| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Theo tôi, nếu nh́n từ một phương diện khác th́ mê tín dị đoan và tôn giáo đều được bắt đầu từ một nguồn gốc chung. Cả hai đều có những đặc điểm rất tương đồng với nhau như sau: - Cả hai đều được thành h́nh từ nhu cầu cần thiết để cố gắng giải thích về những hiện tượng khó hiểu chung quanh con người. - Cả hai đều gán ghép những liên hệ nguyên nhân hậu quả vào một số hiện tượng mà không hề chứng minh rơ ràng được về những mối liên hệ nầy. - Cả hai đều dựa lên một nền tảng chung để truyền bá và vận hành, đó là sự sợ hăi. - Cả hai đều chỉ có giá trị giới hạn trong một tập thể, một địa phương nào đó. Bên ngoài biên giới của những tập thể hay địa phương nầy, cả hai đều có thể bị coi là vô căn cứ, chậm tiến hay thậm chí mê muội, mù quáng. Để dẫn giải cho nhận định trên, tôi sẽ lấy thí dụ về một người có tôn giáo (nhất là các tôn giáo độc thần như Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo). Người nầy răm rắp thi hành những điều luật mà Thượng Đế của họ đặt ra v́ nếu không th́ họ sẽ bị trừng phạt; trong khi chính họ không thể giải thích hay chứng minh rơ ràng được về nguồn gốc, tính chất của những Thượng Đế nầy. Để lấp vào lỗ hổng đó, họ dùng cái gọi là “đức tin” để biện hộ cho hành động của họ. Một thí dụ nữa là tín đồ nầy tin rằng có một nơi chốn gọi là “thiên đàng” để ban thưởng họ sau khi chết, cũng như có một nơi chốn gọi là “địa ngục” để trừng phạt những kẻ không tuân lời Thượng Đế, kể cả những kẻ “ngoại đạo”. Dĩ nhiên là không ai biết hay tin chắc chắn là có những nơi chốn như vậy. Nếu không th́ tại sao các tín đồ Thiên Chúa giáo chẳng hạn, khi mắc bệnh hiểm nghèo th́ họ lại cầu nguyện để được sống lâu thêm trên cái trần gian đầy đau khổ nầy thay v́ được mau đưa về Thiên Đàng an hưởng đời đời với Thiên Chúa? Nếu tin ở Hỏa Ngục th́ tại sao lại có vô số người rất sùng đạo lại vẫn cố t́nh phạm những tội lỗi mà Thượng Đế của học đă nghiêm cấm không được làm? Một nhận xét khá lư thú là ngay chính tôn giáo cũng nh́n nhận sự hiện hữu của mê tín dị đoan, và phần lớn công khai bài bác những tập tục “mê muội, mù quáng” nầy. Có điều là chữ “mê tín” trong tôn giáo thường được dùng đồng nghĩa với “những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của các tôn giáo khác”. Nếu một hiện tượng không giải thích được xảy ra trong một tôn giáo, người theo tôn giáo ấy cho đó là một “phép mầu”; nếu một hiện tượng giống như vậy xảy ra trong tôn giáo khác, theo họ đó là “điều huyễn hoặc”. Mỗi tôn giáo đều tự cho rằng tôn giáo ḿnh không mê tín v́ họ có “bằng chứng” để hỗ trợ cho những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của họ. Và “bằng chứng” duy nhất và tối quan trọng nhất là “đức tin” của họ. Như đă nói ở trên, với “đức tin”, họ không cần phải giải thích được bằng kiến thức khoa học hiện thời về bất cứ điều ǵ. Phương cách nầy rất tiện lợi và hữu dụng, nhưng lại có một khuyết điểm rất lớn. Đó là hầu như mỗi tôn giáo, mỗi nhóm phái đều có một đức tin khác nhau, và nhiều khi hoàn toàn đối nghịch nhau. Điều nầy gây ra nhiều sự rối loạn trong hàng ngũ của các tôn giáo. Nếu lại lấy Thiên Chúa giáo làm thí dụ, th́ ngay những nhóm người cùng coi ḿnh là con chiên của Jê-Su cũng đă luôn có những quan điểm khác nhau khi nói về mê tín. Trong Thiên Chúa giáo, h́nh như không ai đồng ư với ai về việc cái ǵ là mê tín, cái ǵ là không. Khi viết về mê tín dị đoan, Voltaire nói "mê tín dị đoan phát sinh từ tục lệ trong nhân gian hoặc những đạo đa thần, nhập vào Do Thái giáo rồi lan truyền sang toàn thể Thiên Chúa giáo ngay từ thời buổi ban đầu. Ṭa Thánh luôn luôn chê trách pháp thuật, nhưng lúc nào cũng tin vào phép mầu. Tất cả những linh mục trong Ṭa Thánh, không ngoại trừ bất cứ ai, đều tin vào huyền lực của phép mầu". Voltaire cũng nhận xét thêm rằng ở thời ông ấy th́ "Ngài Tổng Giám Mục của địa hạt Canterbury cho rằng Ngài Tổng Giám Mục của địa hạt Paris là mê tín, nhóm Tin Lành cho rằng Ngài Tổng Giám Mục của Canterbury là mê tín trong khi chính họ cũng bị những người Quakers cho là mê tín. Trong khi đó, nhóm Quakers lại bị coi là những người mê tín dị đoan nhất bởi mọi nhóm khác trong Thiên Chúa giáo". T́nh trạng đó cũng vẫn không khác ǵ mấy ngày nay. Đạo Tin Lành vẫn cho rằng những thánh vật, sự hiện thân của Đức Mẹ Đồng Trinh, sự cầu nguyện cho người chết, nước thánh, v.v. cũng như hầu hết những nghi lễ của Công Giáo đều là mê tín dị đoan. Đối với họ, mê tín là lấy những việc không cần thiết mà thực hành như những việc tối cần thiết. Ngay trong Công Giáo cũng có những nhóm đă gạt bỏ bớt đi nhiều h́nh thức rườm rà mà nhiều người Công Giáo khác cho là thiêng liêng và cần thiết. Tuy vậy, nhóm nầy thường không công khai đả kích những người vẫn đeo giữ những thủ tục cổ hủ, v́ theo họ th́ những lễ nghi nầy "cũng không có ǵ nguy hại hay tội lỗi cả". Trong cái gọi là Phật giáo ngày nay, chúng ta cũng có thể kể ra một lô dài bất tận những thủ tục, nghi lễ nằm đúng hoàn toàn trong cái định nghĩa của mê tín dị đoan ở trên. Tôi tin rằng điều nầy cũng có thể áp dụng cho tất cả các tôn giáo Đông Phương khác từ Ấn Độ giáo, Hồi giáo cũng như những tôn giáo nhỏ như Cao Đài, Ḥa Hảo, v.v. Những tôn giáo nầy (trừ Hồi giáo) thường không ḱnh chống lẫn nhau công khai và có khi đầy tính cách bạo động như trong trường hợp của Thiên Chúa giáo. Tuy vậy trong nhóm tôn giáo Đông Phương, các nghi lễ, phương cách tụng niệm, h́nh tượng của một tôn giáo cũng vẫn thường bị xem là mê tín dị đoan bởi người trong những tôn giáo khác. Có người cho rằng nhóm phái nào có ít nghi lễ nhất th́ có lẽ là ít mê tín nhất. Nhưng theo tôi th́ nói như vậy đâu có khác mấy với nói rằng "con mèo nào có đuôi càng ngắn th́ càng có ít tính chất 'mèo' hơn". Chúng ta hăy áp dụng cái định nghĩa của mê tín dị đoan ở trên vào những tính chất đặc thù của tôn giáo. Khi phân tích những thí dụ ở trên, chúng ta thấy rơ ràng là trong tôn giáo, người ta làm (hoặc tránh làm) những hành động ǵ đó chỉ v́ để được tưởng thưởng (hoặc không bị trừng phạt) bỡi một đấng Tối Cao. Trong khi đó, người ta thật sự không có cách nào biết rơ về sự hiện hữu của nhân vật Tối Cao nầy, chớ đừng nói ǵ đến có thể giải nghĩa thích đáng được về sự liên hệ giữa những hành động và sự thưởng phạt nầy. Yếu tố nầy chúng ta đă thấy nằm trong trường hợp của mê tín dị đoan. Từ những nhận xét trên, nhiều người không khỏi đi đến kết luận rằng tôn giáo chỉ là những tập hợp của một số mê tín đă được hệ thống hóa lại. Nói chung, tôn giáo thường là các tổ chức có chính sách truyền bá với kế hoạch và quy củ chặt chẽ trong khi mê tín dị đoan thường chỉ là những “kiến thức” truyền miệng trong dân gian. Yếu tố khác biệt nầy làm cho nhiều người trong chúng ta không thấy được là cả hai đều liên quan rất mật thiết với nhau từ nguồn gốc cho đến cách vận hành. Tôn giáo thay đổi với thời gian. Những thay đổi trong tôn giáo thường cần thiết để đáp ứng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, với nhu cầu đời sống của xă hội, và có khi với áp lực chính trị bên trong cũng như bên ngoài tổ chức tôn giáo. Nhờ có luật lệ, quy củ rơ rệt, những thay đổi trong tôn giáo thường xảy ra tương đối nhanh chóng. Thí dụ như sau nhiều thế kỷ truyền dạy theo lời Kinh Thánh rằng mặt đất là một mặt phẳng, khi phải đối diện với bằng chứng khoa học không thể chối cải được, Ṭa Thánh đă ban lệnh là từ đó mọi người phải tin rằng mặt đất thật ra có dạng một quả cầu. Thí dụ như hôn nhân đă từng được coi là một giao kèo bất di bất dịch giữa hai người trước mặt Thiên Chúa; sự ly thân của hai vợ chồng, bất cứ v́ lư do ǵ, là một tội nghiêm trọng không thể tha thứ được. Ngày nay, với lề lối sinh sống và quan niệm t́nh cảm hiện đại của đa số tín đồ, Ṭa Thánh cũng đă phải sửa đổi cái nh́n về vấn đề nầy; nhờ vậy mà ly dị không c̣n là một tội lỗi đáng bị trừng phạt bởi Thiên Chúa nữa. Mê tín dị đoan, trên mặt khác, thường ít thay đổi; hoặc nếu có th́ cũng chỉ với một tốc độ rất chậm. Như đă nói, mê tín dị đoan thường chỉ được thực hành ở lănh vực cá nhân hơn là một cách tập thể, công khai, với văn bản, luật lệ hẳn hoi như trong trường hợp tôn giáo. Người ta thường dễ dàng chấp nhận hơn nếu một mê tín không chạy theo kịp kiến thức khoa học kỹ thuật hay quan niệm xă hội. V́ không có tổ chức, cơ cấu, ban điều hành, v.v. như tôn giáo, mê tín dị đoan thường không cần lo lắng đến việc có thể bị chỉ trích công khai bởi báo chí, dư luận, nhà cầm quyền, v.v. V́ không có những áp lực chính trị nầy, mê tín dị đoan tương đối được “bỏ lơ” để tồn tại không thay đổi mấy từ thế kỷ nầy qua thế kỷ nọ. Mê tín dị đoan có thể gây ra phiền phức, tốn kém cho cá nhân và xă hội. Những phiền phức, tốn kém nầy thường tương đối nhỏ hẹp và giới hạn. Tuy nhiên, v́ tôn giáo thường có tổ chức công khai, cơ cấu chặt chẽ, hàng ngũ rơ rệt, tài chính dồi dào, uy quyền to lớn nên ảnh hưởng của tôn giáo có thể nghiêm trọng và sâu rộng rất nhiều cho cá nhân và xă hội. Có người nói “tôn giáo vô hại cho đến khi có kẻ trở thành mù quáng v́ nó”. Rất ít trường hợp một cá nhân hay tập đoàn tàn sát một cá nhân hay tập đoàn khác v́ họ bất đồng ư với nhau về ư nghĩa của một điều mê tín ǵ đó. Tuy nhiên, lịch sử đă có biết bao nhiêu trang đẫm máu chỉ v́ những bất đồng ư kiến về cách giảng giải khác nhau về vài chi tiết trong kinh sách tôn giáo. |
| ||||
| Nói chung, tùy một người tin vào những ǵ mà một hành động, một hiện tượng đối với người đó có thể là mê tín dị đoan hay tín ngưỡng chính đáng. Tŕnh độ giáo dục, bằng cấp văn hóa, kiến thức kỹ thuật không chắc có thể đem đến khả năng chống cự lại ảnh hưởng của mê tín dị đoan. Chúng ta đă từng thấy bác sĩ, kỹ sư, bác học, triết gia, v.v. cũng vui vẻ tuân theo các điều mê tín không khác ǵ những người buôn bán, chạy xe ôm hay ăn xin ngoài đầu chợ. Viên chức cao cấp trong tổ chức chính trị hay lănh tụ quốc gia cũng không miễn nhiễm trong vấn đề nầy. Tất cả đều ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp công khai thi hành những thủ tục “cần thiết” nầy hàng ngày mà không hề thắc mắc. |