Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Tủ sách Huyền Bí, Tâm Linh

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:21 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
Triết lư về NGHIỆP

TRIẾT LƯ VỀ NGHIỆP


Ḥa Thượng Hộ Tông Vansarakkhita Maha Thera


In Lần Thứ Nhất Tại Sài G̣n 1974, Tái Bản Tại Hoa Kỳ 1998


Tái Bản Tại Việt Nam 2001

Source: http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=1593


LỜI NÓI ĐẦU

Triết lư về nghiệp là nền tảng kiên cố làm cho các tôn giáo có những quan điểm dị đồng.(1)

Các tôn giáo khác cho rằng: việc làm ăn của người mà có quả báo, như thế nào đó, là tùy ở "Một cái" có thế lực tối cao cho thực tiễn. Họ gọi "một cái" đó là đấng Tạo hóa hay là đức Phạm thiên.

Nhưng Phật giáo thuyết trái ngược với các tôn giáo khác rằng: người là kẻ tạo nghiệp. Nghiệp là điều qui định tự nhiên của đời. Nó cho quả phải thực thi như thế nầy như thế kia. Nó là điều chỉnh lư bất biến (2). Sự xoay vần của nó, ví như bánh xe có phận sự xoay tṛn vậy.

Chúng ta là người tạo nghiệp, theo ư nghĩa tương phản, nghiệp không làm ǵ được người. Quả của nó phân hạng chúng sinh khác nhau ấy cũng do chúng sinh tạo nghiệp riêng biệt. "Tạo lành quả cũng lành, tạo dữ quả cũng dữ".

Những nhà khoa học hiện đại, thừa nhận căn bản "Nghiệp" trong Phật giáo v́ họ thấy rằng: sự động tác và sức phản ứng hằng có quả ngang nhau và tương phản nhau. Thí dụ: như sự ném quả bóng, ta thấy rằng: ném mạnh th́ quả bóng dội lại mạnh, ném nhẹ th́ quả bóng dội lại nhẹ. Đây là nghiệp vậy.

Vấn đề "Nghiệp" trong quyển sách nầy dẫn chứng cớ ra để giải thích, làm bằng cho thấy hiển nhiên cho chư quư độc giả dùng để điều tra, ngẫm nghĩ không nên vội bỏ. Ví bằng không để ư đến căn bản "nghiệp" th́ Phật giáo không có ư nghĩa và thú vị ǵ nhiều đến ta và toàn thể nhân loại.

Có kẻ cho rằng: "nghiệp" là một lợi khí của hàng trí tuệ viên dẫn ra để đàn áp và trấn tỉnh ḷng người thiển kiến. Như thế là sự hiểu biết sai suyển vô căn cứ(3). V́ Phật giáo chẳng phải là lợi khí của ai và và cũng chẳng dạy kẻ nào phải co tay rút chân cả.

Mong rằng sự học vấn về "nghiệp" theo căn bản Phật ngôn dạy dầu sao cũng có lợi không nhiều th́ ít đến độc giả và xin nhớ rằng "nghiệp" không làm ǵ được người, chính người riêng biệt tạo nghiệp. Như nước mát, lửa nóng. Nếu mó vào th́ nước cho mát theo phận sự của nó; lửa cũng cho nóng theo phận sự của lửa, chỉ tuỳ người tự mó vào mà thôi.

Chúng tôi xin hồi hướng quả phúc sự phiên dịch quyển kinh nầy đến tất cả Chư Thiên trong sa bà thế giới cùng cha mẹ thầy tổ các bậc ân nhân và hàng Phật tử.

Cầu Chư Thiên hoan hỉ hộ tŕ tất cả chúng sinh nhất là toàn thể Phật giáo đồ hằng mau đoạt được mục đích cứu cánh giải thoát.


Mong thay!

Vansarakkhita Maha Thera
(Ḥa Thượng Hộ Tông)

[1] Quan điểm: căn cứ của kiến thức để nghiên cứu mọi vấn đề.
[2] Chỉnh lư: chỉnh đốn.
[3] Sai suyển: không đúng.
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:23 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
THIÊN 1

GIẢI VỀ NGHIỆP

Từ khoảng sinh đến tử và từ tử đến sinh, có một cái xoay tṛn, tự nó duy tŕ xáo trộn thái quá. Sinh rồi tử, tử rồi sinh tái diễn măi, như thế không kể xiết. Cái đó càng xoay tṛn th́ càng không thấy thủy chung và sự văng lai của nó.

Nếu thiếu ánh sáng trong tâm, th́ chúng ta cho rằng cái đó nó chuyển xoay, vô nhân quả, bất quy định, không có chế độ. Khi đă hiểu lầm như thế th́ là cái mối hại vô cùng nguy hiểm, khiến sinh mệnh chúng ta phải hư hỏng càng chịu trầm luân khổ hải trong vô lượng kiếp.

Cái đó tức là cái "NGHIỆP".

Cái "nghiệp" tạo ra Trời, Người và Thú bị giam hăm trong ṿng luân hồi sinh tử, tử sinh măi măi, đắm ch́m trong bể khổ.

"NGHIỆP" là cái pháp quy định, là luật thiên nhiên, chỉ cho thấy rơ rằng tất cả những cái chi trong đời đều có nhân quả. Người tạo nghiệp tức là nhân, sẽ phải thụ quả tức là sự thành tựu bởi nhân, liên tiếp nhau không ngừng nghỉ.

Đây là luật quy định của thụ quả theo Nghiệp.

Hàng Phật tử cho rằng: Nghiệp hằng đàn áp sinh mệnh tất cả mọi người cho đến kiếp cuối cùng.

V́ căn cứ vào sự hành vi trong quá khứ, tạo ra sinh mệnh trong hiện tại, sinh mệnh trong hiện tại gây nên mệnh sống trong tương lai. Trong nền tảng Phật ngôn có nói rằng:

"V́ cái này có, cái kia mới sinh, từ cái đă sinh mới có cái khác nữa. Bởi không có cái kia, cái này mới không có, cái này diệt, cái kia mới diệt".

Thuyết minh rằng: c ái quả hằng sinh từ cái nhân, tiếp liền nhau như thế. Ngoài ra, họ c̣n lưu tâm rằng: n gười là cái quả của năm nguyên nhân là:

- Sự không thấu rơ kiếp quá khứ.
- Sự ch́m đắm của tâm liên lạc với lẽ sinh tồn trong đời.
- Sự giữ ǵn trông nom sinh mệnh và của cải.
- Nghiệp tức là sự hành vi, ám chỉ đến cái quả của tâm suy nghĩ, tác dụng trong quá khứ.
- Thực phẩm dùng trong kiếp này.

Về khí chất, họ cũng cho rằng: n ó nảy sinh do bốn nguyên nhân là:

- Cái thiên nhiên của thân thể.
- Cùng một huyết thống của nghiệp.
- Các vật chung quanh.
- Nhân và quả của việc làm trong quá khứ.

Sự thật, mỗi nghiệp hằng có quả liên tiếp, quan hệ với nhau trước rồi trở thành nhân của quả nữa, tiếp tục liền nhau.

Thí dụ: người cha sinh con, người con đó sẽ thành người cha kế thế măi măi như vậy.

Đức Phật hằng quan sát điều quy định ấy trong thời kỳ Ngài vừa giác ngộ. Ngài hiểu biết phân minh rằng đó là điều chế định cưỡng bách đời phải thực hành theo. Ngài tuyên bố rằng: "Khi nào các pháp rơ rệt đến Bà la môn, là người cố tâm nh́n chăm chăm, khi đó tất cả hoài nghi của Bà la môn ấy hằng trừ diệt, do được hiểu rơ pháp của nhân. Nhờ sự thấu triệt cách trừ diệt các duyên, Bà la môn ấy mới được trừ khử Ma vương cùng quân ma và hằng rực rỡ, tươi sáng, ví như vầng trăng chói lọi giữa không trung vậy" .

Điều quy định đă giải như trên, chúng ta gọi là Paticcasamupaada, "thuyết Thập nhị duyên khởi" hoặc gọi theo cách đàm thoại là "dây xích của nhân quả".

Cái khởi nguyên của điều quy định này, là nguồn gốc của cái có tất cả sinh mệnh, cái chung qui của nó tức là sự khổ vậy.

Luật nhân quả này, chẳng phải chỉ có trong Phật giáo, dù trong Thiên Chúa giáo cũng có đại ư để trong kinh rằng: "Người gieo giống nào họ sẽ được quả ấy".

Trong khoa học cũng có vấn đề căn bản như vầy: "Nhân và quả phải ngang nhau".

Theo ư nghĩa này, phần đông đều nh́n nhận luật nhân quả, hoặc nói một cách khác, họ cho rằng, khi đă gây nhân tất phải chịu quả, giống nhau (có vay ắt có trả). Nhưng đa số người có quan niệm khác nhau, do chỗ hiểu biết rộng hoặc hẹp hơn kém nhau mà thôi.

Các nhà triết học có nói: "Phật giáo không giống như Thiên chúa giáo và Hồi giáo..." Phật giáo dạy rằng: Sự khổ trong đời là do người tạo nghiệp (là quả của nghiệp) hằng xảy ra tự việc làm của người, mà diệt được cũng do sự hành vi của họ, không tùy thuộc một hành động của một vị nào cả.

Trong nền tảng Phật giáo có chép rằng: tất cả quả đều có nhân và cái đặc tính của người tức là cái quả thu hoạch được của sự suy nghĩ và hành động trong thời quá khứ của ta. Nghiệp tức là sự động tác và quả của sự động tác ấy, hằng duy tŕ những sở đắc của nó và sức phản ứng chống lại với các việc xảy đến. Họ có thể trở nên trong sạch bằng cách tự ḿnh hiểu rơ và có khả năng đạt đến sự giải thoát trong một ngày nào.

Trong kinh có ghi mọi việc làm của người, không nói tốt hay xấu, hằng có quả báo ứng, chẳng có một nhân vật nào đàn áp, thủ tiêu được cái quả của nghiệp. Nghiệp nào đă tạo th́ quả của nó có thể tung ra, rải rác khắp nơi cho đến kiệt lực, rồi trở lại cho quả nữa.

Nghiệp là phương pháp để phân biệt sự hành vi tốt hay xấu. Theo chân lư, th́ người phải hành thiện, nên trú vững trong đạo đức nghĩa là chỉ phải làm lành, v́ nghiệp dữ hằng cho quả khổ, không cần nói khổ ấy sanh chóng hay chậm.

Nghiệp chẳng phải là số mệnh rủi may đâu. Nghiệp nào đă làm th́ nên hiểu rằng đă qua rồi, quả của nghiệp sẽ phát sinh sau, cùng với hiện tại nghiệp tức là sự hành vi trong đời này. Theo như đă giải đây, thấy rằng: nghiệp là một vấn đề cần phải tu tập, học hỏi, nhân đó triết học về nghiệp mới góp nhặt tài liệu để biến thành một quyển sách như đây.
Reply With Quote
  #3 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:29 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
THIÊN II


CHỨNG CỚ HIỂN NHIÊN CỦA NGHIỆP

1. Kamma.m satte vibhajati yadida.m hinappa.nittaaya
Nghiệp hằng phân hạng chúng sinh tức là chia ra nhiều loại thấp hèn và cao sang (khác nhau).

2. Yaidsa.m vapate biijam

Tadisa.m labhante phala.m
Kalyaanakaarii kalyaana.m paapakaarii
Ca paapaka.m

Người gieo giống nào, hằng thụ quả ấy, người tạo nghiệp lành được quả vui, kẻ hành nghiệp dữ hằng chịu quả khổ.

3. Sace pubbe katahetu

sukhadukkha.m nigacchati
poraanakamkata.m paapa.m
tameso mu~ncate ina.m

Người thụ vui hay khổ, do phúc hoặc tội đă làm từ trước là nhân, người ấy được gọi là măn tội cũ như trả nợ vậy.

4. Abhittharehta kalyaane

paapaa cittam nivaaraye
dandha.m hi karato pu~n~na.m
paapasmin ramati mano

Người phải gấp tận tụy với việc lành, nên pḥng ngừa tâm khỏi nghiệp ác, v́ người lâu làm lành, th́ tâm sẽ ưa thích trong việc dữ.

5. Paapa~nce puriso kayiraa

Na ta.m kayiraa punappuna.m
Na ta.mhi chandam kayiratha
Dukkho paapassa uccayo

Nếu người làm tội th́ không nên làm nhiều lượt, không nên ưa thích trong tội ấy, v́ sự chứa tội là nhân cho quả khổ.

6. Pu~n~nance puriso Kayiraa
Kayiraaathenam punappunam
Tamhi chandam kayiratha
sukho Pu~n~nassa uccayo

Nếu người tạo phước th́ nên tạo phước ấy thường thường, nên có tâm ưa thích trong phước ấy, v́ sự vui thích phước là nhân cho quả vui.

7. Paapopi Passati bhadram

Yavaa apa.m na Paccati
Yadaa ca paccati paapa.m atha
(papo) paapaami passati

Người làm quấy thường thấy quấy là phải, cho đến khi cái quấy chưa có đâm mộng, nhưng khi cái quấy sanh quả th́ họ mới thấy quấy là xấu xa.

8. Bhadropi passati paapam

yaava bhadram na paccati
yadaa ca paccati bhadram atha
(bhadro) bhadraani passati

Người làm lành, hay thấy nghiệp lành là xấu, cho đến khi nghiệp lành chưa có nảy quả, nhưng tới lúc nghiệp lành cho quả, họ sẽ thấy nghiệp lành là tốt đẹp.

9. Maavama~n~netha paapassa

na mattam aaga.missati
udabindunipaatena
udakumbhopi puurati
puurati baalo paapassa
thoka.m thorampi aacina.m

Người không nên khinh suất rằng: tội chút ít sẽ không đến, cái nồi chứa đầy nước mưa nhỏ xuống từng giọt thế nào, kẻ si mê khi tích tội, dù từng tí, hằng đầy nước tội được như thế.

10.- Maavama~n~netha pu~n~nassa

na matta.m aagamissati
udabindunipaatena
udakumbhopi pu~n~nassa
thoka.m thokampi aacinam

Người không nên khinh thường rằng: phước chút ít sẽ không đến, cái nồi trữ đầy nước mưa nhỏ xuống từng giọt thế nào, bậc có trí tuệ chứa phước mỗi khi một ít, cũng hằng phước được như vậy.

11.- Vaanijova bhayam maggam

appasattho mahaddhano
visam jivitukaamova
paapaami parivajjaye

Người nên tránh khỏi nghiệp ác như thương nhân có nhiều của, nhưng ít đoàn người, lánh đường đáng sợ và như kẻ mong sống ngừa độc dược vậy.

12. Paanimhi ce vano naassa

hareyya paaninaa visa.m
naàbbanam visamanveti
natthi paapa.m akubbato

Nếu bàn tay không có vết thương th́ người cầm độc dược bằng tay được, v́ độc dược không thấm vào tay, thế nào tội hằng không có đến người không làm như vậy.

13. Yo appadutthassa narassa dussati

suddhassa posassa a.nanganassa
gaameva bala.m pacceti paapa.m
sukhumo rajo pativaatamvakhitto

Kẻ nào hại người không trả nủa (= làm nhục người ta để trừ lại điều người làm nhục ḿnh) là người trong sạch, như g̣ đất, th́ tội hằng trở hại kẻ ấy, là người si mê, như bụi bặm mà họ đổ trên gió vậy.

14.- Gabbhameke upapajjanti niraya.m

paapakammino
sagga.m sugatino yanti
parinibbanti anaasavaa

Có người sinh trong thai bào: kẻ có nghiệp xấu hằng sa địa ngục, người có nghiệp lành là nhân đến nhàn cảnh, hằng lên cơi trời; bậc vô lậu phiền năo thường nhập Niết bàn.

15.- Ma antalikkhe na samuddamajjhe

na pabbataanam vivara.m parissa
na vijjate so jagatippadeso
yatartthito mucceyya paapakammaa

Người tạo nghiệp dữ, trốn trong hư không cũng chẳng khỏi nghiệp dữ, lánh trong giữa biển cũng chẳng khỏi, ẩn ḿnh trong kẹt núi cũng chẳng thoát nghiệp ác đâu. Người nương ngụ trên địa cầu không bao giờ thoát ly được nghiệp dữ.

16.- Ma antalikkhe na samuddamajjhe

na pabbataanam vivira.m parissa
na vijjate so jagatippadeso
yatra.t.thita.m nappasaheyyamaccu

Người ngồi giữa trời, vào đến giữa bể, ẩn ḿnh trong kẹt núi cũng chẳng khỏi. Sự chết không đàn áp người trú ngụ trên địa cầu chẳng có đâu .

17.- Sukhakaamaani bhaataani
yo dandena vihinsati
attaano sukhamesaano
pecca so na labhati sukha.m

Chúng sanh đă sinh ra là những người cầu được vui; kẻ nào mong t́m hạnh phúc cho ḿnh, nhưng làm hại kẻ khác bằng khúc cây v.v.; kẻ ấy chết rồi hằng chẳng được vui.

18.- Sukhakaamaani bhuataani
yo dan.dena vihi'nsati attano sukhamesa
pecca so labhate sukha.m

Chúng sanh đă sinh ra là người mong được vui, kẻ nào t́m hạnh phúc cho ḿnh, không làm hại người bằng khúc cây, kẻ ấy tạ thế rồi thường được vui.

19.- Atha paapaani kammaani
kara.m baalo na bujjhati
sehi kamehi dummedho
aggi daddhova tappati

Kẻ si mê tạo những nghiệp ác, thường không biết ḿnh, người kém trí tuệ, hằng nóng nảy như bị lửa thiêu v́ nghiệp của chính ḿnh đă làm.

20.- Yo da.ndena adandesu

appadutthesu dussati
dasannama~n~natram thaanam
khippameva nigacchati
vedanam pharusa.m jaanin
sariiassa va bhedanam
garukam vaapi aabaadham
cittakkhepam va paappune
raajato vaa upasaggam
abbhakkhaanam va daaruna.m
parikkhayam va ~naatinam
bhogaanam va pabhangunna.m
atthavaassam agaarani
aggi dahati paavako
kaayassa bhedaa duppa~n~no
nirayam so upapajjati


Kẻ nào làm hại những người không trả nủa bằng thế lực, th́ hằng bị một trong mười biến cố lớn là:

1.- Bị cực kỳ khổ sở
2.- Hết tiền bạc,
3.- Hư thân,
4.- Bịnh nặng,
5.- Loạn trí,
6.- Bị vua h́nh phạt,
7.- Bị người sát hại nặng nề,
8.- Chia ĺa thân quyến,
9.- Tiêu diệt gia tài,
10.- Cháy nhà.

Người kém trí tuệ sau khi chết hằng sa địa ngục.

21.- Manopubba'ngamaa dhamma

manosetthaa manomayaa
manasaa ce padutthena
bhaasati vaa kaaroti vaa
tato nam dukkhamaanevati
cakkamva vahato pada.m

Các pháp có tâm là hướng đạo; có tâm là chủ, thành tựu do tâm. Nếu người có tâm ác, dù nói hoặc làm, sự khổ hằng theo họ như bánh xe xoay tṛn theo dấu chân ḅ mang ách đi vậy

22.- Manopuba'ngamaa dhammaa

manosetthaa manomayaa
manasaa ce pasannena
bhaasati vaa karoti vaa
tato nam sukhamanevati
chaayaava anupaayinii

Các pháp có tâm là hướng đạo; có tâm là chủ, thành tựu do tâm, nếu người có tâm trong sáng, dù nói hay làm, sự vui hằng theo họ, như bóng tùy h́nh.

23.- Idha socati pecca socati

paapakaarii ubhayattha socati
so socati so viha~n~nati
disvaa kammakilittha mattano

Người hay làm tội hằng đau khổ trong đời này; thác rồi càng đau khổ trong hai cơi, v́ họ thấy nghiệp xấu của chính ḿnh rồi đau khổ rên rỉ .

24.- Idha modati pecca modati

katapu~n~no ubhayattha modati
so modati so pamodati
disvaa kammavisuddhi mattano

Người đă làm phước, hoan hỉ trong cơi này, chết rồi cũng hằng vui thích, vui thích trong cả hai cơi; v́ họ thấy tâm trong sạch của chính ḿnh, rồi hằøng hân hoan khoái lạc.

25.- Sukaraani asaadhuuni

atta.no ahitaani ca
yam vehita~nca saadhu~nca
ta.m ve paramadukara.m

Nghiệp không tốt và không hữu ích đến ḿnh th́ dễ làm được, nghiệp lành và có lợi ích th́ rất khó làm.

26.- Sukaram saadhunaa saadhu

saadhu paapena dukkara.m
paapam papena sukaram
paapamariyehi dukkaram

Nghiệp lành, người lành dễ làm; nghiệp lành kẻ ác khó làm; kẻ dữ dễ làm nghiệp ác; các bậc thánh nhân chẳng làm nghiệp dữ đâu.

27. Idha tappati pecca tappati

paapakaarii ubhayattha tappati
paam me katanti tappati
bhiyyo tappati duggatin gato

Người hay làm tội, hằng than van trong đời này, thác rồi phải chịu rên rĩ; họ thường phiền muộn trong cả hai cơi, hằng than van rằng: ta đă tạo nghiệp ác nên phải đến cảnh khổ, rồi càng ưu phiền than thở.

28.- Idha nandati pecca nandati

katapu~n~noubhayattha nandati
pu~n~nam me katanti nandati
bhiyyo nandati sugatingato

Người được phước hằng vui vẻ trong cơi này, chết rồi cũng thường vui vẻ. Họ sung sướng trong cả hai cơi, họ hằng sung sướng rằng: ta đă tạo phước để dành nên đi đến nhàn cảnh, rồi càng thêm thỏa măn.

29.- Yathaapi puppharaasimhaa

kayiraa maalaagu.ne bahu
evam jaatena maccena
kattabbam kusalam bahuu

Người thợ làm tràng bông, trang hoàng ṿng hoa bằng nhiều thứ hoa, thế nào người đă sinh ra trong đời nên làm lành cho nhiều như vậy.

30.- Eva~nce sattaa jaaneyyun

dukkhaayam jaatisambhavo
na paano paaninam ha~n~ne
paanaghati hi socati

Chúng sanh phải hiểu rằng: "sự tồn tại" là khổ, như thế họ không nên sát sinh, v́ người sát sinh hằng rên siết.

31.- Caranti baalaadummedhaa

amitteneva attanaa
karontaa paapakam kamman
yam hoti katukapphalam

Những kẻ si mê có trí thức thấp hèn, có ác tâm làm nghiệp dữ, sẽ chịu quả chua cay.

32.- Na tam kammam katam saadhun

yam katvaa anutappati
yassa assamukho rodam
vipaakam patisevati

Người làm nghiệp nào rồi, sau hằng rên siết là kẻ có mặt ẩm ướt bằng nước mắt, khóc la, chịu quả của nghiệp nào, nghiệp ấy họ đă tạo rồi là nghiệp không tốt đâu.

33.- Ta~nca kammam kaatam sadhu

yam katvaa naanutappati
yassapatito sumano
vipaakam patisevati

Kẻ đă tạo nghiệp nào mà sau rồi không than van, là người có thiện tâm hằng thụ quả của nghiệp mà họ đă làm, là nghiệp lành.

34.- Madhuvaa ma~n~ntai baalo

yaavaa paapam na paccati
yadaa ca paccati papam
atha (baalo) dukhamnigacchati

Kẻ si mê thường nhận tội như mật ong cho đến khi tội chưa cho quả, đến lúc thụ quả kẻ si mê hằng chịu khổ.

35.- Na hi papa'm katam kammam

sajjukhiiramva muccati
duhantam baalaamanveti
bhasmaacchannova paavako

Nghiệp dữ mà người đă làm chưa cho quả, như sữa trong khi đang vắt chưa biến chất, thế nào, nghiệp ác hằng theo thiêu đốt kẻ si mê như lửa bị tro che lấp.
Reply With Quote
  #4 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:30 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
36.- Kammunaa vattati loke

kammunaa vattaatiipajaa
kammani bandhavaa sattaa
ratthassaaniva yaayato
tapena brahmacariyena
samyamena damena ca
etena brahmano hoti
etam brahmanamuttamam

Chúng sinh hằng thực tiễn theo nghiệp là huyết thống như trục bánh xe đang xoay vậy

Người sẽ là bậc cao quí do bốn nghiệp là:

1. Tapa: Chuyên cần diệt điều ác.
2. Brahmacariya: Thực hành phạm hạnh.
3. Sa~n~nama: Chế ngự thân khẩu ư.
4. Tama: Tự hóa.

Đây là bốn nghiệp lành cao quư của các bậc quư nhân.

37.- Natthi loke rahonaama

paapakammam pakubbat
passanti vanabhuutaani
tam balo ma~n~nate raho

Nơi kín đáo của người làm tội chẳng có trong đời. Những kẻ si mê thấy nơi có rừng rậm đoán chừng rừng đó là chỗ kín đáo.

PHẬT NGÔN VỀ VẤN ĐỀ NGHIỆP

Natthi vijjaasaamm mittam
na ca byaadhisamo ripu
na ca attasamam pemam
na ca kammamsamam balam

Chẳng có bạn nào có giá trị bằng sự học thức, chẳng có thù địch nào bằng thế lực của bịnh hoạn, chẳng thương ai bằng yêu ḿnh, chẳng có sức mạnh nào bằng nghiệp.

Duggata'm gaccha helaabha
aapo labbena purati
thale vassatha pajjunna
aapo aapena puurati
natthidam kammapatthaanam

Lợi ơi! Ngươi nên t́m kẻ nghèo, người giàu có tiền bạc chan chứa rồi .

Mưa ơi! Hăy rơi xuống trong nơi khô héo đi, biển cả có đầy nước rồi, dầu như thế, sự mong mỏi cũng chẳng được như nguyện. V́ thế lực của nghiệp đàn áp trên tất cả.

Hiinana'm gacchate vittam
viraanam vasantakattam
vadanti ca hiinaa jana
pubbakammapatthaanaati

Tài sản của kẻ ít bền chí, biến chuyển thành của người có nhiều sự kiên nhẫn hơn. Kẻ thấp hèn đáp rằng: bất cứ cái chi đều do nhân trước cả.

Na vadanti cevam dhiiraa
vaayamiísu sabbakamme
na ce sijjhati tam kamma
aphalam ettha ki~ndoso

Bậc trí tuệ không thốt như (kẻ lười biếng) đâu, họ hằng tinh tấn làm tất cả công việc. Nếu công việc bất thành th́ là thất bại, như thế phàn nàn cái chi?
Reply With Quote
  #5 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:32 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
THIÊN III

VẤN ĐỀ NGHIỆP

2.1 Nghiệp Phân Hạng Người

Thuở kia, Đức Thế Tôn ngự trong Kỳ Viên tịnh xá của ông Trưởng giả Cấp Cô Độc, gần thành x á V ệ.

Thuở ấy, có gă thanh niên con ông t odeyya ( Bà-la-môn) đến lễ Phật rồi bạch hỏi rằng:

- Bạch Đức gotama, cái chi là nhân là duyên làm cho nhân loại thấp hèn và cao sang khác nhau, nghĩa là cớ sao, có người:

1.- Yểu thọ --
2- Trường thọ
3.- Nhiều bệnh --
4- Ít bệnh
5.- Có nhan sắc đáng ghét -
6- Có dung mạo đáng yêu
7.- Có quyền thế thấp
8- Có quyền thế cao
9.- Nghèo khổ --
10- Giàu có
11.- Thấp hèn --
12- Cao sang
13.- Ngu dốt --
14- Khôn ngoan
Đức Thế Tôn đáp:

- Này người thanh niên! Chúng sinh đều có nghiệp là của họ, là người thụ quả, có nghiệp tạo ra, có nghiệp là ḍng dơi, có nghiệp là nơi nương tựa. Nghiệp hằng phân hạng người hèn, kẻ sang như vậy.

Người thanh niên (s ubhamaanaba) không thể hiểu pháp mà Ngài giảng đại khái được, bèn bạch, cầu Ngài thuyết rọâng thêm. Đức Thế Tôn liền giảng rằng:

1) Này thanh niên! Có hạng người trong thế gian này, không ḷng trắc ẩn, hay sát sinh hại vật, sau khi thác hằng sa trong ác đạo, bằng không, tái sinh làm người yểu tử. Đấy là pháp hành làm cho người chết non .

2) Người có tâm từ bi, tránh sát sinh hại mệnh, chết rồi được sinh lên trời, nếu không, trở lại làm người trường thọ. Đấy là pháp hành làm cho người được sống lâu.

3) Người hành hạ đánh đập chúng sinh, thác rồi phải sa trong ác đạo, nếu không, trở lại làm người, th́ nhiều bệnh hoạn. Đấy là pháp hành làm cho người nhiều bệnh tật.

4) Người không hành hạ chúng sinh, thác rồi hằng đến nhàn cảnh, bằng không, tái sinh làm người th́ ít bệnh hoạn. Đấy là pháp hành làm cho người ít bệnh.

5) Người hay giận, bất b́nh, chết rồi sinh trong ác đạo, bằng không tái sinh làm người có dung mạo đáng ghét. Đấy là pháp hành làm cho người xấu xí.

6) Người ít nóng giận, thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, nếu không, tái sinh làm người có sắc xinh đẹp.

7) Người ganh tị, thác rồi sinh trong ác đạo, nếu không, trở lại làm người thấp hèn. Đấy là pháp hành làm cho người ít quyền thế.

8) Người không ganh ghét, chết rồi được sinh trong nhàn cảnh, bằng không, trở lại làm người có quyền to thế lớn.

9) Người không bố thí, nhất là cơm nước.. . đến các bậc tu hành.. . thác rồi đọa trong ác đạo, nếu không, sinh lại làm người ít của cải. Đấy là pháp hành làm cho người ít của.

10) Người hay bố thí, như cho thực phẩm.. . đến nhà tu hành.. . thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, bằng không, trở lại làm người giàu có. Đấy là pháp hành làm cho người trở nên phú túc.

11) Người hay ngoan cố, kiêu căng, không lễ bái, tiếp rước, không mời ngồi, không nhường đường, không cúng dường, không kính trọng bậc xứng đáng như cha mẹ, thầy tu.. . chết rồi phải sa trong ác đạo, nếu không trở lại làm người đê hèn thấp kém. Đấy là pháp hành cho sanh trong ḍng dơi đê hạ.

12) Người không hay ngoan cố, không kiêu căng, thường lễ bái, đón tiếp, mời ngồi, nhường đường, cúng dường đến bậc xứng đáng, thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, nếu không, tái sinh làm người có gia thế cao sang. Đấy là pháp hành làm cho người sinh trong quư tộc.

13) Người nào không t́m bậc chân tu, bạch hỏi rằng: thế nào là lành là dữ.. . chết rồi phải sa trong ác đạo, bằng không, sinh lại làm người ngu ngốc. Đấy là pháp hành làm cho người dốt nát.

14) Người nào hay t́m bậc sa môn, Bà-la-môn để bạch hỏi rằng: cái chi là phước là tội.. . thác rồi được sinh trong nhàn cảnh, bằng không, trở lại làm người có trí tuệ.


2.2 Nghiệp Đen, Nghiệp Trắng

Thuở kia, Đức Thế Tôn ngự trong xứ Koliya, đến châu quận Haliddavasana.

Thuở ấy có người Pu.n.nakoliyaputta hành đạo như loài ḅ và Seniyaacelaka tu như loài chó, cùng nhau đến hầu Đức Thế Tôn, rồi Pu.n.nakoliyaputta bạch hỏi rằng:

- Bạch Ngài, Seniyaacelakađây hành như loài chó, dùng thực phẩm mà người để trên đất, tu đă lâu không khuyết điểm như thế, vận mệnh của hắn sẽ ra sao? Cơi mà hắn sẽ thụ sinh trong kiếp sau sẽ thế nào?

Đức Thế Tôn ngăn không cho Pu.n.nakoliya hỏi đến ba lần, sau rốt Ngài đoán trước rằng:

- Này Pu.n.na! Có người trong đời này, tu hạnh như chó lâu ngày, không khuyết điểm, hành như chó và tâm quyết định như thế, có bộ tịch như chó, hành đạo không thiếu sót, sau khi chết sẽ sinh trong loài chó, nếu người ấy có ư kiến độc đoán rằng: ta sẽ làm một vị trời có nhiều quyền thế hoặc một vị trời nào, do thái độ mà ḿnh đă thọ tŕ. Như thế sự hiểu biết của họ là sai lầm, th́ số mệnh của họ chỉ có hai, là: địa ngục hay là cầm thú.

Khi Đức Thế Tôn đă dự đoán như vậy, s eniyaacelaka liền khóc ṛng và đồng thời bạch rằng:

- Tôi không phải khóc v́ lời dự đoán ấy, nhưng bởi thấy rằng tu hạnh như loài chó mà tôi đă thực hành từ lâu, không khuyết điểm, là rỗng không, chẳng có lợi ích chi cả.

Tiếp theo Seniyaacelaka bạch hỏi đến số mệnh tương lai của Pu.n.nakoliyaputta tu hạnh như loài ḅ, Đức Thế Tôn ngăn, không cho hỏi đến ba lần, sau rồi Ngài tiên đoán như đă giải, khác nhau là người tu hạnh loài ḅ, sẽ phải sinh trong loài ḅ.

Pu.n.nakoliyaputta được nghe xong cũng khóc than như Seniyaacelaka, rồi cầu Đức Thế Tôn giảng đạo cho hai người dứt bỏ tu hạnh loài chó và loài ḅ.

Đức Thế Tôn bèn thuyết rằng:

- Này Pu.n.na! Bốn thứ nghiệp Như Lai giảng đây, người nên thấy rơ bằng trí tuệ cho thấu chân lư là:

1.- Nghiệp đen có kết quả đen
2.- Nghiệp trắng có kết quả trắng
3.- Nghiệp đen lẫn trắng có kết quả đen lẫn trắng
4.- Nghiệp không đen không trắng có kết quả không đen không trắng.
Khi đă thuyết đầu đề như thế rồi, Ngài giảng tiếp rằng:

- Này Pu.n.na! nghiệp đen có kết quả đen là thế nào? Này Pu.n.na! Trong đời có hạng người làm hại kẻ khác bằng thân, khẩu, ư sau khi thác họ sẽ sa trong khổ cảnh, chịu nhiều nỗi đớn đau rên siết, chỉ phải thọ khổ trăm bề, như chúng sinh trong địa ngục. Đấy là v́ nghiệp ác đă tạo. Họ tạo nghiệp nào th́ chịu khổ v́ nghiệp ấy, như thế. Sự kết quả của nghiệp hằng h́nh phạt họ.

- Này Pu.n.na! Như lai gọi rằng: chúng sanh là người kế thừa của nghiệp tức là thụ quả của nghiệp. Cách thụ quả của nghiệp đến như vậy.

- Này Pu.n.na! Nghiệp trắng có kết quả trắng như thế nào?

- Này Pu.n.na! Trong đời không có hạng người không làm hại chúng sinh bằng thân, khẩu, ư, họ sẽ đến cơi ít khó khăn, như vậy, họ sẽ có sự tiếp xúc t́nh cảnh không nông nổi, rồi sẽ được an vui như Chư thiên vậy.

- Này Pu.n.na! Sự động tác của thân, khẩu, ư, không làm khổ kẻ khác, Như Lai gọi là nghiệp trắng có kết quả trắng.

- Này Pu.n.na! Nghiệp đen lẫn trắng có kết quả đen lẫn trắng là thế nào?

- Này Pu.n.na! Trong đời có chúng sinh dùng thân, khẩu, ư, hăm hại chúng sinh cũng có, không hăm hại cũng có, như vậy họ sẽ đến cơi khó khăn cũng có, không gặp cảnh khốn khổ cũng có, họ sẽ chịu khổ cũng có, không mang tai cũng có, nghĩa là có khổ lẫn vui.

- Này Pu.n.na! Khi có thân, khẩu, ư, ác lẫn thiện như vậy. Như Lai gọi là nghiệp đen lẫn trắng, có kết quả đen lẫn trắng.

- Này Pu.n.na! Nghiệp không đen không trắng ra sao?

- Này Pu.n.na! Trong tất cả ba loại nghiệp: nghiệp đen có kết quả đen, nghiệp trắng có kết quả trắng và nghiệp đen lẫn trắng có kết quả trắng, và nghiệp đen lẫn trắng có kết quả đen lẫn trắng, tác ư suy nghĩ ngoài ba nghiệp ấy. Như Lai gọi là nghiệp không đen không trắng, có kết quả không đen không trắng, tức là không tạo nghiệp nữa.

- Này Pu.n.na! Bốn loại nghiệp ấy, Như Lai đă tự ḿnh thực hành phân minh bằng trí tuệ cao siêu, rồi phổ độ chúng sinh cùng được thấy rơ .

Khi đă thuyết xong Pu.n.nakoliyaputta hoan hỉ tán dương thời pháp và xin thọ quy giới làm cận sự nam.

Phần Seniyaacelaka cũng thọ quy giới và xin xuất gia theo Phật giáo. Đức Thế Tôn thuyết tiếp đến Tạng Luật rằng: những người đă quen tu theo ngoại đạo, trước phải chịu phạt cấm pḥng bốn tháng, rồi mới có thể xuất gia được, nhưng Seniyaacelaka bạch xin chịu phạt cấm pḥng đến bốn năm. Do nhân này, Seniya mới được xuất gia tại chỗ ngụ của Đức Thế Tôn, không phải bị phạt cấm pḥng.

Không lâu, Seniya cố thực hành Chánh pháp đạt A-la-hán quả, thoát ly sinh tử luân hồi.

2.3 Năm Pháp Mà Chúng Sinh Khó Được

Thuở kia, Đức Thế Tôn ngự trong Kỳ Viên tịnh xá của trưởng giả Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ.

Khi ấy ông trưởng giả Cấp Cô Độc vào tịnh xá hầu Phật, Đức Thế Tôn giảng rằng:

- Này ông trưởng giả! Các pháp mà chúng sinh mong mỏi, hài ḷng, nhưng họ rất khó được trong đời là:

1.- Tuổi thọ
2.- Sắc đẹp
3.- An vui
4.- Quyền thế
5.- Cơi trời
- Này ông trưởng giả! Như Lai không gọi chúng sinh được năm pháp ấy bằng sự khẩn cầu, van lơn. Nếu được theo sự nài xin nguyện vọng, th́ ai trong đời này, có sự thất vọng, thốn thiếu vật chi?

- Này ông trưởng giả! Các hàng thánh thinh văn mong được sống lâu, sắc đẹp, an vui, quyền thế và cơi trời, họ không cầu khẩn, vui thích với tuổi thọ, sắc đẹp.. . ấy dù họ có thực tiễn pháp hành cho sinh sự trường thọ, sắc đẹp an vui, sức mạnh và cơi Trời.

Đức Thế Tôn giảng tiếp rằng:

- Những bậc minh triết hằng tán dương người mong được trường thọ, sắc đẹp, quyền cao, danh vọng, cơi trời, được sinh trong nhà quư tộc, nhưng họ không cẩu thả, trong sự bỏ dữ về lành. Các hàng minh triết, hằng cẩn thận rồi được hai lợi ích là:

1.- Lợi ích trong kiếp này.
2.- Lợi ích trong đời tương lai.
V́ được hai lợi ích ấy, nên bậc trí thức thường thốt rằng: người có trí tuệ là bậc minh triết.

Chú thích: Trong kinh này, Ngài thuyết về năm pháp:

1.- Sống lâu
2.- Sắc đẹp
3.- An vui
4.- Quyền thế
5.- Cơi Trời
Tất cả phàm nhân đều mong năm nguyện ước ấy, nhưng họ nan đắc và sự được ấy cũng không phải được bằng cách van xin rằng: cho tôi được sống lâu, sắc đẹp.. .v́ nếu cầu mà đắc th́ có ai là người thiếu thốn vật ǵ?
Reply With Quote
  #6 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:33 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
Người được năm pháp ấy, cần phải có tạo nhân lành, hợp với sự mong muốn. Pháp hành cho phát sinh tuổi thọ... có thuyết để trong các kinh, như có tích:

1)- Có nàng công chúa s umanaa bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng:

- Hai Thinh văn của Ngài có đức tin ngang nhau, song một vị được vật dụng theo lẽ đă rồi đem dâng đến Tỳ khưu khác, c̣n vị kia không cho chi cả, hai vị này thác rồi sinh lên cơi Trời hoặc làm Người được hạnh phúc khác nhau hay giống nhau?

Đức Thế Tôn đáp:

- Hai Thinh văn ấy sẽ khác nhau, nghĩa là vị bố thí vật dụng, khi sinh làm Trời hay Người hằng cao sang hơn vị kia, do năm quả báo là sống lâu, sắc đẹp, an vui, quyền thế trên cơi Trời hay trong thế gian.

2)- Trong kệ ngôn a numodana có dạy: A ayudo balado dhiio.. .

Sự cho cơm nước là nhân sinh sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh.

Tóm tắt rằng: sự bố thí, tŕ giới là pháp hành cho quả sống lâu.. . Trong kinh Ngài dạy chớ nên lănh đạm trong việc lành, v́ sẽ được thụ quả theo sở nguyện, tức là được các lợi ích: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh.

1.- Bố thí không sát sinh sẽ được giàu có, sống lâu. . .
2.- Ít sân, không bất b́nh sẽ có sắc đẹp.
3.- Phụng dưỡng cha mẹ, cúng dường các bậc tu hành cho đến làm những việc vô tội sẽ được an vui.
4.- Không thiên vị sẽ được quyền thế.
5.- Hành chánh pháp (thân, khẩu, ư) liêm khiết sẽ được lên trời.

2.4 Dhammasamadana - Pháp Tạo Bốn Nghiệp

Trong m ajjhimanakaaya Mulaapa.n.nasaka, Đức Thế Tôn có giảng thuyết về sự thực hành bốn nghiệp là:

1.- Có thứ nghiệp cho quả khổ trong hiện tại và trong nghiệp kế tiếp
2.- Có thứ nghiệp cho quả khổ trong hiện tại, những quả vui trong tương lai.
3.- Có loại nghiệp cho vui trong hiên tại, quả khổ trong tương lai.
4.- Có loại nghiệp cho vui trong hiện tại và vui trong tương lai.
Loại nghiệp MỘT: là tạo nghiệp ác bằng tâm không thừa nhận (bị động). Khi tạo nghiệp như thế sẽ chịu quả khổ, như người tạo nghiệp ác bị bắt buộc.

Loại nghiệp HAI: là tạo nghiệp bằng tâm t́nh nguyện phải chịu cực nhọc trong lúc làm, nhưng sau sẽ được quả vui, như người ưa thích hành thiện pháp, cho đến khi được thụ quả, chịu khổ lúc khởi đầu rồi sẽ hưởng hạnh phúc về sau.

Loại nghiệp BA: là t́nh nguyện làm nghiệp dữ mà được thỏa thích trong thuở đầu, sau nghiệp ác cho quả, th́ phải chịu khổ, như người tự ư làm dữ, bắt đầu vui rồi phải chịu khổ về sau.

Loại nghiệp BỐN: là ưng thuận làm nghiệp lành, th́ hằng được vui theo sở nguyện, như người tự ư làm lành được thụ quả vui về sau...
Reply With Quote
  #7 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:35 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
THIÊN IV

MƯỜI HAI NGHIỆP
Trong Thanh Tịnh Kinh (visuddhimagga) quyển III có giải (12) mười hai thứ nghiệp chia ra làm ba loại là:

Loại I- Nghiệp cho quả theo thời có bốn:

1.- Ditthadhammavedaniiyakamma: Nghiệp cho quả hiện tại.
2.- Upapajjavedaniiyakamma: Nghiệp cho quả trong kiếp kế tiếp (sau khi thác).
3.- Aparaaparavedaniiyakamma: Nghiệp cho quả trong các kiếp sau sau.
4.- Ahosikamma: Nghiệp thôi cho quả.

Loại II- Nghiệp cho quả theo công việc là theo phận sự của nghiệp có bốn:

1.- Janakakamma: Nghiệp sinh sản.
2.- Upatthambhakakamma: Nghiệp vào cấp dưỡng.
3.- Upapilikakamma: Nghiệp vào áp chế.
4.- Upaghàtakakamma: Nghiệp vào sát hại.

Loại III- Nghiệp cho quả theo thứ tự là tùy nặng nhẹ của nghiệp cho quả trước hay sau, có bốn:

1.- Garukamma: Nghiệp nặng.
2.- Bahulakamma: Nghiệp thường có.
3.- Asannakamma: Nghiệp cận thời. (Nghĩa là nghiệp làm hoặc nhớ được trong khi hấp hối)
4.- Katattakamma: Nghiệp vô ư (không cố ư làm).

4.1 Loại I nghiệp cho quả theo thời

1.- Ditthadhammavedaniiyakamma:

Tiếng Ditthadhammavedaniiyakamma: dịch là nghiệp cho quả trong hiện tại.

Chú thích: Nghiệp có sức mạnh cho quả nhăn tiền, người tạo thụ quả trong đời này.

Nghiệp này chia ra làm hai:

A- Cho quả trong bảy ngày gọi là p arisattadit thadhammavedaniyakamma.
B- Cho quả lâu hơn trước song quả quyết, sau khi thác phải thụ quả cũng gọi là: ditthadhammavedaniyakamma: như trên.

Nghiệp cho quả nhăn tiền có hai:

A- Vui
B- Khổ.

A- Nghiệp Lành Cho Quả Nhăn Tiền

Chú thích: Trong kinh đô raajagaha có chàng nhà nghèo tên Pu.n.na phải làm tôi mọi cho một triệu phú gia (làm ruộng mỗi ngày) vợ y thường bữa đem cơm cho dùng.

Ngày kia Đức Xá Lợi Phất xuất diệt thọ tưởng định (Nirodhasamaapatti) rồi quan sát thấy rằng: vợ của Pu.n.na có thể cúng dường được và khi Ngài đă thọ rồi, chàng Pu.n.na sẽ thành địa vị triệu phú gia. Thấy như thế Ngài mặc y mang bát đi theo đường mà vợ chàng Pu.n.na đang đem cơm cho chồng. Gặp Đức Xá Lợi Phất, nàng rất hoan hỉ đem thực phẩm dành cho chồng, dâng hết đến Ngài, rồi trở về nhà lấy thực phẩm mới cho chồng. Khi chồng nàng dùng xong, nàng mới thuật lại, việc cúng cơm đến Đại Đức và cầu chàng hoan hỉ phước thí thực ấy.

Chồng nàng cũng đồng vui thích như vợ, xong rồi chàng Pu.n.na trở ra cày ruộng nữa. Những lằn đất cày đều biến thành vàng tức tốc. Chàng Pu.n.na mới đem câu chuyện tâu cho đức vua rơ. Vua sai người đến chở vàng ấy đi, nhưng khi chở lên xe th́ vàng trở thành đất. Nhà vua biết rằng phước dành riêng cho Pu.n.na, nên vua bèn phong chàng làm đại phú gia m ahaadhanase.t.thi.

B- Ditthadhammavedaniiyakamma - Ác:

Nghiệp ác của mandagoghaataka (người hàng ḅ)

Như có tích rằng: Có người hàng thịt giết ḅ bán để nuôi sống. Y làm nghề này hơn năm mươi năm. V́ đă thường dùng thịt, trong mỗi bữa ăn nên phải có thịt ḅ y mới ăn cơm được. Ngày kia vợ hắn bán hết, không có đủ thịt để làm món ăn, nên hắn giận không dùng cơm, liền cầm dao ra cắt lưỡi ḅ sống, bảo vợ đem nướng rồi ngồi chờ ăn. Khi vợ hắn nướng xong đem cho hắn dùng ngay, nhưng miếng thịt lưỡi ḅ chưa xuống đến dạ dày quả của nghiệp ác phát sinh tức khắc, nghĩa là lưỡi của n anda rớt liền xuống mâm cơm. N anda la khóc như tiếng ḅ, chịu vô cùng khổ sở, chết rồi thụ sinh trong vô gián địa ngục (a viciinakara).

Ác Nghiệp Của Nàng Cincamaanavikaa

Trong sơ giác thời Phật giáo (p athamabodhikaala) lợi danh phát sinh rất nhiều đến Chư Tỳ khưu trong Phật giáo.

Bọn ngoại đạo th́ suy vi, kém sút, nên các thầy sinh ḷng ghen tỵ, mong được lợi danh về ḿnh, bèn hội họp nhau để trù tính mưu mô, làm cho hư danh mất lợi đến Phật giáo. Rốt cuộc các thầy đồng ư nhau rằng: kế hoạch sẽ được kết quả do nàng Ci~ncamaanavikaa . Như thế, khi nàng Ci~ncamaanavikaa vào chùa các sư ngoại đạo giả bộ bất b́nh không thốt lời chi cả. Nàng hỏi:

- Bạch các Ngài giận tôi về vấn đề ǵ, nên không tỏ lời chi cùng tôi?

Các thầy đáp:

- Chúng tôi không giận chi nàng đâu, nhưng hiện nay nàng không hiểu sao; chúng ta đâu c̣n được an vui ǵ, bởi Đức g otama (Cồ Đàm) làm cho chúng ta phải khổ sở.

- Vậy, tôi phải làm thế nào cho các Ngài được vui?

- Nàng có sắc đẹp, chúng ta thấy nàng có thể làm tội đến Đức cồ đàm được.

Nghe các thầy ngoại đạo nói như thế, nàng Ci~ncamaanavikaa hiểu ngay nên nhận lời rồi từ giă trở về nhà.

Từ đấy, trong mỗi buổi chiều mát, hàng Phật tử đă thính pháp xong từ Đức Thế Tôn trở về nhà. Nàng Ci~ncamaanavikaa đi theo con đường vào k ỳ v iên tịnh xá, khi có người hỏi nàng đi đâu? Nàng đáp: "Đi vào kỳ viên tịnh xá".

Đến buổi sáng khi tín đồ dẫn nhau đến chùa th́ nàng lại trở về.

Thiện tín hỏi th́ nàng đáp: "Tôi từ k ỳ viên tự trở về".

Như thế, trải qua nhiều ngày quần chúng đem ḷng ngờ vực. Sau rồi nàng có cho họ biết rằng: nàng vào ngụ chung cùng Đức cồ đàm . Dần dần nàng độn bụng dường như phụ nữ mang thai, cho đến khi độn bụng to như gần đến kỳ lâm bồn. Xong, nàng đến trước mặt Phật, giữa tứ chúng (Chư Sư và Thiện tín đang nghe pháp), nàng khiển trách Đức Phật rằng:

- Này Đức Cồ đàm ! Ngài hăy quan sát coi có xứng đáng không? Tôi nay đă thai nghén gần ngày; Ngài lầm tưởng như không hay biết hử? V́ sao không tội nghiệp tế độ Ci~ncamaanavikaa chút nào vậy. Ngài chỉ có biết khoái lạc, nhưng không biết sắp sửa cho tôi khai hoa nở nhụy được an toàn sao? Dù Ngài không biết cách lo liệu thế nào, th́ cũng nên bảo kẻ hộ Ngài như đức vua p asenadikosala, ông cấp cô độcv.v. trông nom sự sinh đẽ thế sao? Ngài chỉ biết thỏa măn t́nh dục, đến lúc tôi mang thai lại chẳng có một lời thăm hỏi đến Ci~ncamaanavikaa chút nào cả.

Có phương ngôn rằng:"Khi nàng Ci~ncamaanavikaa thốt lời nhiếc mắng Đức Phật vậy, ví như người làm hại vầng trăng trên không trung xa vong làm hại được vầng trăng không hay biết bị ai làm hại thế nào, hằng lóng lánh sáng ngời như thường; và ví như người dùng cục phẩn nhét vào mồm của chính ḿnh, thật vậy".

Khi nàng Ci~ncamaanavikaa thốt lời nhục mạ giữa tứ chúng như vậy, Đức Phật đáp rằng:

- Nàng Ci~ncamaanavikaa ! Những lời nàng thốt đây, không rơ rệt đến kẻ khác mà họ cũng không hay không thấy, chỉ có như lai và nàng rơ câu chuyện ấy, có phải vậy chăng? Trong lúc ấy, chỗ ngụ của Đức Trời Đế Thích chuyển động (Pháp cú kinh có nói: chỗ ngụ của Đức Đế Thích là một tảng đá màu vàng, dài lối sáu mươi do tuần, rộng sáu mươi do tuần, dầy mười lăm do tuần, khi Đức Đế Thích ngự lên th́ nó hạ ḿnh xuống, Ngài xuống rồi nó phồng lên). Khi bảo tọa của Ngài có dáng điệu như thế, Đức Đế Thích dùng thiên nhăn quan sát hiểu ngay rằng nàng Ci~ncamaanavikaa đang vu cáo Đức Thế Tôn bằng lời thô lỗ giữa Tứ Chúng làm cho họ ngờ vực. Ngài liền xuống k ỳ v iên tịnh xá, rồi biến làm con chuột vào cắn dây và vải mà nàng đă độn cho đứt ĺa rơi xuống giữa hàng Tứ Chúng.

Thấy như thế, đại chúng biết rơ rằng nàng Ci~ncamaanavikaa vu cáo Đức Thế Tôn, họ bèn bu chung quanh giết nàng, đất liền nứt ra rút nàng vào trong vô gián địa ngục.

Nghiệp Ác Của Hoàng Tử Duttha Rajakumara

Hoàng tử đi đến vườn ngự uyển thấy chúng dân đang cúng dường Đức Độc Giác Phật, không tỏ ḷng tôn kính Ngài, Hoàng tử phát sân xúi voi đuổi Đức Độc Giác Phật cho đến cùng, rồi giật bát của Ngài đổ bỏ thực phẩm xuống đất rồi nói tiếp rằng: "Đức Thầy giận ta, làm ǵ đến ta được" .

Khi đó nghiệp dữ cho quả nhăn tiền, khắp thân thể Hoàng tử nóng nảy rất mong được uống nước, nước đem đến từ các nơi cho Hoàng tử uống nhưng, các đồ đựng nước đều cạn khô. Không có nước uống nên Hoàng tử thác, rồi đọa vào vô gián địa ngục trong khi ấy.

2. Upapajjavedaniyakamma:

Upapajjavedaniyaakamma: là nghiệp cho quả khi đă sinh ra rồi trong kiếp kế tiếp là nghiệp nhẹ hơn trước, và sẽ cho quả khi đă sinh ra trong kiếp kế bên.

Nghiệp này có hai:

a/. Thiện
b/. Ác .

Trong kinh có ghi rằng: Nghiệp này chỉ về tác ư thứ bảy cho kết quả đến người tạo lành hay dữ theo tác ư tốc lực tâm thứ bảy, cho thành tựu quả, trong cơi kế tiếp đời hiện tại này, tức là trong kiếp thứ nh́ tiếp theo.

a/. Upapajjavedaniyakamma lành có tâm là:

1) p athamajhaana: Sơ thiền
2) d utiyajhaana: Nhị thiền
3) t atiyajhaana: Tam thiền
4) c atutthajhaana: Tứ thiền

(Bốn thiền hữu sắc).

5) a kaasaa~na~ncaayatanajhaana: Hư không vô biên thiền.
6) v i~n~naa~nancaayatana: Thức vô biên thiền.
7) a ki~nca~n~naayatana: Vô hữu sở thiền.
8) n evasa~n~naanaasa~n~naayatana: Phi phi tưởng thiền.

(Bốn thiền vô sắc)

1) Sơ thiền có năm chi: suy, sát, phỉ, an và định.
2) Nhị thiền có bốn chi: sát, phỉ, an và định.
3) Tam thiền có ba chi: phỉ, an và định.
4) Tứ thiền có một chi: là định, nhưng sự thật th́ có xả nữa, như thế th́ có hai chi định và xả.

Người đắc thiền không dứt, khi chết sinh trong cơi Phạm thiên. Đắc thiền hữu sắc được lên cơi Phạm thiên hữu sắc. Đắc thiền vô sắc đến cơi Phạm thiên vô sắc.

Vấn: Có lời hỏi rằng: "Người không đắc thiền, nhưng phát tâm làm lành (bố thí, tŕ giới v.v. ) được sinh trong cơi trời, như thế được gọi là: upapajjavedaniiyakamma lành không, tại sao?"

Đáp: Cũng gọi là upapajjaniiyakamma lành như nhau, v́ cho quả trong kiếp kế tiếp, nhưng khác nhau là các nghiệp lành như bố thí, tŕ giới v.v... không nhứt quyết rằng sau khi chết sẽ được sinh trong cơi trời, bởi có người cũng sa trong ác đạo trước, khỏi rồi mới được lên trời. Nhưng về thiền định, như đă giải trên th́ quả quyết rằng, nếu đắc thiền mà không dứt th́ phải sinh trong cơi Phạm thiên, sau khi thác.

Last edited by VoThuc; 08-07-2007 at 11:37 PM.
Reply With Quote
  #8 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:41 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
b/. Upapajjavedaniyakamma ác là:

1/- Giết mẹ.
2/- Giết cha.
3/- Giết Đức A-la-hán (Thinh văn giác).
4/- Chích máu Phật tổ.
5/- Chia rẽ Tăng.

Người phạm trong ngũ nghịch đại tội ấy ( a nantaraayakamma) dù có tạo được các phước (như tạo tháp xá lỵ bằng vàng, chùa hoặc trai Tăng trong sa bà thế giới) cũng không thể ngăn ngũ nghịch đại tội ấy được, khi thác chắc chắn phải đọa trong vô gián địa ngục.

Giải rằng: Hành giả quyết tâm hành thiền được thuần thục, từ tứ thiền hữu sắc đến tứ thiền vô sắc, thác rồi được sinh trong cơi Phạm thiên do năng lực một thiền nào. Khi thiền cao nhất cho quả, rồi các thiền thấp th́ a hosikamma là không cho quả. Ngũ nghịch đại tội cũng vậy, nếu người nào phạm cả năm tội, một tội nào cho đầu thai, th́ các tội kia cũng ngưng cho quả.

Quả quyết rằng: u papajjavedaniyakamma cho quả ngay trong cơi thứ nh́, tiếp theo kiếp Này.

upapajjavedaniyakamma ví như thợ săn bắn nhằm thịt rừng như tích devadatta ( đề bà đạt đ a) và vua A Xà Thế.

3. Aparaaparavedaniyakamma:

Tiếng a paraaparavedaniyakamma: là nghiệp cho quả trong các kiếp sau (tức là trong các cơi sau sau), từ cơi thứ ba nối tiếp cơi thứ hai (u papajjavedaniyakamma) khi có dịp là cho quả ngay, ví như loài chó đuổi theo thú rừng, rượt theo kịp trong nơi nào, nó cắn xé trong nơi ấy.

Chú thích: Người tạo nghiệp nào rồi, sẽ thụ quả trong các kiếp sau không có thể nhất định thời kỳ cho quả. Đây chỉ về tác ư tạo nghiệp, tốc lực tâm nhảy đến năm bực gọi là: a paraaparavedaniyakamma. Nghiệp này không có ahosikamma nghĩa là chưa đắc A-la-hán đạo, chưa đoạn tuyệt được phiền năo luân hồi , th́ nghiệp này dính theo măi, bất cứ là kiếp nào khi được cơ hội là cho quả ngay; ví như chó đuổi theo kịp thú, nó hằng nhảy đến cắn xé không chịu buông tha. Sớm hay muộn không nhứt định, chó chỉ rượt theo măi măi. a paraaparavedaniyakamma hằng dính theo chúng sinh mỗi kiếp, chẳng có một ai thoát khỏi được.

Nghiệp này có hai:

a/- Thiện
b/- Ác.

a/- Apraapavedaniyakamma ác:

Nếu có nghiệp lành mạnh hơn th́ ác chưa cho quả, khi thiện giảm sức ác mới có chủ quyền.

Chú thích: j atilasetthii (triệu phú gia j atila) trong kiếp chót triệu phú gia này sinh làm con một kỷ nữ, nàng dạy tỳ nữ để trong nồi rồi đem bỏ giữa đại lộ, đấy là a paraaparavedaniyakamma ác.

Tích Đức Bồ Tát:

Thuở Ngài sinh ra làm m ahaajanakabị ch́m thuyền giữa bể phải lội đến bảy ngày. Kiếp làm suva.n.nasaama đạo sĩ bị tên của vua k apilaya đều là quả của a paraaparavedaniyakamma ác.

Tích bảy vị Tỳ khưu:

Trong thời kỳ Đức Phật chúng ta có bảy vị Tỳ khưu đi đến hầu Phật, giữa khoảng đường vào nghỉ trong một cảnh chùa. Vị Sư cả bèn cho ngụ trong một hang núi, nhưng nửa đêm có một tảng đá rớt xuống che lấp miệng hang, dù là ai đến tiếp mở thế nào cũng không được.

Cả bảy thầy Tỳ khưu ấy chịu đói khát trong hang đá đến bảy ngày. Đến ngày thứ tám tảng đá ấy tự nhiên ngă ra.

Các thầy bạch cho Phật rơ và hỏi về nghiệp cũ của ḿnh. Đức Thế Tôn giảng rằng: ấy là quả của nghiệp cũ của các thầy đă đuổi con kỳ đà vào trong g̣ mối đến bảy ngày.

b/- Aparaaparavedaniiyakammalành:

Nếu nghiệp dữ có sức mạnh hơn đang cho quả th́ a paraaparakamma lành không cho quả được.

Khi nghiệp dữ yếu sức, nghiệp lành Này mới là chủ động.

Chú thích: Nàng m allikaa Hoàng hậu của vua p asenàdikosala lúc c̣n sinh tiền, bà có nhiều đức tin đề xướng cuộc tài thí vô song (a sadisadaana) nhưng khi thác phải sinh trong địa ngục bảy ngày rồi mới lên cơi Trời. Đây là a paraaparaniiyakamma lành.

4.- Ahosikamma:

Ahosikamma: là nghiệp đă cho quả rồi nghĩa là nghiệp đă qua thời kỳ cho quả, ví như hạt giống hết phát nha vậy.

4.2 Loại II nghiệp cho quả theo phận sự

1.-Janakakamma:

janakakamma: là sinh sản. Nghĩa là có thể dẫn người tạo nghiệp từ kiếp này đi sinh ra trong kiếp khác. Ví như cha sinh con gọi là k ammayonii (nghiệp sinh sản).

G iải rằng: Lành và dữ dẫn đi thụ sinh, không cho quả trước khi thụ sinh, chỉ cho quả trong thời kỳ thụ sinh. Nghiệp cho quả như vậy gọi là: Janakakamma. Nghiệp lành và dữ cho quả trước khi thụ sinh về phần các nghiệp khác. Janakakamma, ví như mẹ sinh con, chỉ là người sinh mà thôi, phần vú nuôi săn sóc, trông nom hài nhi.

2.- Upatthambhakakammam:

upatthambhakakamma: là nghiệp vào cấp dưỡng, nghĩa là sau khi đă sinh, nghiệp này mới vào cung cấp, cũng gọi là k ammabandhu (nghiệp là thân quyến) nếu là j anakakamma lành th́ nuôi nấng hài nhi được an vui, ví bằng là y anakamma dữ th́ cung cấp thêm sự khổ.

C hú thích: u pa.t.thambhakakammam lành ủng hộ cho sự tăng gia sự thịnh lợi và sự thạnh thế.

Tích đức vua adadhamaasakaraaja:

Có ghi trong kinh chú giải rằng: Đức vua a dadhamaaraaja trước là một người nghèo gánh nước mướn, dành để được năm cắc. Ngày kia Đức vua Baaraanasii báo cáo cho biết sẽ làm đại lễ hài kịch ai không dự vào th́ bị phạt vạ. Vợ chồng anh nhà nghèo ấy bèn tính góp tiền lại được một đồng.

Chia một phần để mua hoa thơm, một phần mua thực phẩm. Đồng ư cùng nhau rồi, chồng định đi lấy tiền đă giấu phía bắc thành phố, xa nhà lối mười hai do tuần.

Đi đường lúc trời nắng gắt, nóng nực như hơi lửa, dù như thế y vẫn vui thích, mặt mày hớn hở đi và hát, dường như đi trên đường mát mẻ. Khi qua trước hoàng cung, Đức vua u dayaraaja nghe thấy bèn ra lịnh cho quan hầu ra gọi y vào yết kiến và Ngài phán rằng:

- V́ sao người vui thích ca hát giữa đường, lúc trời nắng chang chang?

Hắn tâu rằng:

- Tâu lịnh Hoàng thượng mặt trời dù nắng gắt đến đâu cũng không sao bằng ánh nóng của t́nh dục, tâu lịnh hoàng thượng, tôi đi lấy tiền về chung góp với của vợ tôi.

Nghe như vậy, Đức vua rất hoan hỉ chia nửa giang sang cho và phong cho vợ hắn làm hoàng hậu, rồi bố cáo cho nhân dân rằng: nay có hai vua cùng nhau thống trị trong nước. Đức vua mới ban hiệu cho là a dadhamaasakaraaja. Đây là thí dụ nghiệp u pa.t.thambhakakamma lành và cung cấp.

Nghiệp này vào cấp dưỡng có hai:

1.- Phá tiêu tai nạn.
2.- Bổ khuyết của cải.

Như tích: Có một gia đ́nh kia, từ ngày kết hôn đến ba năm không có con, rồi tŕ trai để cầu con, không lâu người vợ thai nghén, song gia đ́nh nghèo khổ. Sau khi sinh được con trai th́ trở nên khá dần dần. Con trai ấy nên bốn năm tuổi th́ ngày càng phú túc, đây là: u pa.t.thambhakakamma lành vào ủng hộ đứa trẻ đó.

Về upatthambhakakamma dữ cũng vào cung cấp cho sa sút khốn cùng.

Nghiệp này cũng có hai phận sự:

1.- Làm cho sinh tai nạn.
2.- Khiến của cải tiêu tan.

Lời chú giải có nói, nghiệp vào ủng hộ về phần dữ, v́ thiếu pháp từ ái, có tâm keo kiết và làm hại kẻ khác.

Như tích: Anandasetthii và quỷ Dạ xoa dưới đây:

Anandasetthii (triệu phú gia Ananda) keo kiệt, không bố thí và tŕ giới, từ ngày sinh ra, nhưng được làm triệu phú do tiền kiếp có trai tăng đến chư Tỳ khưu.

Bởi nghiệp bủn xỉn ấy, sau khi thác phải thụ sinh vào nhà bần khổ. Từ ngày đầu thai vào ḷng mẹ, bọn ăn xin trong nhóm quen hành khất đủ nuôi sống, th́ trở nên thiếu thốn. Sau rốt, bọn ăn mày không cho người mẹ mang mển ấy đi chung cùng bọn. Khi sinh được hài nhi, người mẹ rời bỏ con, v́ nếu đem theo th́ hành khất không được.

Lớn lên nhớ được tiền kiếp, trẻ ấy đi ngay đến nhà ḿnh trong đời trước là triệu phú, song bị các con không cho vào nhà, c̣n thêm bị đánh đập khổ sở nữa. Đây là nghiệp cấp dưỡng về phần ác.

Trong kinh chú giải có ghi rằng, quả của nghiệp ác này phát sinh đến người bội ân hại kẻ khác rằng:

Người tính làm dữ kẻ không làm hại lại, phải chịu khổ muôn phần là bị hành phạt nặng nề, tiêu tan của cải, loạn trí, bị vu cáo, lửa cháy nhàv.v.

3.- Upapiilikakamma:

u papiilikakamma: là nghiệp vào áp chế. Nghiệp này trái với j anakakamma khi j anakakamma sinh sản rồi u papilikakamma vào ngăn quả của j anakakamma không cho nẩy mầm đầy đủ. Nếu j anakakamma lành sinh ra cho đẹp th́ nghiệp kia vào ngăn cho giảm sức như câu"j otitamaparaayano: sáng tới rồi, có tối đi phía trước". Nếu j anakakamma dữ sanh ra thấp hèn nghiệp kia cũng vào ngăn như câu:"t amojotiparaayano: tối đến rồi có sáng đi phía trước" gọi là nghiệp ngăn cho giảm.

u papiilikakamma là nghiệp vào áp chế quả của nghiệp khác, trong khi nghiệp này cho quả; nghiệp kia theo kịp áp chế sự vui hay khổ, không cho vui và khổ trú vững lâu dài.

Chú giải: Nghiệp nào vào áp chế sự vui và sự khổ của các nghiệp, rồi tự ḿnh cho quả, nghiệp ấy gọi là u papiilikakamma. u papiilikakamma chỉ chờ làm cho giảm bớt quả của các nghiệp khác, chia ra có hai:

1.- Lành.
2.- Dữ.

Chú thích: Tích Hoàng tử s unakkhattalicchavii, ban đầu phát tâm vui thích trong Phật giáo, vào xuất gia theo luật pháp rồi hành thiền đắc nhăn thông, nhưng không được chứng quả cao thêm nữa. Đến ba năm Ngài chán nản, hiểu lầm rằng: "Đức Phật chỉ đắc nhăn thông, nên không dạy ta đạt đến nhĩ thông. Nếu đă đắc nhĩ thông th́ Ngài đă dạy ta rồi". Khi đă nghĩ quấy như vậy: s unakkhattalicchavii xin hoàn tục rồi tu theo ngoại đạo sau khi thác đọa trong a tỳ địa ngục.

Về upapiilikakamma lành đến ngăn, áp chế quả của ác nghiệp, xin xem tích dưới đây:
Reply With Quote
  #9 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:43 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
Chàng Vaatakaalaka được vua phong làm đao phủ thủ trong thành r aajagaha, có phận sự hạ sát kẻ cướp. Tựu chức ấy hơn năm mươi năm rồi về hưu. Thường lệ y không mặc y phục mới, đẹp, trong thuở c̣n tại chức. Nên chi khi được về hưu y mong trang sức cho đẹp, bèn bảo vợ nấu cơm sữa. Y đi tắm rửa xong, mặc y phục mới trở về nhà, giữa đường gặp Đức Xá lợi phất đi tŕ b́nh, y nảy tâm vui thích, thỉnh Ngài về nhà dâng cơm sữa. Đức x á l ợi p hất ngọ thực xong chú nguyện rồi Ngài về chùa. Chàng đao phủ thủ ấy theo đưa, rồi trở về bị ḅ báng chết giữa đường. Do sự thí thực ấy, y được sinh lên cơi Trời.

Theo tích này, cho thấy rằng, thiện nghiệp áp chế ác nghiệp (v́ y tạo ác nghiệp không ít) phải sa trong khổ cảnh, nhưng nhờ được làm lành áp chế ác nghiệp, được sinh lên cơi Trời.

4.- Upacchedakakamma:

u pacchedakakamma: là nghiệp vào sát hại , nhưng trong Thanh Tịnh Kinh ( v isuddhimagga ) gọi là Upaghaatakakamma .

Trong Kinh chú giải có ghi:

upapii.likakamma như đă giải Upaghàtakakamma hay upacchedakakamma nói đại khái th́ giống nhau, sự cho quả cũng như nhau, chỉ khác nhau về tiếng Pàli là: u papii.likakamma dịch là vào áp chế .

upacchedakakamma dịch là: vào sát hại. upacchedakakamma này chia ra có hai:

1.- Lành.
2.- Dữ.

Chú giải: Dẫn tích Long vương e raakapattanaagaraaja đây cho thấy rằng, nghiệp dữ cắt đứt nghiệp lành như: Long vương e raakapattanaagaraaja này trong kiếp trước là một vị Tỳ khưu trong thời kỳ Phật k assapa. Có đức tin tu p hạm hạnh được hai muôn năm. Ngày kia, đi thuyền, Ngài nắm lá gừa tại một mé sông, khi ghe đi th́ lá gừa ấy đứt, rồi Ngài quên sám hối. Trong giờ sắp chết, Ngài nhớ đến, mong sám hối theo luật định, nhưng t́m không có Tỳ khưu, Ngài phát tâm bôn chôn lo ngại, chết rồi sanh làm Long vương danh là e raakapatta.

Về nghiệp lành bị nghiệp ác cắt đứt, có tích như vầy:

Cha của một vị Tỳ khưu là người thợ săn giết thú đem bán để nuôi mệnh, đến tuổi già mới vào xuất gia làm Tỳ khưu nơi vị Tỳ khưu con trai của y. Vị này cho học thiền nhưng chưa có kết quả chi. Tâm của thầy vẫn nhớ tưởng đến thú đă giết. Thầy bèn bạch cho ông con nghe, ông con khuyên tĩnh cho tham thiền măi, khi gần chết, ông con nghĩ rằng, cha ta không nên sinh trong khổ cảnh, nên ông liền t́m lễ vật cúng dường Tháp bảo. Vị Tỳ khưu cha nh́n xem các lễ vật cúng dường để trên giường ngay trước mắt, ông vui thích rồi dùng lễ vật ấy đem cúng tháp nên được sinh lên cơi Trời.

4.3 Loại III - Nghiệp cho quả theo thứ tự

Garukamma: dịch là "nghiệp nặng", có hai:

1.- Nghiệp ác nặng thuộc về ngũ nghịch đại tội (p a~ncàntaràyakamma).
2- Nghiệp thiện cao (thuộc về thiền định).

Trong khi thụ quả, nghiệp nặng cho quả trước (ví như các đồ vật) sắt, đáv.v. từ trên cao rơi xuống, đồ vật nào nặng tất nhiên đến mặt đất trước. Nghiệp dữ nặng hằng cho sinh trong khổ cảnh. Nghiệp lành cao cho lên nhàn cảnh. Dù người đă tạo các nghiệp (nghiệp nặng lẫn nhẹ) nghiệp nặng vẫn cho quả trước.

Về nghiệp lành cao như tích đức bồ tát (tiền kiếp Đức Phật chúng ta). Một kiếp kia, Ngài xuất gia là đạo sĩ tu trong núi tuyết sơn, đắc bát thiền. Ngày nọ muốn được nếm vị ngọt, mặn trong thế gian, nên Ngài đến kinh đô b aaraanaasi đi khất thực trước hoàng cung. Đức vua baaraanaasi xem thấy bèn phát tâm hoan hỉ trong oai nghi của Ngài. Đức vua bèn sai quan đến thỉnh vào đền, dâng cúng các món cao lương mỹ vị. Xong đức vua yêu cầu Bồ tát ngự trong vườn thượng uyển và vào hoàng cung ngọ thực mỗi ngày.

Có một lúc, đức vua cần phải thân chinh dẹp giặc ngoài biên thùy, nên dạy bà hoàng hậu phải phụng sự đạo sĩ Bồ tát. Buổi kia đức Bồ tát bay vào hoàng cung được thấy nhan sắc kiều diễm của hoàng hậu v́ bà quên bổn phận. Vị đạo sĩ bèn đứt giới với hoàng hậu, thiền định cũng không c̣n. Các quan đại thần biết rơ nhân ấy nên gởi sớ tâu vua. Đức vua Baaraanaasi khi đă dẹp an phiến động liền khải ca hồi trào, ghé vào vườn ngự uyển hỏi đạo sĩ. Đạo sĩ thú tội. Đức vua xá lỗi và nhắc nhở Bồ tát hành đạo như xưa. Vị đạo sĩ đắc thiền như trước, rồi bay lên không trung xin từ biệt, dù đức vua thỉnh cầu lại nữa, đức Bồ tát cũng không nhận lời, Ngài bay trở về tu trong tuyết sơn như trước.

Hành thiền không dứt, thác rồi đức Bồ tát được sinh trong cơi Phạm thiên.

Về g arukamma ác , có tích nàng s unadrii như vầy: Trong thời kỳ Phật giáo, phái xuất gia theo đạo lơa thể thấy rằng lợi danh mỗi ngày càng giảm nhưng bên Phật giáo th́ càng tăng, nên chúng t́m dịp để vu cáo Đức Thế Tôn.

Họ hội họp nhau để mưu hại Phật. Họ đồng ư rằng, phải cần nàng s unadrii giả bộ làm phụ nữ mang mển, rồi cho kẻ cướp giết nàng đem bỏ gần hương thất của Phật, cho quần chúng tin rằng Đức Thế Tôn ám sát nàng để giấu nhẹm nghiệp xấu. Dầu thế, đại chúng vẫn hiểu được sự thật. Nàng s unadrii thi hành theo kế hoạch ấy. Mỗi buổi chiều mát tứ chúng nghe pháp xong trở về, nàng s unadrii đi ngay theo con đường ấy vào Kỳ Viên tịnh xá. Nàng giả bộ như ḿnh đă ngụ trong chùa.

Phái lơa thể đi tuyên cáo rằng, nàng s unadriingụ chung cùng Đức Cồ Đàm. Nhiều người nhẹ tai thiếu sự suy xét, không t́m theo nhân quả nên tin theo, không lâu, nàng sunadŕ bị ám sát, thụ sinh trong địa ngục .

Phe lơa thể, khi đă dạy kẻ cướp giết trộm nàng s unadrii rồi, vào yết kiến Đức vua. Nhà vua bèn cho người trinh thám cho đến khi thấy rơ sự thật, rồi Ngài ra lệnh bắt bọn tu lơa thể hành phạt và bố cáo cho nhân gian rơ lẽ phải.

2.- Bahulakamma:

bahulakamma: là nghiệp thường có. Có khi gọi là Acinnakamma (nghiệp quen làm).

Nghiệp Này có hai:

1.- Dữ.
2.- Lành.

Về nghiệp dữ, có tích rằng: Tên c unda giết heo để nuôi mệnh đă lâu năm, đến khi nghiệp theo cho quả th́ hắn la nghe tiếng như heo ḅ, trườn vô ra trong nhà. Chư Tỳ khưu đi khất thực, nghe tiếng như vậy, tưởng rằng họ giết heo để cúng tế. Các Ngài bạch hỏi Đức Thế Tôn, mới hiểu rơ sự thật. Đức Phật giảng thêm rằng: "người làm nhiều việc dữ, trong đời này hằng than van rên rỉ, chết rồi càng đau khổ trong kiếp sau".

Về nghiệp lành có giải tích như vầy:

Khi gia thế của ông trưởng giả c ấp c ô đ ộc, dần dần sa sút, chỉ c̣n có một cô gái cũng nghèo, dù thế, nàng cũng dâng bát mỗi ngày đến một vị sư, cho đến lúc không c̣n vật ǵ cúng nữa. Nàng t́m đi làm công mỗi ngày, lấy tiền mua vật thực để cúng dâng. Nhà vua hay câu chuyện này, cho người t́m nàng vào hoàng cung rồi phong cho làm hoàng hậu. Từ đó nàng có dịp, mỗi ngày dâng cúng đến chư Tăng càng đông. Cúng dường đến các pháp sư, giáo sư, khi thác, nàng được sinh lên cơi Trời.

nghiệp lành của hoàng hậu này gọi là b ahulakamma. V́ được làm thường thường không ngừng nghỉ. Không cần biết giàu hay nghèo, khi đă năng tạo nghiệp lành th́ phước báu càng tăng theo thứ tự, gọi là b ahulakamma. Nếu không có nghiệp nặng th́ b ahulakamma cho quả như thế.

3.- Aasannakamma:

a asannakamma: là nghiệp cận thời nghĩa là nghiệp tạo hay nhớ được khi gần chết.

Giải rằng: khi không có b ahulakamma, là không có tạo nghiệp thường thường, dù là ít th́ A asannakamma cũng cho quả. Ví như ḅ trong chuồng, khi kẻ chăn vừa mở cửa, ḅ nào đứng gần cửa dù là ḅ già, yếu, cũng được ra trước các ḅ khác (có sức lực hơn).

x in giải cho dễ hiểu rằng: tâm của người, trước khi chết, hằng quyến luyến vợ con, của cải nhiều hơn. Nên chi, nếu không thường niệm tưởng nghiệp lành của ḿnh đă tạo th́ ắt lầm lạc, phải sa trong ác đạo .

A asannakamma là nghiệp cận thời trong việc lành và dữ, nghĩa là người nào nhớ được nghiệp lành nào trong giờ hấp hối, nghiệp ấy sẽ cho quả ngay, như ḅ đứng gần cửa chuồng vậy.

Theo như hai lẽ đă giải đây, nếu có trí óc thiển bạc th́ hiểu rằng là tương phản nhau, nhưng sự thật không phải thế, v́ tâm tưởng đến việc lành đă làm trong khi gần chết hoặc đă tạo trước, mà nhớ kịp trong giờ hấp hối gọi là Aasannakamma cho quả đi thụ sinh trong nhàn cảnh được .

Có kẻ nghi ngờ rằng: nếu như thế, ta chỉ làm lành chút ít để dành rồi ta không thiết đến sự lành ta (sát sanh, trộm cắpv.v. ) đến lúc hấp hối ta sẽ tưởng đến nghiệp lành trước, như vậy cũng được lên nhàn cảnh, cần ǵ phải cố tâm làm phước cho vất vả.

Giải: t a không nên lầm rằng, nghiệp luật là điều quy định của nhân quả, nó hằng thực thi theo chế độ bất biến của nó, nếu người đă tạo phước chan chứa để dành rồi bỏ qua, không lưu tâm nghĩ đến mỗi ngày, khi hấp hối khó tưởng đến được, bởi tâm của phàm nhơn quen quyến luyến vợ con, của cải, thế sự, từ vô thủy dĩ lai, nên khó rứt để nhớ niệm đến đạo đức trong giờ sắp chết? Rồi phải sa trong ác đạo .

4.- Katattaakamma:

Kattaakamma: là nghiệp vô ư, nghĩa là thiện và ác không thuộc về Garukamma, Bahulakamma và cũng không phải là Aasannakamma cả và người tạo cũng không rơ là phước hay tội. V́ là nghiệp không biết, chỉ làm thôi.

Nghiệp này không nhất định thời kỳ cho quả. Thí dụ: như tên mà người bắn, nhưng không định bắn đâu. Nếu không có Garukamma, Bahulakamma và Aasannakamma th́ nghiệp này cho quả theo thế lực của ḿnh.
Reply With Quote
  #10 (permalink)  
Old 08-07-2007, 11:45 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
THIÊN V

NGHIỆP TRONG PHẬT GIÁO
Do nhân nào, mới có giáo lư về vấn đề nghiệp?

V́ trong thời kỳ ấy vô minh đàn áp toàn thể quốc dân Ấn Độ, dân chúng chỉ t́m ở số mệnh rủi may, không quan sát đến đạo đức. Đức Thế Tôn mong cởi mở vô minh ấy, Ngài mới nổi đèn có muôn trùng ánh sáng tức là nhân quả để tỉnh thức chúng dân Ấn Độ.

Lư tưởng về nghiệp trong Phật giáo là sự tiến triển trong đường đạo đức khiến cho khoa học cũng phải bái phục, nh́n nhận bằng sự đứng yên không phản đối.

Phật giáo không mâu thuẩn với khoa học, nói như thế, v́ khoa học cũng như Phật giáo không thừa nhận học giả mê tín.

Với bất cứ cái ǵ cần quan sát tỉ mỉ, tinh tế trước, rồi mới nên tin. V́ thế, Phật giáo và khoa học mới không mâu thuẩn nhau. Nói bằng cách vi tế rằng, khoa học có hai môn là: 1- Vật thể; 2- Vô thể.

Khoa học, về vật thể phải cần thí nghiệm để xác nhận, nghĩa là khi muốn biết rằng, "đá" gồm có chất ǵ, th́ phải dùng cách phân tích và thí nghiệm. Nhà khoa học lấy đá chia tách ra xem (gọi là phân tích) cho biết rằng đá ấy có những ǵ, rồi thí nghiệm lại là lấy những chất đă phân giải ấy hoà lại, để xem cho thấy quả quyết rằng, nó là đá in nhau như trước chăng. Cách sau này gọi là thí nghiệm.

Phật giáo thuộc về khoa học vô thể có cách thức chú ư tin như khoa học. Như thế, mới gọi Phật giáo là khoa học, người hành theo Phật giáo hằng được thụ quả xứng đáng theo sự thực hành của chính ḿnh, chẳng có ai thay thế được?

Pháp bảo có sáu ân huệ:

1.- Phật đă thuyết để lại chân chánh (1)rồi.
2.- Tự ḿnh thấy xác thực.
3.- Không chờ thời (khi đắc đạo th́ đắc quả không chậm trễ)(2).
4.- Chứng minh được (3).
5.- Xứng đáng đem vào ḿnh hoặc đáng t́m ṭi (4).
6.- Tự ḿnh được thấy rơ bằng sự thí nghiệm và thực hành theo.


Toàn là cơ sở củng cố là khoa học của nền tảng Phật giáo chân chính. Nếu đă nhận thức như thế, ta nên học hỏi về vấn đề nghiệp trong thiên này.

Tiếng "nghiệp" có nghĩa là làm, hành vi, hành động, động tác, thực hành, thực tiễn, cho đến sự phản ứng hoặc quả dội lại của hành vi nữa .

Trong phật giáo tiếng "nghiệp "mong lấy tác ư là chủ như câu:" c etanaaham bhikkhave kammam vadaami - Này các Tỳ khưu, n hư l ai gọi tác ư là nghiệp". Có ư nghĩa rằng: "Phật giáo giữ theo trung đạo". Dầu, trong luật học Ngài cũng có chế định những điều luật cho Tỳ khưu vô tác ư vi phạm các điều cấm chế, nhưng Ngài cũng không bỏ phép trung đạo. Ngài ngự chế, như thế để pḥng ngừa các Tỳ khưu có khí chất bất nhă, biết hướng thiện sám hối.

Nghiệp là tiếng trung dung(5)(dữ và lành) nếu lành gọi làk usalakamma (thiện nghiệp); dữ là a kusalakamma (bất thiện nghiệp).

Phật giáo lưu tâm rằng nghiệp gồm có ba chi, là:

1.- Có người làm.
2.- Làm bằng tác ư.
3.- Cho quả đến người làm.

Nếu nói theo khoa học, người tức là thân thể; những biến h́nh là quả do sự đè ép, sự cưỡng lại lẫn nhau. Sự hành động và sức phản ứng có thể xảy ra được, dù là hai thân thể không hút nhau như đá nam châm .

Quan sát theo khoa học, ta được thấy rằng sự tạo tác và sức phản ứng hằng cho quả, khiến chúng sanh lay chuyển và có tạo nghiệp th́ có phản ứng, hay nói một lẽ khác rằng, khi có nhân tất có quả, măi măi.

Trong khoa học, sự hành động và sức phản ứng hằng phức tạp khó kiểm soát, thế nào, trong Phật giáo, nghiệp và quả của nghiệp cũng phiền phức như vậy. V́ thế, mới có người không tin nhân quả, phản đối vấn đề nghiệp trong Phật giáo rằng, là không chính xác (6).Như thế, cũng v́ người thiếu sự khảo sát, t́m ṭi nhân quả, chỉ không thừa nhận bằng cách hiểu rằng: Phật giáo là vấn đề hủ lậu(7)đem ra viện dẫn nhưng, thật sự người ấy, là hủ lậu hơn giáo lư. Đấy là sợi tóc che núi. Nhưng hàng học thức hiện đại không nên quan tâm đến.

Phật giáo tin rằng, nghiệp là của riêng ḿnh. Kẻ nào tạo nghiệp ǵ phải chịu quả của nghiệp ấy, đúng với căn bản khoa học cho "hành động và phản ứng" hằng có giá trị ngang nhau, theo phương hướng tương phản nhau. Mọi người sinh ra đồng tạo nghiệp như vậy. Lẽ cố nhiên, mỗi người phải làm công việc bằng thân nghiệp, phải nói năng bằng khẩu nghiệp, phải suy nghĩ bằng ư nghiệp. Khi đă làm nói và nghĩ rồi, quả của nó tức là sức phản ứng phải có như thế. Khi ta tạo nghiệp lành, quả của nó là sự vui vẻ có đến ta, ta làm ác, quả dữ cũng sẽ trả lại cho ta.

Theo Phật ngôn đây, người gieo giống ǵ hằng hái quả ấy. Làm lành được vui, gây dữ gặp khổ. Như thế chỉ cho thấy rằng, nghiệp có đặc tính in như sự gieo giống lúa, tất nhiên được lúa.

Nếu hỏi trở lại rằng, cớ sao, có người trồng xoài, có kẻ gieo lúa hoặc người làm lành, kẻ làm ác?

Đấy là quả của sự suy nghĩ của chúng ta. Như tiếng nói rằng, tất cả sự tồn tại của ta được đều do quả của nghiệp mà ta đă làm từ sự trù tính phương pháp cứu chữa điều khổ.

Trong kinh m ajjhimanikaayamajjhimapa.n.nasaka, có thuyết về ba loại nghiệp:

1.- kaayakamma: Thân nghiệp.
2.- vaciikamma: Khẩu nghiệp.
3.- manokamma: Ư nghiệp.


Thân nghiệp chia ra có:

1.- Ba chánh.
2.- Ba bất chánh.

Gọi là k aayasucaritaa và k aayaducaritaa

Ba thân nghiệp chánh là:

1.- Không sát sanh.
2.- Không trộm đạo.
3.- Không tà dâm.

Ba thân nghiệp bất chánh là:

1.- Sát sanh
2.- Trộm đạo.
3.- Tà dâm

Bốn khẩu nghiệp chánh là:

1.- Không nói dối.
2.- Không chửi rủa.
3.- Không nói lời xúi giục (cho người chia rẽ nhau).
4.- Không nói lời hoang đàng vô ích.

Bốn khẩu nghiệp bất chánh là:

1.- Nói dối.
2.- Chửi mắng.
3.- Nói lời xúi giục (cho người chia rẽ nhau).
4.- Nói lời hoang đàng vô ích.

Ba ư nghiệp chánh là:

1.- Không tham.
2.- Không sân.
3.- Không tà kiến.

Ba ư nghiệp bất chánh là:

1.- Tham.
2.- Sân.
3.- Tà kiến.

Trong cả ba nghiệp (thân, khẩu và ư), ư nghiệp là quan trọng nhứt, v́ thân và khẩu hằng ở trong quyền lực của tâm.

Trong tạng Luật có thuyết về cửa, hoặc lỗ hở (qua lại Dvaara) của nghiệp lành và nghiệp dữ có ba là:

1.- kaayadvaara: cửa Thân.
2.- vaciidvaara: cửa Khẩu.
3.- manodvaara: cửa Ư.


Giải rằng: Những cái qua lại, cửa thân là thân chánh và thân bất chánh; cái qua lại cửa khẩu là khẩu chánh và khẩu bất chánh; cái qua lại cửa ư là ư chánh và bất chánhv.v.

Ngoài ba cửa thuộc về phận sự chính như đă giải, c̣n có thứ nghiệp làm xáo trộn mất thứ tự cũng có. Như sự sát sanh và trộm đạo thuộc về nghiệp chính cửa thân nhưng nếu bảo kẻ khác làm th́ thuộc về cửa khẩu. Nói dối thuộc về cửa khẩu, là cái qua lại đường khẩu, bằng không nói, chỉ ra bộ tịch gặc đầu (để tỏ ư chịu hoặc không) th́ thuộc về cửa thân. Nếu người muốn được một đồ vật mà họ mong mỏi, nhưng không cố ư tính trộm, th́ thưộc về cửa thân, ví bằng, x́ xào rằng làm thế nào mới được của ấy th́ thuộc về cửa khẩu; nếu chỉ tính trong tâm th́ về cửa ư. Những lời giải trên toàn là nghiệp bất chánh. Về nghiệp chánh cũng nên hiểu theo sự tương phản nhau. Nhưng v́ sự hành vi khác nhau, mới có người được quyền cao giàu có, kẻ lại thấp hèn nghèo khó. Đấy toàn là do nghiệp gây nên cả, nghiệp hằng phân hạng người cao sang hoặc thấp hèn không đồng. Theo lẽ thường, nhân loại hằng tạo nghiệp bất chánh do tính ngu dốt, vô học thức như câu:

" paapaani kammaani karonti mohaa -người đời phần nhiều tạo nghiệp bất chánh do óc si mê" (trong mahaaparinibbaana-sutra)".

Moha là ngu si hay đần độn tức là không biết lẽ thật, như người lạc đường trong rừng, không biết được phương hướng để thoát khỏi, cho đến không hiểu tội phước, tà chánh là ǵ.

Những người hiền hằng tạo nghiệp chánh nhiều hơn nghiệp bất chánh kẻ dữ thường làm nghiệp bất chánh nhiều hơn nghiệp chánh. Hơn nữa, khi đă tạo nghiệp, dù chánh hay bất chánh th́ khó sửa chữa lại được như có Phạn ngữ rằng:

" k atassanatthipatikaaram - việc đă làm rồi, sẽ làm trở lại chẳng được ".

Đức Phật hằng lập lại cho hàng phật tử, cố tự tỉnh rằng:

1.- Ta có nghiệp là của ta .
2.- Ta là người thụ quả của nghiệp .
3.- Ta là người sinh ra từ cái nghiệp hoặc có nghiệp là kẻ sinh sản .
4.- Ta có nghiệp là huyết thống .
5.- Ta là người nương tựa vào nghiệp .
6.- Ta phải chịu quả của nghiệp mà ta đă tạo.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 05:22 AM.

A vBSkinworks Design