| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Trong phạm vi thế tục, những người có thể kiếm rất nhiều tiền, có thể giết chết kẻ thù, những người có nhiều căn nhà ở mọi nơi, được coi là người tài giỏi, khéo léo và khôn ngoan. Những người có thể lừa gạt người khác để bồi đắp cho thanh danh hay hạnh phúc của ḿnh được cho là khôn ngoan, tài giỏi và tự lực. Những ư niệm này hoàn toàn sai lầm. Cho dù bạn có thể tự giải thoát ḿnh khỏi sinh tử bạn vẫn không hoàn tất công việc của bạn đối với bản thân hay những người khác. V́ thế, những Bồ tát không tất yếu là thiện xảo hay bi mẫn, cho dù các Ngài có thể tự giải thoát bản thân các Ngài ra khỏi sinh tử. Do đó, trí tuệ của việc chứng ngộ tánh Không được thực hành sau sự chứng ngộ Bồ đề tâm. Như thế, sau khi tâm thức bạn được tu hành tốt đẹp trong con đường tổng quát, bạn nhận lănh sự nhập môn (quán đảnh) từ một Guru kim cương đầy đủ phẩm tính, là vị có thể ban những nhập môn Yoga Tantra cao cấp nhất. Một khi nhờ việc nhận lănh bốn loại nhập môn Yoga Tantra cao cấp nhất mà tâm bạn được thuần thục, bạn tu hành tâm thức bằng cach thiền định về hai con đường của nó: những con đường tiệm thứ của sự phát triển và thành tựu. Khi tâm bạn đạt tới cấp độ tịnh quang, ví dụ, bạn giải thoát khỏi sự hiểm nguy của cái chết - không có cái chết không được kiểm soát, không có việc chết mà không có sự chọn lựa. Như tôi đă đề cập ở trên, tịnh quang được biểu thị bởi padme, trí tuệ, và huyễn thân được biểu thị bởi mani, phương tiện. Nếu bạn có thể đạt tới giai đoạn này, bạn có thể đạt được giác ngộ trước khi chết, nhưng nếu bạn không thể, bạn có thể thành tựu tốt đẹp như thế sau khi chết, trong giai đoạn trung ấm, như nhiều Lạt ma cao cấp và yogi vĩ đại như Milarepa - bậc đă giác ngộ trong một đời. Công đức phải tích tập trong ba vô lượng kiếp bằng cách đi theo con đường Ba la mật thừa có thể hoàn toàn được tích tập trong một đời ngắn ngủi bằng cách thiền định về huyễn thân. Tịnh quang là thuốc chữa lành cho cái thấy nhị nguyên; những niệm tưởng hỗn loạn và thậm chí cái thấy nhị nguyên vi tế có thể hoàn toàn ngừng dứt bằng cách thiền định về tịnh quang với sự hỗ trợ của công đức rộng lớn mà bạn tích tập bằng sự thiền định về huyễn thân. Theo cách này, bạn thành tựu sự hợp nhất thân hoàn toàn thiêng liêng thanh tịnh và tâm linh thánh của vị Phật hay Bổn Tôn mà bạn đang thực hành và trở thành một vị Phật. Khi mặt trăng mọc, nó không cần phải nỗ lực để ánh phản chiếu của nó xuất hiện trên mặt nước: “Ta sắp phản chiếu trong mọi mặt nước trên Trái đất”. Bất kỳ nơi đâu có nước, ánh phản chiếu của mặt trăng tự động xuất hiện. Tương tự như thế, sau khi bạn trở thành một vị Phật, sau khi bạn thành tựu Bổn Tôn mà bạn từng thực hành, bạn sẽ làm việc một cách tự nhiên không cần cố gắng cho lợi ích của tất cả chúng sinh. Bạn sẽ làm việc liên tục với thân, khẩu và ư thiêng liêng của bạn để dẫn dắt chúng sinh bao la như không gian tới hạnh phúc vô song của tâm toàn giác. Đây chỉ là một giải thích ngắn gọn về ư nghĩa của thần chú OM MANI PADME HUM, nhưng tôi hy vọng là từ đó bạn có thể nhận ra làm thế nào mani và padme - phương tiện và trí tuệ - bao gồm toàn bộ con đường tiệm thứ đưa tới giác ngộ. Vậy th́, nếu tâm bạn như một tảng đá th́ nó giống như đất không được chăm bón; nó không được chuẩn bị tốt. Cho dù bạn gieo trồng những hạt giống, chúng sẽ không phát triển. Nếu tâm bạn vị kỷ, cứng cỏi, ngập đầy sự sân hận và bất măn, giống như sắt thép, giống như một ngọn núi đá, gay gắt, xấu xa, th́ cho dù bạn mong muốn đạt được giải thoát hay sự giác ngộ viên măn, con đường mà mani và padme bao hàm sẽ không phát triển trong đó. Đất cần được nước tưới mát và chứa đựng những khoáng chất và phân bón - nhờ thế những sự vật mới có thể phát triển trong đó. Cũng thế, tâm hiện tại của bạn cần thay đổi từ trạng thái đặc cứng, xấu xa, khó chịu của nó. Nó cần được chuyển hóa, trở nên mềm mại - nó cần những sự ban phước Đức Phật Đạo sư. OM MANI PADME HUM bao hàm danh hiệu của Đức Chenrezig (Quán Tự Tại), Đấng Bi mẫn vĩ đại. Tŕ tụng thần chú này th́ giống như kêu gọi mẹ của bạn. Bạn kêu gọi mẹ bạn để bà quan tâm tới bạn và sau đó bạn thỉnh cầu bà những ǵ bạn ước muốn: kem, sô-cô-la, mọi sự! Khi bạn tŕ tụng OM MANI PADME HUM, bạn đang kêu cầu thánh hiệu của Đức Chenrezig và âm hum tác động lên tâm linh thánh của Ngài. Điều bạn đang kêu cầu Ngài là xin ban phước cho tâm bạn - không chỉ cho riêng bạn mà c̣n cho tâm thức của chúng sinh khác - để gieo trồng cội gốc của con đường dẫn tới giác ngộ, phương tiện và trí tuệ được bao hàm trong mani và padme. Cuối cùng, điều c̣n lại cần giải thích là om. Khi thực hành và thành tựu con đường phương tiện và trí tuệ trong tâm bạn được biểu hiện bởi mani và padme - sự tịnh hóa mọi che chướng, nghiệp tiêu cực và ư niệm bất tịnh, hay cái thấy, của thân, khẩu và ư. Khi thân, khẩu và ư của bạn được tịnh hóa như thế, chúng trở thành thân, khẩu và ư kim cương của Đức Đạo sư Chenrezig. Chữ om (Phạn ngữ hay Tây Tạng) có ba phần. Thân của chữ này là ah, âm mẹ. Trên nó là một đường gợn sóng được gọi là (trong tiếng Tây Tạng) một naro, nguyên âm biến đổi âm “ah” thành “o”. Trên đó là một số 0 nhỏ, nó thêm vào âm “m”. Ba thành phần này thêm vào cho “om” và biểu hiện ba kaya (thân), hay thân, khẩu và ư kim cương. Những ư niệm bất tịnh của bạn về thân, khẩu và ư chuyển hóa thành thân, khẩu va ư kim cương hoàn toàn thanh tịnh của Đức Chenrezig, Đấng Bi mẫn vĩ đại. Như thế, om có nghĩa là sự giác ngộ. Như vậy, đây là ư nghĩa của OM MANI PADME HUM; sự bắt đầu, hay nguyên nhân, của con đường, bản thân con đường, và kết quả. Nó giống như một cái cây với gốc, thân và quả. OM MANI PADME HUM cũng bao gồm mọi sự hiện hữu - sự duyên sinh và tánh Không: mani và padme. Mọi sự hiện hữu được gồm chứa trong hai chân lư; mọi điều này được bao hàm trong mani và padme: chân lư tuyệt đối trong padme, và chân lư quy ước, chân lư của tâm hoàn toàn bị ngăn che, trong mani. Toàn bộ 84.000 giáo lư của Đức Phật - các giáo lư Bát Nhă Ba La Mật, toàn bộ hàng trăm pho sách của Tengyur và Kangyur - cũng được gồm chứa trong OM MANI PADME HUM. Nó bao gồm toàn bộ năm luận văn vĩ đại trong các kinh điển mà các tu sĩ nghiên cứu trong các tu viện, chúng giảng khoa luận lư học chứng minh rằng Đức Phật là một gia trị, hay chân lư, hiện thể thiêng liêng - không dối gạt, không làm lạc lối và hợp lư. Giáo lư của Đức Phật th́ chân thực là bởi khi chúng sinh thực hành nó, nó có hiệu quả; nó chứa đựng kinh nghiệm, v́ thế kết quả xuất hiện. Khi bạn thực hành, ngay cả điều đơn giản nhất trong những vấn đề của đời sống hàng ngày cũng được giải quyết. V́ thế đây chỉ là một bằng chứng nhỏ bé cho thấy bạn có thể được giải thoát khỏi nguyên nhân đích thực cua đau khổ; cho thấy bạn có thể trở nên giác ngộ. Điều này chứng minh rằng giáo lư có giá trị, chân thật và sẽ không lừa dối bạn. Các tu sĩ trong các đại tu viện nghiên cứu giáo lư, luận lư trong nhiều năm. Họ thường nghiên cứu và thảo luận giáo lư Trung đạo, nó giảng nghĩa hai chân lư, trong ba năm. Sau đó họ nghiên cứu trí tuệ siêu việt, giáo lư Bát Nhă Ba La Mật, trong năm năm hay khoảng đó. Họ cũng nghiên cứu những giáo lư Luật học về hanh vi đạo đức - làm thế nào điều phục thân, khẩu và ư - trong một năm hay hơn nữa. Rồi họ nghiên cứu Abhidharmakosha (A tỳ đạt ma Câu xá luận) trong nhiều năm. Họ nghiên cứu những giáo lư kinh điển này và năm luận văn vĩ đại trong ba mươi hay bốn mươi năm, ghi nhớ, thảo luận và thi cử. Sau đó họ nghiên cứu các giáo lư Tantra trong nhiều năm và thực hành tất cả những con đường rộng lớn, viên măn đó. OM MANI PADME HUM gồm chứa toàn bộ sự nghiên cứu của một đời người. Cách này hay cách khác, có một sự khác biệt khi bạn tŕ tụng thần chú của vị Phật đặc biệt này, hiện thân của ḷng bi mẫn của tất cả chư Phật - ḷng đại bi không thể chịu đựng nổi nỗi khổ của chúng sinh và đưa dẫn họ thoát khỏi nó. So với ḷng bi mẫn mà ta dành cho bản thân ḿnh th́ ḷng bi mẫn này lớn hơn hàng trăm ngàn lần. Không thể có một sự so sánh. Và ḷng bi mẫn vô hạn này của tất cả chư Phật hiển lộ trong phương diện đặc biệt này mà ta gọi là Đức Chenrezig, Vị Phật Từ Thị (Nh́n Chúng Sinh Với Đôi Mắt Bi mẫn). Do bởi ḷng bi mẫn của Ngài, chính Đức Phật đă thành tựu Đại Niết bàn, phạm vi của an b́nh vĩ đại, không chút chọn lựa, được kết chặt bởi ḷng bi mẫn. Chúng ta th́ trái ngược lại: không chọn lựa, bị buộc chặt bởi những tư tưởng ích kỷ, chúng ta mang lại tai họa cho chúng sinh khác và thậm chí cho cả bản thân ta. Được kết buộc bởi ḷng bi mẫn, chư Phật hiển lộ trong phương diện Báo thân đối với các Bồ tát cao cấp và trong phương diện Hóa thân đối với những Bồ tát b́nh thường. Đối với chúng sinh b́nh phàm, các Ngài hiển lộ trong thân tướng của một tu sĩ, như Đưc Đạt lai Lạt ma, hay một vị vua; trong những thân tướng khác nhau, bất kỳ điều ǵ cần thiết. |
| ||||
| Nếu có một biểu thị sẽ điều phục chúng sinh th́ đó là cách các Ngài sẽ hiển lộ - như một quan ṭa, một tướng lănh hay thậm chí như một đồ tể hay một người khùng điên; như một người mù hay hành khất để làm cho những người khác tích tập công đức bằng cách thực hành ḷng bác ái và nhờ đó tạo nên nguyên nhân cho hạnh phúc. Nếu một vài chúng sinh cần được dẫn dắt theo lối đó, các Ngài sẽ hiển lộ như một người giàu có; nếu một người khác cần được hướng dẫn trong một phương diện đặc biệt, và nếu đó là cách thế duy nhất để điều phục tâm thức của người đó, th́ do bơi sự tham luyến mănh liệt của anh ta, các Ngài sẽ hiển lộ như một gái điếm. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă tuyên bố trong giáo lư của Ngài: “Ta sẽ không hiển lộ như tất cả những điều này”. Ngài nói, “Ta không tham đắm nhưng ta hiển lộ như có tham luyến; ta không mù nhưng hiển lộ như mù ḷa; ta không què nhưng hiển lộ như què quặt; ta không điên nhưng hiển lộ như khùng điên; ta không chút giận dữ nhưng hiển lộ như sân hận. Trong tương lai nếu ta hiển lộ trong những cách thế như thế, sẽ không chúng sinh nào nhận ra điều này”. Tuy nhiên, để đưa dẫn chúng ta, Ngài đă hiển lộ là Đấng Ngàn Tay Ngàn Mắt (Thiên Thủ Thiên Nhăn) và thần chú của Đức Phật Bi Mẫn th́ có phần khác biêt với những thần chú khác. Những thần chú khác rất mạnh mẽ nhưng thần chú này có một vài tính cách hay tác dụng đặc biệt - trong khi nó được tŕ tụng th́ tâm thức trở nên an b́nh và bi mẫn hơn nữa một cách tự nhiên; tư tưởng làm lợi lạc người khác phát khởi tự nhiên và hành giả bớt có tư tưởng tự-quy. Thông thường th́ những người b́nh thường tŕ tụng OM MANI PADME HUM có một trái tim tốt lành cho dù họ không thấu hiểu giáo lư hay thiền định về con đường tiệm thứ dẫn tới giác ngộ. Điều này xảy ra hoàn toàn nhờ vào niềm tin nơi Đức Phật Bi Mẫn, Đấng Bi mẫn vĩ đại và việc tŕ tụng thần chú của Ngài. Bạn cần có một trái tim tốt lành ngay cả để có được hạnh phúc trong đời này, sự an b́nh của tâm hồn trong đời sống hàng ngày. Một trái tim tốt lành là điều vô cùng cần thiết; nó là cách thế duy nhất. Việc tŕ tụng thần chú này rất ích lợi. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tâm thức. Khi bạn tŕ tụng thần chú OM MANI PADME HUM bạn không nên cảm nhận thái quá về thân tướng của Đức Chenrezig mà nên cảm nhận về tinh túy hay bản tánh của Ngài. Nếu bạn không thoải mái khi quán tưởng Ngài ở trên đỉnh đầu bạn th́ hăy quán tưởng Ngài ở trước mặt. Hăy quán tưởng ḷng đại bi đối với tất cả chúng sinh hiển lộ trong phương diện ngàn tay ngàn mắt. Bản tánh của thân linh thánh của Ngài là ánh sáng. Ngài đang mỉm cười và đây bi mẫn, đôi mắt từ ái nh́n thẳng vào bạn - một chúng sinh đau khổ, lầm lạc - và cũng nh́n tất cả chúng sinh khác. Nếu bạn có thể làm được, hăy quán tưởng một chữ HRIH trên một đĩa mặt trăng nằm trên một bông sen tám canh trong trái tim Ngài. Từ đây, những tia cam lồ phóng ra và đi vào bạn, tịnh hóa bạn về mọi lỗi lầm, đặc biệt là thái độ ích kỷ, là chướng ngại chính cho việc phát triển Bồ đề tâm của bạn. Trong khi quán tưởng theo cách này, hăy tŕ tụng OM MANI PADME HUM trong mức độ bạn có thể. Thanh Liên (dịch) (Theo Lạt Ma Zopa Rinpoche (Nguyệt san Giác Ngộ)) |