| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Kinh Pháp Cú, Đức Phật cũng dạy rằng : "Không ai có thể làm cho ta trở nên trong sạch, cũng không ai làm cho ta ô nhiễm, trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta, chính ta làm cho ta ô nhiễm, và cũng chính ta làm cho ta trong sạch". Ở đây, Đức Phật không hề thừa nhận vô luận một năng lực quyền uy tối cao có thể ngự trị cuộc sống của con người; chỉ có con người là kẻ duy nhất tạo tác, gặt hái, và điều hành định mệnh của chính y. Giáo thuyết tương quan nhân - quả cũng nhấn mạnh rằng, thiện nghiệp hay ác nghiệp đều là nhân quả chín muồi của tâm lư và hành động. Trong mối tương quan nhân - quả, thông qua thiện ác con người kiến lập cho ḿnh một định mệnh. Đồng thời con người cũng có khả năng giải phóng y ra khỏi cái định mệnh thực hữu hiện tiền, mà trong một quá khứ liên tiếp y đă gieo trồng thông qua mọi hành vi, cử chỉ, tâm lư, thái độ.. của chính y. Như vậy, nhân quả ở đây, theo Phật giáo không phải là mối tương quan cơ giới, mà là một hệ thống tương quan nhân - quả sinh vật định hướng (orientated biological causation).Do vậy, giáo thuyết nhân quả, trên góc độ triết học, là một sức mạnh nội tại nhằm đánh thức con người và trả con người về với chính nó, về với trách nhiệm và bồn phận của chính chủ thể tạo tác. Như thế vô h́nh chung, giáo thuyết nhân quả đă d́u dắt con người đi ra khỏi ṿng cương tỏa của thần linh, giáo điều và thần học. Con người ư thức rằng, y buộc phải gánh chịu mọi hậu quả do tâm lư và hành động tạo tác của chính ḿnh mà không cần trông đợi bất kỳ một sự cứu rỗi nào. Thánh Phao Lồ nói rằng : "Nếu Chúa Kitô không thức dậy trong ông th́ ḷng tin của ông hóa ra hư giả, và ông vẫn đắm ch́m trong tội lỗi" (If Christ be not raised, your faith is vain, you are yet in your sins). 2- Phật giáo - một tôn giáo bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên Với thế giới tự nhiên, Phật giáo nh́n chúng qua đôi mắt Duyên sinh; với thế giới siêu nhiên, Phật giáo đi vào bản thể - thoát ly h́nh tướng, âm thanh, thoát ly các phạm trù đối lập (non - dualism). Như vừa tŕnh bày, trước hết, Phật giáo nh́n nhận sự tồn tại và hiện hữu của con người và thế giới như là sự hiện hành của tương duyên (interconnecting conditions). Trong đó không hề có bất kỳ một sinh thể nào tồn tại một cách độc lập mà không cùng tương hệ, ḥa điệu với các điều kiện cấu thành. Từ mối tương quan duyên sinh này, Đức Phật dạy rằng, không thể t́m ra một nguyên động lực nào làm chủ ṿng luân chuyển của tiến tŕnh sinh thái (ecosystem) hay cấu trúc sinh thái (ecological structure) trong sự hiện hữu của con người và thế giới. Đây là nội dung của đạo lư Duyên sinh - Vô ngă (paticcasamuppà-anatta); bao gồm cả nhân vô ngă (pudgalanairatmya) và pháp vô ngă (dharmanairatmya); hay cũng gọi là Không (Sunyata). Trên b́nh diện triết học, Tính Không là cái cứu kính của thực tại bản nguyên; tri giác về tính không nghĩa là thể nhập thực tại tối hậu. Nhưng cần ghi nhận rằng Không ở đây không mang tính đối lập giữa các phạm trù của Hữu và Vô, nó cũng không phải là sự rỗng tuếch. Để rơ ràng hơn, chúng tôi xin tŕnh bày khái lược một số "ư niệm" về Tính Không như sau : Trước viễn cảnh của thực tại (ontological), con người hằng tưởng rằng có một "trú xứ vĩnh hằng" ở một thế giới xa xăm nào đó mà y luôn ước vọng rằng sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, với một ân sủng nào đó y sẽ được trở về với nó. Đây quả t́nh là một ư tưởng mông lung, hăo huyền ! Nhưng khi Phật giáo nói : "Nhất thiết không", con người lại thường rơi vào logic tư duy, mong soi sáng nó trong tương quan của những phạm trù (category) hoặc bán phạm trù (sub-category) trong ḍng đối lập hữu ngă, hoặc hữu (abhava) hoặc vô (bhava) theo một khuôn mẫu triết lư (philosophical pattern), hoặc theo những cắt nghĩa (interpretine concepts) thông tục. V́ thế, y cứ luẩn quẩn trong hữu - vô, sinh- diệt, thường đoạn, khứ - lai, mà không thể trực nhận cái thực tại bản nguyên (original reality) vốn mang một giá trị bất biến và vĩnh hằng trong đời sống thực tại này. Đức Phật dạy rằng : "Tất cả hiện tượng (dharma) tự nó không có tự tính (svabhava), không sinh khởi, không tận diệt, vốn thanh tịnh và như như (tathata)". Ở đây, trên cơ sở thực tại luận (ontological analysis) và giải thoát luận (soteriological attainment), chúng ta sẽ khảo sát sơ lược về Tính Không theo quan điểm của triết học Duy thức hay tư tưởng Đại thừa nói chung. Trước hết, Tính Không được xem là Chân tính (true nature) của tất cả hiện hữu (dharma). Do tri nhận về Tính Không mà con người đạt đến sự toàn tri (hay giác ngộ). Nói vạn hữu là Không, không phải là cách ngôn phủ định thế giới thực hữu của sự vật, hiện tượng (the world of phenonmera) mà nhằm giải minh rằng các chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức đều được sinh khởi, tồn tại và hiện hữu (becoming) trên cơ sở của hàng loạt giá trị nhân - duyên, v́ thế, chúng được gọi là không có thực thể (non-entity), không tự hữu và độc lập. Theo tiến tŕnh duy thức, bất kỳ một hiện hữu nào cũng được nhận diện qua ba tự tính, đó là : Tự tính giả lập (Parikalpita - svabhava) Tự tính tùy thuộc (Paratantra - svabhava) Tự tính tuyệt đối (Parinispanna - svabhava) a- Tự tính giả lập: Rằng theo quan niệm tự nhiên, chúng ta thường xu hướng sở hữu hóa tự tính của sự vật, xem nó như một sinh thể cá biệt (visera). Nhưng tự nó thực sự không có thuộc tính cố hữu mà thuộc tính của nó là vô tự tính (nihsvabhava), vô ngă tính (anatta). Cho nên, cái tự tính mà con người áp đặt lên sự vật hiện hành đó, gọi là tự tính giả lập. Nó là sự h́nh thành qua sự tiếp xúc giữa các giác quan (mang tâm lư của chủ thể) và thế giới khách quan - thế giới sự vật hiện tượng (thuộc khách thể - đối tượng), thuật ngữ gọi là các uẩn (skandhas), xứ (ayatanas) và giới (dhatus). b- Tự tính tùy thuộc: Rằng các sự vật không thực có cái tự tính giả lập, như thế không có nghĩa là sự vật không hiện hữu. Ở đây, vấn đề nhằm giải minh cái tiến tŕnh hiện hữu (process of becoming) của sự vật, thực chất nó là hệ quả của tương duyên, nên đặc tính của nó là vô thường, đoạn diệt. Quan điểm này vừa phê bác các học thuyết qui nạp (reduction) thế giới hiện sinh vào một thực thể đơn nhất và vừa không chấp nhận những luận thuyết "ngẫu nhiên", theo đó, sự vật h́nh thành theo một thứ chủ nghĩa vật chất đơn thuần. V́ vậy, nếu khước từ tự tính tùy thuộc này, tất yếu sẽ rơi vào hư vô chủ nghĩa, nếu không muốn nói là phản bác chân lư thực tại - đang là. c- Tự tính tuyệt đối: Rằng hiện hữu là Như như (Tathata) v́ trong tự thể của sự vật vốn không mang tự tính giả lập, và ngay cả cái Tự tính tùy thuộc thực chất nó là Tự Tính Không, hay là Thực tính Vô Tính. Như thế, rơ ràng trên b́nh diện ngôn ngữ và tư duy, cái mà gọi là tự tính th́ không bao giờ hiện hữu và thực hữu, nó là vô ngă (anatta). Như vậy, biện biệt về ba tự tính nhằm giải minh rằng tự tính giả lập soi sáng sự vật vốn "Không"; rằng tự tính tùy thuộc soi sáng thế giới và con người là "Duyên khởi"; rằng tự tính tuyệt đối minh định bản thể "Như như" (mang đặc tính Niết bàn) vốn hiện hữu ngay trong thế giới này, con người này, mà không phải là một cơi mênh mang, vô định nào khác. Do đó, thấu triệt và biện minh về Tính Không qua ba tự tính cốt là để thể nhập ba vô tính của hiện hữu; đây là toàn thể tiến tŕnh thể nhập thực tại và thành tựu giải thoát của triết học Duy thức. |
| ||||
|
III- Phật Giáo-Một Tôn Giáo Của Đạo Lư Tri Thức Và Kinh Nghiệm Tồng Thể Nói đến Phật giáo là nói đến một đời sống đạo với phương châm : "Không làm các việc ác, chỉ làm các việc lành, làm cho tâm ư trong sạch" (Not to do evil, to do good, to purify one's mind). Sự giác ngộ của Đức Phật là đoạn kết của một cuộc hành tŕnh về tâm linh, một cuộc hành tŕnh đầy gian truân, vất vả. Nhưng chính cái ư chí siêu phàm và nghị lực phi thường đă biến Thái tử Siddhartha từ một con người (với ư thức đạo lư sâu sắc và kinh nghiệm tồng thể về con người và cuộc đời) trở thành một vị Phật. Như thế Phật là một con người đă giác ngộ, một chúng sinh đă đạt được tuệ giác b́nh đẳng vĩ đại. Từ đây, cần xác định rằng chính cái kinh nghiệm nội tại (inner experience) là các yếu tố làm thăng hoa vô thượng chánh giác tâm, và ngộ là giây phút nở nụ trưng bày vô thượng chánh giác tâm giữa ḷng hiện hữu của muôn loài. Đức Phật dạy : "Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, trên lộ tŕnh giác ngộ, các con hăy tự thắp đuốc lên mà đi; trong đại dương luân hồi, các con là hải đảo của chính ḿnh, Như Lai chỉ là bậc Đạo sư trên nguyên tắc". Trong con đường tu tập, Phật giáo đặc biệt coi trọng ư thức đạo lư và cái kinh nghiệm nội tại của tự thân con người. V́ rằng trong các quan năng giao tiếp, ư thức được xem như là chủ nhân điều động tư duy và tạo tác của con người, cho nên lộ tŕnh tu tập bao giờ cũng lấy ư thức làm cơ sở. Đức Phật, trong kinh Pháp Cú, dạy rằng : "Ư dẫn đầu các pháp, ư làm chủ tạo tác, đối với ư nhiễm ô, nói lên hay hành động, khổ năo bước theo sau, như xe chân vật kéo... Đối với ư thanh tịnh, an lạc bước theo sau, như bóng không rời h́nh". Từ đây, trong lối sống Phật giáo, từ niềm tin cho đến sự qui ngưỡng ba ngôi Tam bảo, bao giờ cũng đ̣i hỏi một sự ư thức đúng đắn hay là cái tâm thanh tịnh, mà thuật ngữ thường gọi là Ehi-pasiko, tức là "hăy đến và tri nhận". Phật giáo không dạy con người tin và quy ngưỡng những ǵ ḿnh không biết... Mặt khác, cái kinh nghiệm cá thể hay sự tâm chứng nội tại cũng được hàm chứa trong thuật ngữ Ehi-pasiko. Về đời sống đạo, yếu tố con người là chính chứ không phải là đối tượng tôn thờ. V́ đạo vốn có ở con người thực tại và đời sống thực tại. Tuy nhiên, Phật giáo không phủ nhận các phương tiện để đưa con người vào đạo chính là nội dung của câu nói : "Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió, Buông thuyền lúc khách đă sang sông" Như vậy, người Phật tử đúng nghĩa phải xây dựng cho ḿnh một đời sống ư thức đạo lư và một kinh nghiệm nội chứng. Kết hợp hai yếu tố này nghĩa là gặt hái được một giá trị chân lư vĩnh hằng - hay giá trị tâm linh. Tất nhiên ở đây đ̣i hỏi một sự toàn tri vượt lên mọi huyễn hoặc và rũ sạch mọi cảm nhiễm của cuộc đời trần thế này. Ở đó, bấy giờ là một ḍng động mạch tâm linh tuôn trào bất tận vào cuộc đời với hào quang sáng chói mà không hề chối từ bất kỳ một sự phủ dẫm nào, cũng như không bị ngăn che bởi bất luận một chướng ngại nào. Trên bước đường vươn đến sự hoàn thiện cao nhất trong đời sống đạo, mỗi bước thăng hoa là một lần ư thức tự ngă được buông thả, cho đến khi nào con người thực sự sống trọn với trạng thái không bản ngă, lúc ấy Niết bàn chân thực hiển lộ ngay tại con người này và ngay tại cuộc đời này. Để kết thúc, chúng tôi xin dẫn lời của Ḥa thượng Thích Thiện Siêu như sau : "Niết bàn là một cái ǵ tuyệt đối không dung ngă. Niết bàn không có hạn lượng, không có nơi chốn, v́ Niết bàn vô tướng - vô tướng nên khó vào. Muốn vào Niết bàn ta cũng phải vô tướng như Niết bàn. Cửa Niết bàn rất hẹp, chỉ bằng tơ tóc, nên ta không thể mang thêm một hành lư nào mà hy vọng vào Niết bàn được cả. Cái thân đă không mang theo được, mà cả ư niệm về tôi, về ta cũng không thể mang theo được. Cái ta càng to th́ càng xa Niết bàn. Nên biết rằng : hễ hữu ngă là luân hồi mà vô ngă là Niết bàn". * * * (1) OXFORD Advanced Learner's Dictionary, Jonathan Crowther, Oxford University Press, New York, 1992, p. 762. (2) Why Religion ?, K. Sri. Dhammananda, The Buddhist Missionary Society, Kuala Lumpur, 1966, p. 06. (3) Ibid, p. 06. (4) Ibid, p. 06. (5) Ibid, p. 07. (6) Ibid, p. 07. (7) Ibid, p. 07. (8) Ibid, p. 08. (9) One should be cautions about the do-goodlism that Thomas paine advocated here. Not all the people who do good are religious. Further more, doing good does not mean the same thing to different nations, peoples and races. Taking the issue of family planing by modern medical devices for instance. It may mean loving kindness to some but unkindness to others. (10) Essay in Zen Buddhism, D. T. Suzuki, Vol I, p. 53. (12) Extracted from, Đại Cương Triết Học Phương Đông, Hà Thúc Minh - Minh Chi, Trường Đại Học Tồng Hợp, TP. Hồ Chí Minh, HCMC, 1994, p. 10. (13) Majjhima Nikaya. 135, from Buddhist Dictionary Manual of Buddhist Terms and Doctrines, Nyanatikola, Frewin & Co. Ltd. Colombo, Ceylon, 1972, p. 77. (14) Dhammapada, Thích Minh Chau, Buddhist Institute of Hochiminh City, 1990, p. 97. (15) Essay in Zen Buddhism, D. T. Suzuki, Vol I, p. 57. (16) The Path of Purification, Bhadantacariya Buddha-Gkosa, translated from the Pali, Comlombo, Ceylon, 1956. (17) In Nikaya and Mahayana Sutras. (18) Dhammapada, Nàrada, Vajiràràma, Colombo, 1962. (19) Nirvana is Non-self, Thich Thien Sieu, Buddhist Institute of Vietnam, Hochiminh City, 1990, Statement quoted on the back cover. (Ven, Thich Thien Sieu is the Head of the Buddhist Central Educational Committee in Vietnam). Source: Tôn Giáo Và Giá Trị Thực Tại |