| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Ngài Huyền Trang trước khi đến Balkh đă viếng thăm Kuci ở Trung Á, tại nơi này có khoảng 10 Tịnh xá, trên 1000 vị Tăng và là những người theo trường phái Sarvāstivāda.[14] Khi Ngài đến Balkh, ở đó khoảng 100 Tịnh xá và hơn 8000 vị Tăng thuộc "Tiểu Thừa." Tuy nhiên, Ngài không đề cập chính xác đến tên của các trường phái Tiểu Thừa cư trú tại đây; nhưng rất có thể một số Tịnh xá có lẽ thuộc chư Tăng thuộc Sarvāstivāda. Từ Balkh Ngài đi đến nơi gọi là Kie (Ka)-chih (hiện nay là Gaz hoặc là Darah) khoảng 100 dặm về phía Nam của Balkh, tại nơi này có khoảng 10 Tịnh xá với 800 Tăng đều thuộc trường phái Sarvāstivāda.[15] Balk hay Balhīka xưa kia dường như là trung tâm của các trường phái Hậu Kỳ Thượng Toạ Bộ (Later Theravāda) của Phật giáo kể cả Sarvāstivāda. Khi Ngài Huyền Trang đến Kapisa, Ngài ở lại trong một Tịnh xá do triều đại nhà Hán Trung Hoa xây dựng. Ngài trải qua mùa an cư (vassāvasa) tại đó. Ngài đề cập đến tên của một số vị Tăng trí thức quan trọng mà Ngài đă cùng với các vị ấy bàn luận về triết học và giáo lư. Ngài nói rằng, trong ngôi chùa Shotorak có một vị quán thông Tam Tạng tên là Manojñaghoṣa và một vị Sư tên là Āryavaṁsa của trường phái Sarvāstivāda và cũng có một vị Sư thuộc trường phái Hoá Địa Bộ (Mahīśāsaka) tên là Guṇabhadra (Cầu-na-bạt-đà-la). Các vị Sư này được nổi tiếng như là các thượng thủ của tu viện.[16] Tất cả chúng ta biết rằng Kapisa là thủ đô phía Tây của Kaniṣna và tu viện Shotorak nơi Ngài Huyền Trang ở lại do vua Kaniṣka xây dựng cho con tin Thái tử của Trung Hoa thuộc triều đại nhà Hán. Trên thực tế, nhờ sự ủng hộ của vua Kaniṣka cho trường phái Sarvāstivāda mà tu viện Shotorak đă thịnh đạt thành một trung tâm của trường phái này trong nhiều thế kỷ sau và nó được dành cho các nhà Sư lỗi lạc thường trú ngụ. Ngài Pháp Hiển không viếng thăm nhiều nơi ở Afghanistan, Ngài chỉ đến Hadda và Nagarahāra để đảnh lễ Thánh tích ở đó. Tại Hadda, có khoảng 500 vị Sư trú ngụ trong các tu viện này và tất cả họ thuộc Tiểu Thừa (Hinayāna).[17] Ngài cũng có đề cập đến một tu viện ở thung lũng Swat thuộc Udyāna, nơi cư trú của chư Tăng tuy thuộc trường phái Đại Thừa (Mahāyāna) nhưng lại tuân thủ các giới luật theo truyền thống của Tiểu Thừa (Hīnayāna) kể cả luật của Sarvāstivāda. Sử kư của Ngài Pháp Hiển đề cập đến chư Tăng thuộc các chi nhánh của cả Đại Thừa và Tiểu Thừa cư ngụ trong các tu viện khác nhau ở Udyāna, bao gồm cả Sarvāstivāda vào thế kỷ thứ V TL. Nhưng có lẽ ở Nagarahāra, Hadda và một số nơi khác trong vùng, nhiều tu viện thuộc Sarvāstivāda cũng đă hưng thịnh suốt thời kỳ này. Khi chúng ta khảo sát Phật giáo ở Afghanistan, điều gây ấn tượng nhất đối với chúng ta là phần lớn các trường phái thuộc Hậu Kỳ Thượng Toạ Bộ cực thịnh qua nhiều thời đại. Phật giáo Đại Thừa (Mahāyāna Buddhism) có lẽ không hưng thịnh ở đây lắm, và Phật giáo Tiền Đại Thừa (Early Mahāyanā Buddhism) không thể cắm rễ trên mảnh đất này dù rằng phái đoàn truyền giáo đặc biệt do Ngài Mahārakkhita được phái đến sau Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ ba được tổ chức vào thời Đại Đế Aśoka. Trong số các trường phái thuộc Hậu Kỳ Thượng Toạ Bộ, th́ Đại Chúng Bộ và Sarvāstivāda đi hàng đầu ở nước này. Lịch sử Phật giáo ở Afghanistan vẫn c̣n trong mù mịt, nhưng các thánh tích Phật giáo rải rác ở khắp lănh thổ Afghanistan đă nói lên sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với đất nước này, một trong những nơi có tầm quan trọng bậc nhất như các pho tượng Phật khổng lồ ở Bamiyan và các thánh tượng tuyệt hảo được phối hợp của hai nền nghệ thuật Hy Lạp và Ấn Độ tại Hadda. Các pho tượng này vẫn c̣n nói lên câu chuyện huy hoàng ban sơ của mảnh đất Phật giáo vĩ đại này.[18] -------------------------------------------------------------------------------- [1] Được đăng trong Tạp Chí Buddhist Studies, tập XV, Phân Khoa Phật Học, Delhi, tháng 3 năm 1991. [2] Konow, Stein, C. 1.1., Vol. II, p. 157-158. [3] Ibid, p. 50 ff. [4] Sirca, D. C. Select Inscriptions, p. 112; Konow, Stein, C.I.I., Vol.11, p.48. [5] C.I.I, Vol. II, p.176. [6] Ibid, p. 145. [7] Ibid, p. 155. [8] Luder's list, No. 918-919. [9] Dutt, N.Buddhist Sects in India. [10] Watters, T. On the Travel of Yuan Chwang, p. 120. [11] Cf. Malalasekera, G. P. Dictionary of Pali Proper Names, Vol. II, p. 1063. [12] Trong các kinh cổ Hán văn phiên âm là Kế Tân. [13] Cf. Watter T. op.cit. p.121. [14] Ibid. p. 108. [15] Waters, T. On the Travels of Yuan Chuang, p. 114. ; Beal, S, Records of Buddhist Kingdoms, p. 49; Beal S. Life of Hiuen-tsang, p. 54. [16] Beal, S., Life of Hiuen-tsang, p.56. [17] Legge, J., Travels of Fa-hien, pp. 28 -29. [18] Tác giả viết bài này khi chính quyền Taliban chưa có phá huỷ hai pho tượng Phật khổng lồ tại trung phần Bamiyan, cũng như tất cả các Thánh tượng Bồ-tát, Thánh tăng và mọi di tích lịch sử c̣n sót lại trên mảnh đất Afghanistan này (ghi chú của người dịch). |