà Ngài tạo ra. Tuy vậy, trọng tâm chính của Khổng Giáo bao giờ cũng là ḷng nhân đạo. Mạnh Tử mô tả ư muốn của Trời về những ǵ có ư nghĩa đối với con người bằng cách nói rằng hăy giữ đúng bản chất của nó là con đường của Trời. Cố gắng trung thực với bản chất của Trời cũng là con đường của con người. Khổng Tử coi ḿnh là một nhà cải cách xă hội chứ không phải là một nhà lănh đạo tôn giáo. Ngài mơ ước và làm việc cho một xă hội trong đó con người sống trong sự ḥa hợp hoàn hảo. Nếu điều Ngài dạy không phải là tôn giáo thí ít nhất cũng là sùng đạo. Khổng Tử dạy niềm tin của Ngài v́ Ngài tin là niềm tin này được hỗ trợ bởi bản chất của mọi sự. Giáo huấn của Ngài là muốn đem con người vào sự phù hợp với thực tế. ĐIA VỊ CỦA KHỔNG TỬ TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA Trong cuộc đời ḿnh, Khổng Tử là một bậc thầy được kính trọng, nhưng Ngài chỉ là một trong nhiều bậc thầy. Khi Ngài c̣n sống, tiếng tăm và sự yêu mến của nhân dân đối với Ngài không bao giờ đủ dẫn đến việc áp dụng những giáo huấn của Ngài trong chính quyền. Trái lại Ngài đă bỏ ra nhiều năm cố thuyết phục hết vị vua này đến vị vua khác áp dụng lư tưởng của Ngài, nhưng tất cả đều vô ích. Ngài có một số môn đồ trung thành tin chắc vào tính hơn hẳn về lư tưởng của Ngài, nhưng những người khác không hoàn toàn đồng ư về ư kiến này. Măi cho đến mấy trăm năm sau khi Ngài chết, giáo huấn của Đức Khổng Tử về luân lư mới bắt đầu giành được một địa vị quan trọng trong đời sống người Trung Hoa. Những tác phẩm cổ điễn Trung Hoa mà Ngài đă đầu tư quá nhiều thời gian và tư tưởng vào trở thành cơ sở cho khoa cử công chính về chức vụ chính quyền. Việc này đánh dấu thời buổi toàn bộ mẫu h́nh đời sống Trung Hoa bắt đầu là Khổng Giáo. Hơn hai ngh́n năm tư tưởng của Khổng Giáo chi phối giáo dục, chính quyền và văn hóa. Việc này chính thức bị chấm dứt ngay vào đầu thế kỷ này, nhưng con người thay đổi châm hơn thể chế. Tất cả dân chúng không đột nhiên quên những truyền thống cổ. Lư tưởng cá nhân của Khổng Tử chưa bao giờ tiến tới mức phát triển trọn vẹn, dù những lư tưởng này uốn nắn tiến tŕnh văn minh Trung Hoa. Đôi khi vua chúa và các chính trị gia dường như tỏ ra thành thật hơn trong thực tế khi họ đi theo giáo huấn về luân lư của Ngài hy vọng sự trung thành bề ngoài với Khổng Tử của họ có thể giành được ủng hộ từ người dân. Đôi khi họ truy tặng chức tước và phẩm hàm cho Ngài và cho các hậu duệ của Ngài. Ngay sau cái chết của Ngài, Khổng Tử đă được thâu nhận gia đ́nh tôn thờ thành tiên tổ. Những người khác cũng tiếp tay trong việc tôn thờ v́ tại Trung Hoa người ta kính trọng thầy như cha mẹ. Giáo huấn của Ngài bao giờ cũng làm những người hâm mộ Ngài quan tâm chứ không bao giờ bằng một hành vi phép lạ hay đặc tính siêu phàm. Khổng Tử được tôn thờ như một vị thánh, nhưng đó chỉ là sự thờ phượng của người vô học tin tưởng rằng điều quan trọng là thờ phượng cho nhiều chứ không phải thờ phượng có suy nghĩ. Có lẽ loại thờ phượng này có thể được mô tả như sự thờ phượng anh hùng đặc biệt. Nói chung, Khổng Tử là một vị thầy lớn tại Trung Hoa và tại Nhật Bản với ảnh hưởng ít hơn. Ngài đă được vinh danh cao hơn bất cứ người nào khác trong toàn bộ quốc gia lịch sử của Ngài. KHỔNG GIÁO, SỰ SÙNG BÁI TÔN GIÁO Đôi khi những cố gắng mạnh mẽ được thực thi để cũng cố Khổng Giáo thành quốc giáo, với Khổng Tử hồ như là vị cứu tinh. Những nỗ lực này bị thất bại v́ một số lư do. Thứ nhất, người Trung Hoa thường quen với tự do tôn giáo, và khái niệm chỉ có một tôn giáo quốc gia làm họ khó chịu. Thứ hai, dường như họ không muốn biến Khổng Giáo thành tôn giáo như Lăo Giáo và Phật Giáo. Có lẽ với họ đă từ lâu đó là cơ sở chính trong đời sống của họ để họ giới hạn nó vào một tôn giáo có tổ chức. Những phong trào chính trị mới tại Trung Hoa đôi khi đổ lỗi cho Khổng Giáo và Khổng Tử về nhiều điều xấu xa của xă hội Trung Hoa. Việc này một phần là do sự cố gắng làm mất uy tín những truyền thống và tín ngưỡng cổ, hầu mang lại ư tưởng mới cho chính quyền và giáo dục. Ngày nay, Khổng Tử không c̣n giữ địa vị được kính trọng như trước đây trong kư ức và lịch sử dân tộc của Ngài. ĐỜI SỐNG Đ̉I HỎI G̀ NƠI CON NGƯỜI? Dù giáo huấn của Ngài chưa bao giờ đạt được thành công mà Khổng Tử mong muốn cho họ, song một số khái niệm quan trọng của Ngài tồn tại sau cái chết của Ngài và những thế kỷ sau này. Những ư tưởng này đă trở thành một sự đóng góp đặc biệt cho Trung Hoa và quốc gia láng giềng, Nhật Bản, nơi người ta thường thấy giá trị tư tưởng và nghệ thuật Trung Hoa được vay mượn. Thực ra, đời sống và tư tưởng của nhà triết gia khả ái này đă đóng góp vào kiến thức của toàn thể thế giới. Trên hết, Khổng Giáo kêu gọi mối quan tâm mạnh mẽ về ḷng nhân đạo. Lập luận chính của người theo Khổng Giáo với cả hai Phật tử và người theo Lăo Giáo đă là họ quay lưng lại với người đồng loại để đi t́m những điều ǵ tốt nhất cho chính họ. Không bao giờ, không bao giờ nên coi bản thân quan trọng hơn xă hội. Mổi một người phải t́m thấy sự hoàn thành nhiệm vụ trong chính hành động giúp đỡ và biết người khác. Khổng giáo đ̣i hỏi những người cai trị và các nhà lănh đạo một sự giải thích đặc biệt đối với người dân họ trị v́. Lư do duy nhất mà những người cai trị tồn tại là giúp dân được tốt hơn. Nếu khái niệm này được chấp nhận một cách nghiêm chỉnh bởi những nhà lănh đạo quốc gia, nghệ thuật quản lư nhà nước, sẽ đạt được đỉnh cao mới, và đời sống của tất cả sẽ được cải thiện. Cuối cùng người theo Khổng Giáo nói, cả đến ḥa b́nh thế giới sẽ đạt được. Ai có thể nói tất cả điều tốt đẹp có thể dẫn đến kết quả nếu gia đ́nh chấp nhận trách nhiệm mà Khổng Tử trao cho họ? Khổng Giáo đặt trước gia đ́nh tầm quan trọng trong công việc gia đ́nh về giáo dục luân lư. Nó vạch ra sự gắn liền luân lư vào đời sống thật tự nhiên và tươi sáng như thế nào. "Đời sống đ̣i hỏi ǵ nơi tôi? Theo truyền thống Trung Hoa nói: Nó đ̣i hỏi thái độ và hạnh kiểm tốt. Nó đ̣i hỏi bạn chấp nhận quyền lợi của đồng loại phải được đặt trên hết trong sự quan tâm của bạn. Trong cách sống như vậy với người khác, bạn sẽ đạt được điều thiện to lớn nhất -- bạn sẽ t́m thấy một địa vị trong thế giới này. Bạn sẽ t́m thấy chính bạn. |
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
| |