Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Tủ sách Huyền Bí, Tâm Linh

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #11 (permalink)  
Old 08-07-2007, 10:46 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 181
Đức Phật dạy bảo như thế, cho chư Phật tử tin chắc rằng, vui, khổ mà ta đă được đều là quả dính theo từ nghiệp chánh và nghiệp bất chánh.

Nếu không nhớ nghĩ như vậy, th́ sẽ cẩu thả rằng, nghiệp mà ḿnh đă gây không cho quả.

Những kẻ ngu độn không hiểu nghiệp và quả của nghiệp, không có sự khảo sát rằng quả này sinh từ nghiệp nào và từ đâu mà có. Nếu không nhận thấy, lầm tưởng là kẻ khác làm cho. Sự nghĩ xét thường đến nghiệp như đă giải hằng ban cho ta nhiều lợi ích. Khi gặp quả tốt hay xấu nên hiểu rằng là "quả của nghiệp xảy đến tự ḿnh sáng tác" (a ttasanbhavam). Như thế ta không quên ḿnh, khiển trách kẻ khác và thừa nhận rằng quả vui hoặc khổ hằng phát sanh từ nghiệp của ḿnh. Đấy là nguyên nhân cho ḿnh vui hay khổ. Vả lại sự hiểu biết bất chánh là thấy quả quyết rằng điều vui hay khổ sinh từ kẻ khác hay vật khác, đó là nguyên nhân làm cho bức rức khó chịu, trở lại gây nghiệp như cũ, rồi phải thụ quả khổ măi măi.

Chú thích:
[1] Chân chánh: khi được nghe rồi có thể đè nén được năm pháp cái, được vui, sinh từ thiền định, và thông tuệ bằng sự thực hành được giải thoát.
[2] Ví như ngọn lửa và ánh sáng ngọn lửa (có ngọn lửa tất có ánh sáng).
[3] V́ có nhận đích xác, là pháp trong sạch.
[4] V́ đă thực hành theo sẽ đắc đạo quả.
[5] Trung dung: ở giữa, không thiên lệch.
[6] Chính xác: xác thực.
[7] Hủ lậu: quê mùa, không hợp thời.
Reply With Quote
  #12 (permalink)  
Old 08-07-2007, 10:48 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 181
THIÊN VI

SỰ TẠO NGHIỆP

Quả của nghiệp xảy ra từ sự hành vi của chính ḿnh. Khi ḿnh tạo lành, quả lành sẽ trả lại, làm dữ, quả khổ cũng sẽ đến, như nhau. V́ thế không nên sưu tầm cái chi tốt hoặc xấu từ nơi nào khác, hay người nào khác, ngoài ḿnh.

Những hàng trí tuệ nói rằng, các việc lành mà người ao ước cần dùng nhất là đức tin hướng thiện từ bi, hoặc chánh pháp th́ phải t́m xét cẩn thận trong chính ḿnh, nếu có cũng có trong chính ḿnh, nếu kiếm trong nơi nào hay trong kẻ khác là nan đắc. V́ các pháp ấy hằng sinh từ nơi ḿnh. Nó đến do ḷng từ bi, bằng chánh pháp và tâm chân thật v.v. chẳng có ai cho (vui khổ được).

Chỉ tự ḿnh phải gây dựng theo đức từ bi hay chánh pháp mà thôi .

Hơn nữa, lành hay dữ không định chỗ và không kỳ ngày, người có thể làm lành hay gây dữ được trong mỗi nơi, trong mỗi thời. Việc lành mà người mong được, không cần phải chia nhau cùng làm, v́ nó là vô lượng không có mức cùng tột. Trong đời, ai làm phải đượchưởng quả vui, nếu mọi người đều giúp đỡ lẫn nhau trong việc lành th́ ai ai cũng đều được vui. Ngoài ra, xă hội, quốc độ cũng thịnh đạt, thế giới đều an cư lạc nghiệp.

Trong Kinh Tikanipaata Anguttara-nikaaya có thuyết ba pháp chủ trong việc làm là:

1.- a ttaadhipateyya: lấy ḿnh là chủ
2.- Lokaadhipateyya: lấy đời là chủ.
3.- Dhammaadhipateyya: lấy pháp là chủ.
1.- Lấy ḿnh là chủ như: người làm lành hằng đề cập đến ḿnh là chủ đứng đầu, hay chỉ mong được quả vui đến ḿnh rồi mới làm, theo sự hiểu biết của ḿnh, mong được kẻ khác tôn trọng kính v́ v.v.

2.- Lấy đời là chủ: là lúc muốn làm phước, trước khi khởi công, thường noi theo thế lực của đời, mong đuợc kẻ khác ca tụng, nếu không th́ sợ họ chê trách, hay hành theo thói quen của quần chúng.

Lokaadharateyya cao hơn Attaadhipateyya, v́ c̣n tùy phần đông, căn cứ vào sự hiểu biết của họ. Đặc tính của sự hành thiện lấy đời là chủ, có ba

a/- Làm v́ ao ước được người khen.
b/- Nếu không e sợ người chê.
c/- Làm theo thói quen của đại chúng.

3.- Lấy pháp là chủ như: người làm phước, không đề cập đến ḿnh và đến đời là chủ, hành theo thế lực của chánh pháp. Thấy là đúng, là đáng rồi khởi sự, hoặc làm bằng tâm từ bi v.v. như bố thí, tŕ giới v.v. Kẻ tạo phước lấy pháp là chủ hằng không sai lầm, hối hận.

Dhammaadhipateyya có hai chi, là:

a/- Làm v́ sự thích hợp hoặc chân chính.
b/- V́ thế lực tâm từ bi.

Phương pháp làm lành gồm có hai đặc tính quan trọng là: sự tự tỉnh hay tự quan sát tức là tự vấn rằng:

a/- Nay ta là hạng người nào?
b/- Ta có phận sự ǵ?
c/- Ta đă làm tṛn phận sự chưa?
d/- Phận sự ấy có làm cho người phiền muộn chăng?

Xin dẫn tích căn bản và cách thực hành hoặc tạo nghiệp dưới đây cho độc giả khảo sát.

Trong Kinh Baahitiya-sutra Majjhima-nikaya-pa~n~naasaka có tích rằng:

Trong Phật giáo chúng ta, có đức vua Pasenaadikosala được tṛ chuyện cùng đức Aananda tại mé sông Aciiravadi, như vầy:

Đức vua pasenàdikosala hỏi rằng:

- Bạch Đức Aananda! Phạm hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn người hiểu biết cao siêu đáng dung thứ được, Đức Thế Tôn có hành thân hạnh như thế chăng?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu tha thứ được, Đức Thế Tôn không hành thân hạnh ấy.

- Bạch Đức Aananda! Khẩu hạnh nào mà chư Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên tha thứ được, Đức Thế Tôn có hành khẩu hạnh ấy chăng?

- Tâu Đại Vương! Khẩu hạnh nào mà chư Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu xá tội được, Đức Thế Tôn không hành khẩu hạnh ấy .

- Bạch Đức Aananda! Ư hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu xá lỗi được, Đức Thế Tôn có hành ư hạnh như thế chăng?

- Tâu Đại Vương! Ư hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên dung tha được, Đức Thế Tôn không hành ư hạnh ấy .

- Thật là phi thường, cái chưa từng có mà xảy ra được, tôi quẩn bách trong điều nào, Ngài đă giảng giải cho nghe bằng cách đầy đủ.

- Bạch Ngài những kẻ si mê, không sáng trí, chưa được quan sát hằng thốt lời ca tụng hay khiển trách kẻ khác. Tôi không ngoan cố những lời ấy là có giá trị v.v.

Phần các bậc minh triết là hạng sáng suốt có trí tuệ đă khảo sát rồi mới nói đến đạo đức và tội lỗi của những kẻ khác, tôi thường tôn trọng lời nói ấy là có giá trị.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào ác th́ hạng Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu cao siêu khiển trách được.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào là ác?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành có tội thân hạnh ấy là ác.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào hành có tội?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành để hăm hại, thân hạnh ấy là có tội.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào hành để hăm hại?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào có khổ là quả, thân hạnh ấy gọi là hành để hăm hại.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào có khổ là quả?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành để hại ḿnh hoặc hại kẻ khác hay hại cả ḿnh và kẻ khác và các pháp ác của kẻ có thân hạnh hành cho sự hăm hại tăng gia, cho các pháp lành tiêu diệt, thân hạnh như vậy các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách được.

- Bạch Đức Aananda! Khẩu hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn nên khiển trách?

- Tâu Đại Vương! Khẩu hạnh nào ác, khẩu hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách được.

- Bạch Đức Aananda! Ư hạnh nào mà các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu nên khiển trách?

- Tâu Đại Vuơng! Ư hạnh nào ác, ư hạnh ấy các bậc Sa môn và Bà-la-môn nên khiển trách được.

- Bạch Đức Aananda! Đức Thế Tôn chỉ ca tụng sự trừ tuyệt các pháp ác phải chăng?

- Tâu Đại Vương! Đức Thế Tôn đă trừ tuyệt tất cả ác pháp rồi, Ngài gồm có đủ thiện pháp.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào mà các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không nên khiển trách?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào lành thân hạnh ấy các bậc Sa môn và Bà-la-môn, hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào là lành?

- Tâu Đại Vuơng! Thân hạnh nào vô tội, thân hạnh ấy là lành.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào là vô tội?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào vô hại, thân hạnh ấy là vô tội.

- Bạch Đức Ànanda! Thân hạnh nào là vô hại?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào có vui là quả, thân hạnh ấy là vô hại.

- Bạch Đức Aananda! Thân hạnh nào có vui là quả?

- Tâu Đại Vương! Thân hạnh nào hành không hại ḿnh, không hại kẻ khác hay không hại cả ḿnh và kẻ khác; các pháp ác có hại đến ḿnh v.v. hằng tiêu diệt, các pháp lành thường tăng gia, thân hạnh ấy các hạng Sa môn và Bà-la-môn, hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được .

- Bạch Đức Aananda! Khẩu hạnh nào mà các bậc Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được?

- Tâu Đại Vương! Khẩu hạnh nào lành khẩu hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được.

- Bạch Đức Aananda! Ư hạnh nào mà các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không nên khiển trách được?

- Tâu Đại Vương! Ư hạnh nào lành ư hạnh ấy các Sa môn và Bà-la-môn hạng hiểu biết cao siêu không khiển trách được.

- Bạch Đức Aananda! Đức Thế Tôn tán dương sự gồm có đủ các pháp lành phải chăng?

- Tâu Đại Vương! Đức Thế Tôn Ngài đă diệt tuyệt tất cả ác pháp rồi và Ngài có đầy đủ thiện pháp.

Ngoài ra, ta có một căn bản là sự tạo nghiệp do cửa thân, cửa khẩu và cửa ư, nếu nghiệp ấy không hiệp theo ba nhân, th́ nên tạo ba nhân ấy là:

1/- Hại ḿnh.
2/- Hại kẻ khác.
3/- Hại cả ḿnh lẫn kẻ khác.

Tóm tắt trong thiên này là sự tạo nghiệp đúng đắn theo nền tảng rằng:

1/- Nghiệp không hại ḿnh.
2/- Nghiệp không hại kẻ khác.
3/- Nghiệp không hại ḿnh lẫn kẻ khác.

Như thế th́ nên làm và phải hành theo dhammaadhipateyya (lấy pháp là chủ) không nên hướng theo attaadhipateyya (lấy ḿnh là chủ) và lokaadhipateyya (lấy đời là chủ).
Reply With Quote
  #13 (permalink)  
Old 08-07-2007, 10:50 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 181
THIÊN VII

QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP TRONG KINH SANDAKA

Trong kinh Sandaka-suutta Majjhima-nikaaya Majjhimapanaraasaka, Đức Aananda có thuyết những quan niệm nghiệp trong các tôn giáo khác đối với Phật giáo, cho Sandaka-paribbaajaka rằng ta có thấy sự chế định của các giáo chủ khác trăm muôn ngàn lần xa Phật giáo, v́ ḷng cố chấp và buông thả theo sự rủi may, số mệnh cũng có như:

1.- Giáo chủ Para.nakassapa thuyết rằng: không có nghiệp, không có phước không có tội gọi là Akiriyaadi.t.thi nghĩa là làm thế nào cũng như không làm, v́ không có phước, tội.

2.- Giáo chủ Makkhaligosala cho rằng: sự trong sạch hay nhơ bợn vô nhân quả tức là sự hành vi cho trở nên liêm khiết không có, người với sự luân hồi như cuộn dây nhỏ, họ nắm mối đầu rồi liệng đi. Khi cuộn dây ấy tháo ra hết th́, tự nó ngừng. Quan niệm này gọi là a ketukadi.t.thi. Nghĩa là ư kiến độc đoán vô nhân.

3.- Giáo chủ Ajitakesakambala dạy rằng, (tiếng gọi) là phước, tội, cha, mẹ, người, thú ấy chẳng có chi cả, họ lầm gọi nhau như vậy. Cả tứ đại: đất, nước, lửa, gió ḥa nhau, khi tan ră th́ tiêu mất.

Đây là Ucchedadi.t.thi và Natthikadi.t.thi: ư kiến độc đoán tiêu diệt và ư kiến độc đoán hư vô nghĩa là hiểu rằng trống không, không có chi.

4.- Giáo chủ Pakuddhakaccaayana giảng rằng: trong thân thể chúng ta có hai khối:

Khối tức là đất
Khối tức là nước
Khối tức là gió
Khối tức là lửa
Khối tức là vui
Khối tức là khổ
Khối tức là sinh mệnh

Tất cả bảy khối ấy dù bị ai làm thế nào cũng như không làm, v́ là khối với khối, gọi là n atthikadi.t.thi ư kiến độc đáo hư vô.

5.- Giáo chủ Sa~navavelatthaputra bảo rằng: thế này cũng chẳng có, thế kia cũng chẳng có, nghĩa là phủ nhận bất kỳ cái ǵ, gọi là Vikkhepaladdhi quan niệm lúc lắc, trở đi trở lại, hay ư niệm ḥa lộn.

6.- Giáo chủ Nigandhanaataputra có căn bản gần với nền tảng Phật giáo, chỉ khác nhau chỗ hành vi sái nhau, nghĩa là phái này chế định rằng, người tu ngoài Phật giáo phải gồm có bốn phương pháp là:

1.- Cấm làm tội lẫn nhau.
2.- Gồm có "thiên" pháp.
3.- Tiêu diệt tội lỗi.
4.- Đặt quả cuối cùng của Phạm hạnh.

Người hạnh như vậy gọi là chứng Atma"m (cái ta).

Những quan niệm của giáo chủ ấy được xán lạn trước thời kỳ Đức Phật giác ngộ bằng sự không đem lợi ích đến các tín đồ vừa với sự tôn thờ, sùng bái của họ. Khi Đức Phật tuyên bố Chánh pháp, phổ cập trong khắp nơi rồi, Phật giáo có ánh sáng chói lọi, có sức chi phối các giáo phái ấy. V

́ Ngài giảng thuyết cho mọi người hiểu rằng: "nghiệp của tự ḿnh, chỉ có bấy nhiêu, áp bức ḿnh cho thấp hèn và nghiệp của chính ḿnh, ngần Này, chống đỡ ḿnh cho cao sang". Ai là kẻ tạo nghiệp? Cũng tức là tự ḿnh vậy.
Khi Đức Aananda giải như thế rồi, Sandakaparibbajaka (bần tụ hội) rất ca tụng, rồi xin Ngài thuyết thêm rằng:

- Bạch Đức Aananda! Giáo chủ mà hành giả nương theo sẽ được như thế nào?

- Này sandaka! Trong đời Này, Đức Thế Tôn giáng thế là đấng Chánh đẳng Chánh giác, gồm có Minh hạnh túc (pháp thực hành để đến sự giác ngộ) Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Thế tôn

Ngài làm cho thế gian này: Chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, tất cả chúng sinh, Sa môn và Bà-la-môn thấy rơ bằng trí tuệ cao siêu. Ngài thuyết pháp nghe du dương chặn đầu, chặn giữa và nơi cuối cùng, đầy đủ ư nghĩa ḥa nhịp, tuyên bố phạm hạnh trong sạch hoàn toàn.

Những gia chủ, con gia chủ, con nhà gia giáo được nghe pháp, khi đă nghe xong hằng phát tâm tín ngưỡng trong Đức Như Lai, rồi quan sát thấy rằng:

- Đời cư sĩ là nơi chật hẹp hạn chế, là lối đến của bụi bặm. Xuất gia là một cơ hội trong sạch sáng sủa. Sự ở nhà lo giữ ǵn gia thế, khó hành phạm hạnh được điều đủ, trong sạch được như vỏ ốc đă trao dồi, như thế, ta nên cạo tóc và râu, mặc y cà sa ra khỏi nhà, thọ giới đàn, không bận ḷng đến sự trị gia nữa.

Sau rồi họ có dịp được ly gia cắt ái , không c̣n phải săn sóc gia đ́nh, khi đă thành một vị xuất gia và tinh tấn nuôi mệnh chân chính theo luât định, là người chữa cải:

- Sự sát sinh, bỏ hẳn những vơ khí, có sự hổ thẹn tội lỗi, có tâm từ bi, mong t́m lợi ích cho tất cả mọi loài.

- Không trộm cắp chỉ dùng những vật mà họ cho.

- Không hành dâm, không có đôi vợ chồng như người cư sĩ.

- Không nói dối chỉ thốt lời ngay thật, không chưởi mắng kẻ khác chỉ nói lời mát mẻ.

- Không xúi giục người cho bất ḥa nhau, chỉ nói lời ḥa thuận, không nói lời thô lỗ, chỉ thốt lời ngọt dịu; không nói chuyện hoang đàng vô ích, không ăn sái giờ.

- Không xem múa hát, không nghe đờn kèn, không dồi phấn đeo hoa, xoa nước thơm.

- Không nằm ngồi trên chỗ cao đẹp v.v.

- Không thọ lănh cất giữ vàng bạc, châu báu, không thọ ngũ cốc.

- Không thọ thịt và cá sống.

- Không nhận phụ nữ và tôi trai tớ gái, ruông vườn, nhà trạicác cầm thú, không làm kẻ đem tin tức v.v.

- Không bán buôn đổi chác v.v. (xem trong luật xuất gia về tà mệnh).

Các Ngài là bậc tri túc trong bốn món vật dụng (y, bát, thực phẩm, chỗ ngụ, thuốc men), đi đến trong nơi nào cũng được nhẹ nhàng như loài điểu thú chỉ có cặp cánh bay đến đâu như sở nguyện, thế nào, Tỳ khưu tri túc trong bốn vật dụng trải đi đến nơi nào hằng được như mong muốn.

Hằng gồm có giới hạnh tức là thánh đức, như thế, hằng hưởng quả vui, vô tội.

Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân đụng chạm, Ngài không phạm luật, và không lưu tâm đến sắc, thinh, hương, vị, xúc (tốt xấu, hay dở, thơm, thối, ngon, dở, mềm, cứng v.v. ) tức là Ngài cố chế ngự lục căn, không cho tiếp xúc lục trần, như thế. Ngài gồm có lục căn thu thúc là thánh đức ấy rồi hằng thụ vui, vô phiền năo.

Ngài thường ngụ trong nơi thanh vắng dưới bóng cây, hay nơi mộ địa, rừng cây, tịnh thất vắng. Sau khi đă ngọ thực, Ngài đi kinh hành xong, tọa thiền. Ngài dứt được sự tham lam bỏ ác pháp, không bất b́nh nóng giận, có tâm từ bi mong điều lợi ích đến tất cả chúng sinh. Trừ được năm pháp cái (tham sắc, nóng giận, phóng dật, hôn trầm, hoài nghi) là năm pháp ô nhiễm tâm, an tỉnh khỏi những dục vọng, yên lặng các ác pháp rồi Ngài đắc sơ thiền pathamojhamo có: Suy, Sát, Phỉ và An sinh từ sự ẩn tu, như thế.

Này Sandaka! Các hàng thinh văn đắc pháp cao quư nan đắc của Đức Giáo chủ nào rồi, là người hiểu biết cũng phải hành phạm hạnh trong đấng giáo chủ ấy. Hàng thinh văn ấy sẽ đắc pháp giải thoát chắc chắn.

Này Sandaka! Ngoài ra có lời giải thêm rằng, Tỳ khưu đắc nhị thiền (Dutiyajhaana) có tâm trong sáng chỉ có phỉ lạc sanh từ thiền định. Này sandaka! Bậc thinh văn hằng đạt đến pháp cao quư, như thế, trong đấng giáo chủ nào, người được hiểu biết phải hành phạm hạnh ấy. Như vậy họ sẽ được giải thoát.

Này Sankada! Ngoài ra Tỳ khưu v́ chán ngán phỉ, thường có tâm yên lặng, trung lập có trí nhớ, và thận trọng thụ vui bằng loại danh pháp (Naamakaaya) đắc tam thiền (Tatiyajhaana) mà các thánh nhân gọi là bậc trầm tỉnh(Upekkhaa) có trí nhớ, ở yên như thế.

Này Sandaka! Hạng thinh văn đắc pháp cao siêu như vậy, trong đấng giáo chủ nào, người hiểu biết phải hành phạm hạnh, trong đấng giáo chủ ấy họ sẽ đến thiện pháp và được giải thoát hẳn như thế.

Này Sandaka! Có lời giải thêm rằng, Tỳ khưu đắc tứ thiền (Catutthjhaana) không vui, không khổ, v́ dứt được vui và khổ, đă vượt qua nỗi vui và buồn, chỉ có trí nhớ điều tra pháp thanh tịnh bằng tâm xả.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 02:17 PM.

A vBSkinworks Design